content-pc content-tablet content-mobile
1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ lục bát

Viết bài văn phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Thương Nam Khương


I. Mở bài - Giới thiệu tác giả và tác phẩm: + Đinh Nam Khương là nhà thơ có nhiều sáng tác tinh tế, đong đầy cảm xúc về tình cảm gia đình, quê hương. + Bài thơ "Về thăm mẹ" là bức tranh chân thực, xúc động về hình ảnh người mẹ nghèo và tình mẫu tử thiêng liêng, sâu lắng.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

+ Đinh Nam Khương là nhà thơ có nhiều sáng tác tinh tế, đong đầy cảm xúc về tình cảm gia đình, quê hương.

+ Bài thơ "Về thăm mẹ" là bức tranh chân thực, xúc động về hình ảnh người mẹ nghèo và tình mẫu tử thiêng liêng, sâu lắng.

- Nêu khái quát cảm nhận về bài thơ: Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc qua khung cảnh quê nhà bình dị và nỗi niềm nghẹn ngào, xót xa mà yêu thương của người con khi trở về thăm mẹ.

II. Thân bài

1. Khái quát chung

- Hoàn cảnh: Người con trở về thăm mẹ vào một buổi chiều đông giá lạnh.

- Cảm xúc chủ đạo: Sự hụt hẫng, ngạc nhiên ban đầu, để rồi chuyển hóa thành niềm thương cảm, xót xa tột cùng qua những chi tiết rất đỗi đời thường.

2. Tâm trạng và không gian khi con bước chân về nhà (Khổ 1)

- Thời điểm và không gian: "Chiều đông", "Bếp chưa lên khói", "mẹ không có nhà" Khung cảnh vắng lặng, quạnh hiu, gợi lên sự cô đơn, hiu hắt của ngôi nhà và bóng dáng người mẹ tần tảo.

- Tâm trạng của con:

+ "Mình con thơ thẩn vào ra": Từ láy "thơ thẩn" diễn tả sự ngơ ngác, hụt hẫng khi không thấy mẹ đón chào.

+ "Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi": Cơn mưa bất chợt như hòa nhịp với tâm trạng ngổn ngang, chạnh lòng của người con.

3. Bức tranh sinh hoạt qua những vật dụng quen thuộc (Khổ 2 & Khổ 3)

- Hình ảnh đồ vật gợi bóng dáng mẹ:

+ Chum tương mẹ đã đậy rồi: Sự chu đáo, cẩn thận của người mẹ trong việc nhà.

+ Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa / Áo tơi qua buổi cày bừa / Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm: Những vật dụng gắn liền với công việc đồng áng (nón mê, áo tơi) giờ đây cũ kỹ, rách rưới, hỏng hóc, phải khoác hờ lên người rơm.

+ Biện pháp nhân hóa và nghệ thuật ẩn dụ: Đồ vật vô tri nhưng mang nỗi nhọc nhằn, vất vả, dãi dầu mưa nắng của đời mẹ.

- Sự sống sinh động nhưng nghèo khó:

+ Đàn gà mới nở vàng ươm / Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành: Điểm nhấn sinh động duy nhất nhưng lại gắn liền với chiếc nơm đã hỏng, cho thấy hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn.

+ Trái na cuối vụ mẹ dành phần con: Hình ảnh cảm động nhất. Quả na dân dã, cuối vụ không bán mà được mẹ giữ lại để phần con => Tấm lòng yêu thương, hy sinh thầm lặng của mẹ dành cho con dù ở bất cứ độ tuổi nào.

4. Niềm xúc động nghẹn ngào của người con (Khổ 4)

- Câu thơ bộc lộ cảm xúc trực tiếp: "Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn..." => Dấu chấm lửng (...) như khoảng lặng để người con nuốt nghẹn cảm xúc vào trong.

- Tổng kết chiều sâu ý nghĩa: "Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày." => Tình mẫu tử không nằm ở những điều lớn lao, cao cả mà kết tinh từ những chi tiết nhỏ nhặt, bình dị nhất của đời sống. Con thấu hiểu trọn vẹn sự hy sinh, tuổi già vất vả của mẹ để rồi dâng trào lòng biết ơn, xót xa.

5. Đánh giá nghệ thuật

- Thể thơ năm chữ ngắn gọn, nhịp thơ linh hoạt phù hợp với giọng điệu tâm tình, thủ thỉ.

- Ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất dân dã, hình ảnh thơ gần gũi, chân thực.

- Biện pháp tu từ (nhân hóa, ẩn dụ) và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc.

III. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị: Bài thơ "Về thăm mẹ" là một khúc ca trầm lắng về tình mẫu tử, đánh thức lòng biết ơn sâu sắc trong tâm hồn mỗi người con đối với đấng sinh thành.

- Bài học liên hệ: Nhắc nhở bản thân luôn trân trọng từng phút giây bên mẹ, biết ơn những hy sinh thầm lặng mà mẹ dành cho gia đình.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Bài thơ "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương là một khúc ca trầm lắng, xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng. Chỉ qua vài nét phác họa, tác giả đã tái hiện thành công hình ảnh người mẹ nghèo tần tảo và nỗi lòng nghẹn ngào của người con khi trở về thăm nhà.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh quạnh hiu, vắng lặng của ngôi nhà trong một buổi chiều đông:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Bước chân trở về của người con không gặp nụ cười đón chào hay làn khói bếp ấm áp, mà đối diện với sự trống trải. Từ láy "thơ thẩn" diễn tả sự hụt hâng, ngác ngơ, kết hợp với cơn mưa bất chợt ("bỗng òa mưa rơi") như trút cả nỗi niềm ngổn ngang, chạnh lòng vào không gian.

Không gian ấy càng thêm hoang vắng khi hiện lên qua những vật dụng cũ kỹ, mòn mỏi theo thời gian:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Nhà thơ sử dụng nghệ thuật nhân hóa vô cùng tinh tế. Chiếc nón mê, chiếc áo tơi vốn là vật vô tri giờ đây như mang nỗi nhọc nhằn, dãi dầu mưa nắng của đời mẹ. Giữa cái nghèo khó ấy, điểm sáng duy nhất là sự sống sinh động của "đàn gà mới nở vàng ươm / Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành". Đặc biệt, hình ảnh "trái na cuối vụ mẹ dành phần con" chính là đỉnh điểm của sự xúc động. Trái na dân dã, nhỏ nhoi chứa đựng biết bao tình yêu thương và sự chắt chiu thầm lặng của mẹ.

Khép lại bài thơ là những vần thơ đong đầy cảm xúc:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Dấu chấm lửng cùng từ "nghẹn ngào", "rưng rưng" đã gói gọn tất cả sự thấu hiểu, lòng biết ơn sâu sắc. "Về thăm mẹ" không chỉ là nỗi nhớ nhung da diết mà còn là bài học nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng từng phút giây bên đấng sinh thành.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Tình mẫu tử luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca Việt Nam. Viết về đề tài quen thuộc ấy, bài thơ "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương vẫn có một sức hút kỳ lạ nhờ những chi tiết nghệ thuật chân thực, đậm đà hồn quê và dạt dào cảm xúc nhân văn.

Ngay từ khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã đưa người đọc vào một không gian đượm buồn và cô quạnh:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Sự chờ đợi hụt hẫng của người con khi nhà vắng bóng mẹ, kết hợp cùng thời tiết khắc nghiệt "chiều đông" và cơn mưa bất chợt đã tạo nên một thứ tâm trạng ngổn ngang. Cảnh vật như đồng điệu với nỗi niềm chạnh lòng, cô đơn của người con xa quê.

Sang phần tiếp theo, bức tranh đời sống của người mẹ nghèo hiện lên thật xót xa qua những hình ảnh bình dị:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Những vật dụng gắn liền với lao động như nón mê, áo tơi nay đã rách nát, cũ kỹ phải khoác hờ lên người rơm. Hình ảnh thơ gợi lên một cuộc đời tảo tần, vất vả đến tận những năm tháng tuổi già. Thế nhưng, giữa sự thiếu thốn ấy, tình mẫu tử lại tỏa sáng ấm áp qua chi tiết:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng ươm bên chiếc nơm hỏng vành vẽ nên bức tranh sinh động. Đáng quý nhất là quả na cuối vụ không bán, không ăn mà được mẹ nâng niu để phần đứa con xa. Chi tiết ấy nhỏ bé nhưng chứa đựng tấm lòng bao la, sự quan tâm chu đáo đến từng sở thích của con.

