200+ đề đọc hiểu Văn 12 | Luyện đề đọc hiểu lớp 12 80+ Đề đọc hiểu Truyện ngắn - Luyện đề đọc hiểu Văn 12

Đọc hiểu Lời hứa của thời gian (Nguyễn Quang Thiều) | Luyện đề đọc hiểu Văn 12


Rồi vợ ông mang thai, ông ôm vợ và nói: “Chúng mình sẽ có một thằng con trai. Vùng đồi này sẽ có thêm một người trồng thông”.

Câu hỏi

Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi:

(Tóm tắt: Lời hứa thời gian của Nguyễn Quang Thiều kể về nhân vật chính là ông Miêng. Sau chiến tranh, ông ở lại đồi thông để trồng thông kín cả những quả đồi, nơi mà cả tiểu đội đã hy sinh hết chỉ còn mình ông. Ông Miêng nhận phải bi kịch thời hậu chiến. Ông nhiễm chất độc màu da cam, con ông sinh ra cũng bị nhiễm chất độc đó và không thể sống được lâu. Sau khi đứa bé qua đời, người vợ đã chờ đợi ông trong những năm chiến tranh, nay không chịu đựng nổi và bỏ ông để đi theo người khác. Ông quen Hoa – cô y tá đã chăm sóc ông trong thời gian ông bệnh. Nhưng hy vọng hạnh phúc vừa nhen nhóm lên trong đời ông Miêng đã nhanh chóng vụt tắt, đấy là khi Hoa cuốc phải quả mìn còn sót trong chiến tranh và qua đời. Nỗi đau cũ còn chưa nguôi thì nỗi đau mới lại chồng lên người cựu chiến binh. Ông chấp nhận số phận, không oán trách hay hờn giận. Phần cuối truyện, con của vợ cũ đến tìm cha theo lời trăn trối của mẹ. Ông sống cùng con của vợ cũ. Đứa con trai mang đến cho ông hơi ấm cuộc đời trong những tháng ngày sắp tới.)

[…]

Rồi vợ ông mang thai, ông ôm vợ và nói: “Chúng mình sẽ có một thằng con trai. Vùng đồi này sẽ có thêm một người trồng thông”. Nhưng ngày vợ ông sinh là ngày khủng khiếp nhất trong đời ông. Đứa bé không thành người. Nó chết ngay sau khi được sinh ra... Ông chôn đứa bé trên đỉnh đồi nơi cả tiểu đội của ông đã nằm ở đó. Những ngày sau đó thỉnh thoảng ông để cho vợ đánh chiếc xe trâu lọc cọc về thị xã chơi với người quen cho khuây khỏa. Còn ông lại lao vào trồng thông từ sáng đến tối... Ông quyết liệt trồng thông phủ kín những quả đồi và quyết liệt có con. Vợ ông mỗi ngày một ít nói và đánh xe trâu về thị xã nhiều hơn... Chị đã bỏ ông, bỏ vùng đồi đi theo một người đàn ông khác mà chị gặp và trở nên thân thiết trong những lần đánh xe trâu về thị xã. (...)

Đêm đó, ông lên cơn sốt thật. Trong cơn mê man, ông thấy đồng đội ông ôm súng nằm phủ kín những quả đồi. Ông đi lang thang trên những quả đồi và gọi tên đồng đội. Không ai trả lời ông. Tất cả đã yên nghỉ mãi mãi trên những quả đồi kia. Ông nằm bệt trên giường hai ngày liền. Một nhân viên của trạm cây giống lên thăm ông. Thấy ông ốm, anh ta vội đón một nữ y tá đến thăm bệnh và chăm sóc ông. Mấy ngày sau ông khỏi và lại đánh xe đến trạm cây giống lấy thông con. Ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt. Lúc nào đói thì nấu ăn, lúc nào mệt thì nằm ngủ, không theo quy luật nào cả.

Cứ khoảng một tháng, ông Miêng lại đánh xe về thị xã. Sau khi mua sắm những thứ cần thiết cho sinh hoạt và công việc, ông ghé qua nhà quen của vợ chồng ông. “Có thấy cô ấy về đây không?” Khi gặp người quen, ông thường hỏi câu đó. Người đàn bà nhìn ông vừa ái ngại vừa như có lỗi và lắc đầu. Và trước khi bước lên xe để trở về ông đều nói: “Có gặp vợ tôi thì bảo với cô ấy là tôi vẫn đợi cô ấy”.

