Đọc hiểu Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) | Luyện đề đọc hiểu Văn 12


Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ(1) mới có mặt trời.

Câu hỏi

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ(1) mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh (…)

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt (2) bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lạt ngửa bụng thuyền ra.

Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biển đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới (…)

Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này (…). Mặt sông trắng xoá càng làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tuỳ theo sở thích tự động của đá to đá bé. Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn.

(Trích tùy bút Người lái đò sông Đà- Nguyễn Tuân, sgk 12, NXB GD 2006, tr 186, 187, 188)

* Chú thích:

- (1) Đúng ngọ: giữa trưa.

- (2)Đòi nợ xuýt: đòi người không mắc nợ mình một cách vô lí.

Câu 1

Xác định thể loại của văn bản trên?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc và vận dụng kiến thức đã học về các thể loại.

Lời giải chi tiết

Thể loại văn bản: Tùy bút/ kí.

Giải thích: Tùy bút là một thể loại văn xuôi thuộc loại hình kí, nổi bật với tính chất tự do, giàu cảm xúc và đậm chất trữ tình. Tác giả dùng tùy bút để ghi chép lại sự việc, hiện tượng có thật, qua đó bộc lộ trực tiếp cái "tôi" suy tư, cảm xúc và những nhận xét về cuộc đời.

Câu 2

Trong văn bản, nhắc đến những địa danh nào?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc và xác định các địa danh.

Lời giải chi tiết

Văn bản nhắc đến những địa danh: Sông Đà, mặt ghềnh Hát Loóng, Sơn La, Tà Mường Vát.

Câu 3

Phân tích tác dụng biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh trong câu văn sau: “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”

Xem lời giải
Phương pháp giải

Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hóa và nêu tác dụng.

Lời giải chi tiết

- Biện pháp tu từ

+ Nhân hóa: (thở, kêu, bị sặc)

+ So sánh: “Nước thở và kêu - như cửa cống cái bị sặc”

- Tác dụng:

+ Giúp cho câu văn sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình gợi cảm, giàu liên tưởng.

+ Khẳng định sức mạnh, cường lực dữ dội của hút nước của sông Đà, gợi liên tưởng đến vẻ đẹp hoang sơ, kì vĩ của dòng sông….

+ Qua đó, cho thấy khả năng quan sát tài hoa và sự am hiểu về đặc tính dữ dội của dòng sông…

Câu 4

Nêu hình dung của anh/ chị về cái tôi tác giả trong đoạn văn bản trên?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Phân tích, bình luận.

Lời giải chi tiết

Hình dung về cái tôi tác giả:

+ Am hiểu sông nước, đặc tính của sông Đà.

+ Sống gắn bó, dành tình yêu với vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại đối với sông nước quê hương.

+ Có khả năng quan sát, miêu tả sông Đà sinh động….

+ Bộc lộ cái Tôi cá tính sáng tạo và có vốn tri thức uyên bác.

Câu 5

Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?

Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành.

(Người lái đò sông Đà- Nguyễn Tuân)

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

(Nhớ con sông quê hương- Tế Hanh)

Xem lời giải
Phương pháp giải

Liên hệ, phân tích, bình luận.

Lời giải chi tiết

Hai ngữ liệu có sự tương đồng về ý nghĩa:

+ Khắc họa, tái hiện hình dung về hình ảnh sông nước quê hương.

+ Ca ngượi vẻ đẹp hùng vĩ hoặc êm đềm của dòng sông quê hương.

+ Khẳng định vẻ đẹp đặc trưng của mỗi dòng sông của đất nước…

Đoạn văn tham khảo:

Hai ngữ liệu trên tuy viết bằng hai thể loại khác nhau nhưng đều có sự tương đồng sâu sắc trong việc khắc họa và tái hiện vẻ đẹp của những dòng sông quê hương. Ở ngữ liệu thứ nhất, Nguyễn Tuân bằng ngòi bút tài hoa đã làm nổi bật vẻ đẹp hùng vĩ, kỳ vĩ của sông Đà qua hình ảnh những vách đá bờ sông dựng đứng thành vách. Trong khi đó, Tế Hanh lại mang đến một cảm xúc hoàn toàn khác biệt bằng những câu thơ ngọt ngào, ca ngợi vẻ đẹp êm đềm, trong trẻo và thanh bình của con sông quê hương gắn liền với hàng tre xanh. Qua đó, cả hai tác giả đều khẳng định vẻ đẹp độc đáo, đặc trưng riêng biệt của mỗi dòng sông trên dải đất hình chữ S. Đồng thời, những dòng viết ấy cũng chính là tiếng lòng ngợi ca, bày tỏ tình yêu tha thiết và niềm tự hào vô bờ bến của các nhà văn, nhà thơ đối với cảnh sắc thiên nhiên đất nước.

 


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 12 - Xem ngay

Group 2K8 ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...