Bài thơ khép lại bằng một nốt trầm sâu lắng:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Tình cảm thiêng liêng đôi khi không cần bắt nguồn từ những điều lớn lao. Chỉ bằng một buổi về thăm nhà, qua những vật dụng và trái na cuối mùa, tác giả đã đánh thức trong lòng người đọc tình yêu thương và sự kính trọng vô bờ bến dành cho những người mẹ tảo tần.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Đinh Nam Khương là một nhà thơ tinh tế trong việc khai thác những khía cạnh bình dị của đời sống để chạm đến cảm xúc sâu kín nhất của con người. Bài thơ "Về thăm mẹ" là một tác phẩm như thế, mang đến cho người đọc những rung động rưng rưng về sự hy sinh thầm lặng của mẹ.

Bài thơ mở ra với bối cảnh chuyến về thăm nhà bất ngờ nhưng đầy hụt hẫng:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Không có tiếng gọi cười, không có làn khói bếp nghi ngút, người con chỉ thấy ngôi nhà vắng bóng mẹ trong cái lạnh chiều đông. Từ "thơ thẩn" và hình ảnh "trời... bỗng òa mưa rơi" diễn tả rất đạt tâm trạng ngỡ ngàng, buồn tủi và trống trải của người con khi nhận ra mẹ vẫn đang tất bật lo toan đâu đó ngoài đồng.

Nỗi niềm xót xa ấy càng được nhân lên gấp bội khi người con quan sát kỹ từng góc nhỏ trong ngôi nhà nghèo:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Bằng biện pháp nhân hóa tài tình, chiếc nón mê và chiếc áo tơi cũ kỹ hiện lên như chứng nhân cho cuộc đời nhọc nhằn, dãi dầu sương gió của mẹ. Nỗi vất vả hằn in lên từng đồ vật vô tri. Dù vậy, không gian sống vẫn có sự hiện diện của sự sống và tình mẫu tử ấm áp:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Giữa bộn bề nhọc nhằn, quả na cuối mùa được mẹ chắt chiu, dành dụm để phần con chính là biểu tượng đẹp nhất cho tình mẫu tử thiêng liêng. Mẹ có thể thiếu thốn đủ điều, nhưng tình yêu thương dành cho con thì luôn đong đầy, trọn vẹn.

Hai câu thơ cuối chính là tiếng lòng nghẹn ngào của nhà thơ cũng là nỗi niềm chung của triệu người con trên thế gian:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Bài thơ thành công nhờ thể thơ năm chữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi. "Về thăm mẹ" không chỉ là bức tranh hoài niệm mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng hiếu thảo, trân trọng những hy sinh thầm lặng mà mẹ dành cho mỗi chúng ta suốt cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 1

Có những bài thơ không cần một câu chữ quá đỗi hoa mỹ vẫn có thể khiến lòng người chùng xuống. Bởi cái làm nên sức lay động của chúng không nằm ở sự cầu kỳ mà ở khả năng đánh thức những ký ức tưởng đã ngủ quên. “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương là một bài thơ như vậy. Chỉ từ một lần trở về nhà trong buổi chiều mùa đông, chỉ từ một căn bếp chưa lên khói và vài vật dụng cũ kỹ, nhà thơ đã mở ra trước mắt người đọc cả một thế giới của tình mẫu tử. Mẹ không xuất hiện trực tiếp trong bài thơ, nhưng bóng dáng mẹ lại phủ lên từng cảnh vật, từng đồ vật, từng khoảng trống. Càng đọc, ta càng nhận ra một nghịch lý đầy xúc động: mẹ càng vắng mặt, hình bóng mẹ càng trở nên hiện hữu.

Bài thơ bắt đầu bằng một cuộc trở về:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Chỉ một chữ “về” đã mang theo cả một thế giới tình cảm. Người con không phải “đến” thăm mẹ mà là “về” thăm mẹ. “Về” là trở lại nơi thuộc về mình, nơi có mái nhà, có hơi ấm và có người mẹ thân thương. Nhưng cuộc trở về ấy lại gặp một khoảng trống: “mẹ không có nhà”. Câu thơ ngắn, bình dị mà khiến không gian bỗng rộng ra bởi thiếu vắng.