(Trích Lời hứa của thời gian, Nguyễn Quang Thiều, Mùa hoa cải bên sông, NXB Hội nhà văn, 2012)

Câu 1

Xác định ngôi kể trong văn bản

Xem lời giải
Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức về ngôi kể của người kể chuyện để xác định

Lời giải chi tiết

Ngôi kể trong văn bản là ngôi thứ ba.

Giải thích:

Người kể chuyện không trực tiếp tham gia vào câu chuyện mà gọi nhân vật bằng tên “ông Miêng”, “vợ ông”, “người đàn bà”, đồng thời thuật lại những hành động, suy nghĩ và hoàn cảnh của nhân vật.

Mở rộng

Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.

Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Câu 2

Xác định đề tài của văn bản

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định nhân vật, hoàn cảnh và những vấn đề được tập trung phản ánh xuyên suốt văn bản, từ đó khái quát thành đề tài.

Lời giải chi tiết

Đề tài của văn bản là: Số phận con người thời hậu chiến.

Giải thích:

Cuộc đời ông Miêng sau chiến tranh phải chịu nhiều mất mát: con chết vì di chứng chất độc màu da cam, vợ bỏ đi, Hoa qua đời vì bom mìn còn sót lại. Những bi kịch ấy cho thấy chiến tranh dù đã kết thúc nhưng vẫn để lại những hậu quả dai dẳng đối với con người.

Mở rộng

- Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản. Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác của tác giả.

- Một số ví dụ về đề tài:

+ Đề tài của truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao) là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

+ Đề tài của Truyện Kiều (Nguyễn Du) là cuộc đời và số phận bất hạnh của người phụ nữ trong bối cảnh xã hội phong kiến thối nát.

- Cách xác định đề tài: Căn cứ vào nội dung văn bản để xác định văn bản đang đề cập tới khía cạnh, vấn đề nào của đời sống. 

Link tham khảo: Đề tài (Từ điển tiếng Việt)

Câu 3

Nêu tác dụng của phép tu từ liệt kê trong đoạn văn sau

Đêm đó, ông lên cơn sốt thật. Trong cơn mê man, ông thấy đồng đội ông ôm súng nằm phủ kín những quả đồi. Ông đi lang thang trên những quả đồi và gọi tên đồng đội. Không ai trả lời ông. Tất cả đã yên nghỉ mãi mãi trên những quả đồi kia. Ông nằm bệt trên giường hai ngày liền. Một nhân viên của trạm cây giống lên thăm ông. Thấy ông ốm, anh ta vội đón một nữ y tá đến thăm bệnh và chăm sóc ông. Mấy ngày sau ông khỏi và lại đánh xe đến trạm cây giống lấy thông con. Ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt. Lúc nào đói thì nấu ăn, lúc nào mệt thì nằm ngủ, không theo quy luật nào cả.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ để xác định và phân tích tác dụng

Lời giải chi tiết

- Phép liệt kê: "ông thấy đồng đội...; ông đi lang thang trên những quả đồi....; ông nằm bệt trên giường....”

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh lối sống buông thả, bất cần.

+ Thể hiện tâm trạng đau khổ, bế tắc của ông Miêng.

Giải thích:

Các hành động được liệt kê cho thấy ông Miêng lúc thì mê man gọi tên đồng đội, lúc nằm bệt vì bệnh, lúc lại lao vào trồng thông từ sáng đến tối. Sự nối tiếp ấy vừa cho thấy nỗi đau và sự cô độc, vừa thể hiện việc ông không ngừng lao động để tiếp tục cuộc sống dù đã chịu quá nhiều mất mát.

Mở rộng

Liệt kê là biện pháp tu từ mà người nói, người viết kể ra nhiều sự vật, sự việc, hoạt động, tính chất, trạng thái,... trong cùng một câu, một đoạn để tạo nên ấn tượng mạnh, hiệu quả cao trong miêu tả, kể chuyện hoặc biểu lộ tình cảm, cảm xúc.