Hình ảnh “bếp chưa lên khói” là một nét chấm phá đặc biệt. Trong văn hóa gia đình Việt Nam, bếp không đơn thuần là nơi nấu ăn. Bếp là hơi ấm, là nhịp sống, là nơi mẹ âm thầm chăm chút cho những người thân yêu. Vì thế, bếp chưa lên khói đồng nghĩa với việc căn nhà đang thiếu đi linh hồn quen thuộc. Người con “thơ thẩn vào ra”, bước chân như không tìm được điểm dừng. Cái trống trải của căn nhà đã chuyển thành cái trống trải trong lòng người.

Rồi trời bỗng mưa. “Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.” Từ “oà” khiến cơn mưa trở nên có hồn, giống như một tiếng khóc bất chợt bật ra sau những phút cố nén. Có thể đó chỉ là một cơn mưa của thiên nhiên, nhưng trong thế giới nghệ thuật của bài thơ, mưa đã trở thành tiếng vọng của tâm trạng. Người con không khóc, nhưng đất trời dường như khóc cùng người con.

Trong căn nhà vắng, ký ức về mẹ được đánh thức qua những vật bình thường nhất:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Nếu mẹ là một ngôi sao xa xôi, người con sẽ chỉ có thể ngước nhìn. Nhưng mẹ ở đây lại gần gũi đến mức hiện hữu trong từng vật dụng. “Chum tương”, “nón mê”, “áo tơi” là những hình ảnh đậm màu sắc thôn quê. Chúng mang theo mùi của đất, của mưa, của những buổi đồng áng và của một đời lao động.

Đặc biệt, chiếc “nón mê” được nhân hóa: “xưa đứng nay ngồi dầm mưa”. Cái nón không còn chỉ là vật dụng mà trở thành một nhân chứng lặng lẽ của thời gian. Ngày xưa nó theo mẹ, còn hôm nay nó ở lại một mình dưới mưa. Câu thơ gợi một cảm giác xót xa rất nhẹ mà thấm. Còn “áo tơi” từng đi qua “buổi cày bừa”, từng cùng mẹ vượt qua những nhọc nhằn của đồng ruộng, giờ chỉ “khoác hờ” lên người rơm. Cái áo vẫn còn đó nhưng người mặc đã vắng bóng. Vật còn mà người vắng, bởi thế cảnh vật cũng nhuốm màu thương nhớ.

Từ những dấu vết của lao động, bài thơ chuyển sang những sinh linh bé nhỏ trong khu vườn:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

“Đàn gà mới nở vàng ươm” khiến bức tranh quê bỗng sáng lên. Sự sống vẫn tiếp diễn dù con người đang vắng mặt. Đàn gà nhỏ chạy quanh “một cái nơm hỏng vành” tạo nên một khung cảnh bình dị đến nao lòng. Nhà thơ không tìm kiếm cái đẹp ở những cảnh sắc tráng lệ mà phát hiện vẻ đẹp trong những điều tưởng như rất đỗi tầm thường.

Và rồi “trái na cuối vụ” xuất hiện như một điểm sáng của tình mẹ. Một trái na nhỏ bé nhưng chứa đựng biết bao yêu thương. “Mẹ dành phần con” – chỉ bốn chữ mà như chạm vào một miền ký ức rất sâu. Mẹ thường vậy: luôn để dành cho con phần ngon nhất, dù chẳng cần nói thành lời. Khi con còn bé, có thể con nhận trái ngọt ấy như một điều hiển nhiên. Nhưng khi trưởng thành và trở về, con mới hiểu rằng đằng sau một trái na là cả một tấm lòng.

Từ “bất ngờ” cũng thật đắt. Người con bắt gặp trái na ấy như bắt gặp chính tình yêu của mẹ đang nằm lặng lẽ giữa khu vườn. Mẹ không có nhà, nhưng mẹ đã để lại tình yêu của mình trong từng góc nhỏ. Sự vắng mặt của mẹ vì thế không làm tình mẹ mất đi; ngược lại, nó khiến tình mẹ hiện lên rõ hơn bao giờ hết.

Hai câu cuối giống như giọt nước cuối cùng làm đầy chiếc bình cảm xúc:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Điệp cảm xúc “nghẹn ngào”, “rưng rưng” không mang tính bi lụy mà là sự rung động tự nhiên của một trái tim vừa nhận ra điều thân thuộc. Người con thương mẹ “nhiều hơn” sau khi nhìn những điều giản đơn. Đây chính là tư tưởng đẹp nhất của bài thơ: tình yêu lớn lao đôi khi không được tạo nên bởi những khoảnh khắc phi thường, mà được dệt bằng hàng nghìn điều bình dị lặp lại mỗi ngày.

Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật lấy cái nhỏ để nói cái lớn. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp người mẹ mà để mẹ hiện ra qua “bếp”, “chum tương”, “nón mê”, “áo tơi”, “người rơm”, “đàn gà”, “trái na”. Đây là cách biểu đạt tinh tế, bởi tình mẹ vốn không cần phô bày. Mẹ giống như hương khói trong căn bếp: không nhìn thấy rõ nhưng luôn khiến ta nhận biết sự hiện diện của một mái nhà.

“Về thăm mẹ” vì vậy giống như một buổi chiều chậm rãi trong miền quê ký ức. Có mưa rơi ngoài hiên, có chiếc nón cũ, có chiếc áo tơi bạc màu và có một trái na cuối vụ nằm lặng trên cành. Tất cả cùng kể một câu chuyện không lời về mẹ. Đọc bài thơ, ta chợt hiểu rằng trong hành trình lớn lên, có những điều ta từng xem là bình thường lại chính là những điều quý giá nhất. Một bữa cơm mẹ nấu, một món quà mẹ để dành, một tiếng gọi trong căn nhà, một làn khói bếp... đến khi xa rồi mới thấy đó là cả một miền thương nhớ.

Bài thơ khép lại nhưng dư âm vẫn còn ở lại. Đó là dư âm của lòng biết ơn, của nỗi nhớ và của một tình mẫu tử không cần nói thành lời. “Về thăm mẹ” nhắc mỗi chúng ta biết nâng niu những gì thân thuộc khi còn có thể. Bởi đôi khi, điều khiến con người rưng rưng nhất không phải một câu chuyện lớn lao, mà chỉ là khoảnh khắc ta đứng giữa căn nhà quen, nhìn một trái cây mẹ để dành và bất chợt nhận ra: mẹ đã gửi cả một đời yêu thương vào những điều giản dị nhất.

Bài tham khảo Mẫu 2

Thơ ca viết về mẹ bao giờ cũng dễ chạm đến trái tim bởi trong ký ức của mỗi con người, mẹ thường gắn với những gì gần gũi nhất. Đó có thể là một mái nhà, một bếp lửa, một món ăn, một mảnh vườn hay một bàn tay âm thầm chăm sóc. Nhưng để biến những điều quen thuộc ấy thành thơ, người nghệ sĩ cần một cái nhìn đủ tinh tế để nhận ra ý nghĩa ẩn sau những điều bình thường. Trong “Về thăm mẹ”, Thạch Nam Khương đã làm được điều đó. Bài thơ không có những lời ca ngợi trực tiếp về công lao của mẹ, cũng không xây dựng một câu chuyện bi thương. Nhà thơ chỉ kể lại một lần người con trở về trong buổi chiều đông, mẹ vắng nhà, và từ những cảnh vật thân quen, tình mẫu tử dần hiện lên. Chính nghệ thuật lấy “cái vắng” để làm nổi bật “cái hiện diện” đã tạo nên chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm.

Bốn câu thơ mở đầu đặt người con vào một không gian vừa quen vừa lạnh:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Thời gian “chiều đông” không chỉ có giá trị tả thực mà còn mang sắc thái biểu cảm. Chiều vốn là thời điểm ngày sắp khép lại; đông lại là mùa của giá lạnh. Hai yếu tố ấy kết hợp tạo thành một phông nền trầm lắng cho cuộc trở về. Người con trở về nhưng mẹ lại vắng nhà. Câu thơ “Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà” có cấu trúc gần như một lời nói tự nhiên, nhưng phía sau đó là một sự liên tưởng sâu sắc: khi mẹ vắng, bếp cũng mất đi hơi ấm.

Hình ảnh bếp là hình ảnh trung tâm của mái ấm gia đình. Bởi vậy, “bếp chưa lên khói” không đơn thuần cho biết mẹ chưa về. Nó còn gợi cảm giác thiếu hụt, trống vắng. Từ “thơ thẩn” diễn tả bước chân vô định của người con. Con không làm gì cả, chỉ “vào ra”, như thể muốn tìm mẹ trong từng góc nhỏ của căn nhà.