Link tham khảo: Biện pháp tu từ Liệt kê

Câu 4

Phân tích hiệu quả của điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn sau:

"Cứ khoảng một tháng, ông Miêng lại đánh xe về thị xã. Sau khi mua sắm những thứ cần thiết cho sinh hoạt và công việc, ông ghé qua nhà quen của vợ chồng ông. “Có thấy cô ấy về đây không?” Khi gặp người quen, ông thường hỏi câu đó. Người đàn bà nhìn ông vừa ái ngại vừa như có lỗi và lắc đầu. Và trước khi bước lên xe để trở về ông đều nói: “Có gặp vợ tôi thì bảo với cô ấy là tôi vẫn đợi cô ấy”."

Xem lời giải
Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức về điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện để phân tích

Lời giải chi tiết

Điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn là điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri

- Hiệu quả:

+ Người kể có khả năng "thấy" và "biết" tất cả: không chỉ miêu tả hành động bên ngoài mà còn thấu hiểu cả thái độ, cảm xúc của người đàn bà

+ Điều này tạo nên một cái nhìn vừa khách quan, vừa thấu cảm. Người đọc không chỉ chứng kiến sự kiện mà còn hiểu được sự đồng cảm, xót thương ẩn sau những chi tiết miêu tả. Qua đó, hình ảnh một ông Miêng thủy chung, giàu lòng vị tha và nỗi đau thầm lặng của ông hiện lên một cách sâu sắc và đầy ám ảnh.

Giải thích:

Người kể tập trung quan sát những việc ông Miêng làm mỗi lần về thị xã, đặc biệt là câu hỏi “Có thấy cô ấy về đây không?” và lời nhắn “tôi vẫn đợi cô ấy”. Những chi tiết này trực tiếp làm nổi bật sự chờ đợi và lòng thủy chung của ông. Đồng thời, thái độ “ái ngại”, “như có lỗi” của người đàn bà càng làm nổi bật hoàn cảnh đáng thương của nhân vật.

Mở rộng

- Điểm nhìn nghệ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ vị trí quan sát của người kể chuyện trong tương quan với nhân vật, sự việc được trần thuật 

- Tuỳ trường hợp, câu chuyện có thể được kể theo điểm nhìn từ ngôi thứ ba hoặc thứ nhất, điểm nhìn của người kể hoặc của nhân vật,...

+ Người kể ngôi thứ nhất (hạn tri): là nhân vật trong truyện, xưng “tôi”

+ Người kể ngôi thứ ba (toàn tri): không phải nhân vật trong truyện, không xưng tôi 

Link tham khảo: Điểm nhìn và cách xác định điểm nhìn nghệ thuật

Câu 5

Thông điệp nào có ý nghĩa nhất với anh/chị qua văn bản trên? Vì sao?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Gợi ý: Sức mạnh của sự kiên cường và lòng nhân hậu.

Lời giải chi tiết

Với em, thông điệp sâu sắc nhất từ câu chuyện chính là sức mạnh của lòng kiên cường và tình yêu thương trong việc chữa lành những vết thương cuộc sống. Dù phải hứng chịu quá nhiều mất mát và đau khổ, nhưng ông Miêng vẫn âm thầm sống với lời hứa, giữ trọn tấm lòng thủy chung và không ngừng lao động. Sự kiên cường ấy, xuất phát từ một trái tim nhân hậu, đã giúp ông vượt lên bi kịch và cuối cùng tìm thấy hơi ấm bình yên. Câu chuyện của ông nhắc nhở chúng ta rằng, dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu, chỉ cần giữ vững niềm tin và lòng yêu thương, con người ta vẫn có thể tìm thấy ý nghĩa và hạnh phúc đích thực.

Giải thích:

Ông Miêng liên tiếp mất con, mất vợ rồi mất cả Hoa, nhưng ông không buông xuôi. Sau khi ốm, ông “lại trồng thông từ sáng đến tối mịt”; mỗi tháng ông vẫn trở về thị xã hỏi tin vợ và nhắn rằng “tôi vẫn đợi cô ấy”. Những hành động ấy cho thấy dù chịu nhiều tổn thương, ông vẫn giữ tình nghĩa và tìm cách tiếp tục cuộc sống. Vì vậy, văn bản nhắc nhở con người cần có nghị lực, tình yêu thương và niềm tin để không bị những biến cố của cuộc đời đánh gục.

Mở rộng

Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.

Link tham khảo: Thông điệp là gì?


Bình chọn:
3.6 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 12 - Xem ngay

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...