Đặc biệt, câu thơ “Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi” tạo nên sự giao hòa giữa cảnh và tình. Cơn mưa “bỗng oà” khiến thiên nhiên mang dáng dấp con người. Nó giống như một tiếng khóc bất ngờ bật ra từ sự kìm nén. Người con chưa trực tiếp nói mình buồn, nhưng cơn mưa đã nói hộ nỗi lòng. Đây là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình quen thuộc trong thơ ca nhưng được thể hiện bằng một ngôn ngữ giản dị, gần với lời ăn tiếng nói đời thường.

Nếu khổ thơ đầu tập trung vào sự vắng mặt của mẹ thì khổ thơ thứ hai lại cho thấy một cách rất tinh tế rằng mẹ tuy không xuất hiện nhưng đã in dấu vào mọi vật:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Có thể nói đây là khổ thơ giàu giá trị tạo hình nhất của tác phẩm. Một loạt hình ảnh đời thường nối tiếp nhau: “chum tương”, “nón mê”, “áo tơi”, “người rơm”. Những vật dụng ấy gắn với đời sống nông nghiệp, với công việc và với sự tần tảo của người mẹ. Nhà thơ không cần nói “mẹ vất vả” mà chỉ cần đưa ra chiếc áo tơi đã từng đi qua “buổi cày bừa”. Không cần nói “mẹ chịu nhiều nắng mưa”, bởi chiếc nón mê “dầm mưa” đã tự kể câu chuyện của nó.

Cách nhân hóa trong câu “Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa” khiến chiếc nón trở thành một nhân vật đặc biệt. “Xưa” và “nay” tạo nên chiều sâu thời gian. Xưa, chiếc nón gắn với mẹ; nay, nó nằm lại trong sự vắng lặng. Còn “áo tơi” từng che chở cho mẹ nay “khoác hờ” lên người rơm. Từ “lủn củn” nghe rất đời thường, thậm chí có phần vụng về, nhưng chính sự mộc mạc ấy lại làm cảnh vật chân thực. Không có sự trau chuốt xa cách, bài thơ giữ nguyên hơi thở của đời sống quê nhà.

Khổ thơ thứ ba tiếp tục mở rộng không gian từ căn nhà ra khu vườn:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

“Đàn gà mới nở vàng ươm” là hình ảnh của sự sống. Trong khi người con cảm nhận sự trống vắng, thiên nhiên vẫn sinh sôi. Đàn gà con chạy quanh chiếc nơm cũ, tạo nên một bức tranh quê nhỏ bé, bình dị. “Nơm hỏng vành” không phải một hình ảnh đẹp theo quan niệm thông thường, nhưng trong ký ức của người con, nó lại thân thương vô cùng. Điều này cho thấy cảm xúc đã làm thay đổi cách nhìn: những gì bình thường nhất cũng trở nên quý giá khi gắn với mẹ.

Đáng chú ý nhất là hình ảnh “trái na cuối vụ mẹ dành phần con”. Đây chính là chi tiết kết tinh chủ đề của bài thơ. Một trái na không có giá trị vật chất lớn, nhưng nó chứa đựng giá trị tinh thần vô cùng lớn. “Cuối vụ” gợi sự ít ỏi, còn “dành phần con” gợi sự ưu ái. Trong cách yêu của mẹ, con luôn có một phần được giữ lại. Mẹ có thể không nói “mẹ nhớ con”, nhưng mẹ để dành trái ngọt cho con. Tình yêu ấy không cần lời tuyên bố; nó tồn tại trong hành động âm thầm.

Cụm từ “bất ngờ rụng” cũng rất đáng chú ý. Trái na rơi xuống đúng lúc người con trở về, như một tín hiệu vô thức của ký ức. Thiên nhiên trong bài thơ vì thế không đơn thuần là phông nền mà trở thành một phần của cảm xúc. Mỗi vật đều có khả năng đánh thức ký ức về mẹ.

Sau hàng loạt hình ảnh cụ thể, hai câu cuối đưa cảm xúc từ cảnh vật trở về với con người:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Dấu ba chấm sau “nhiều hơn...” như kéo dài sự nghẹn ngào. Người con dường như không thể nói tiếp. Bao nhiêu điều nhìn thấy trong căn nhà, khu vườn đã dồn tụ thành một niềm thương. Đặc biệt, câu thơ “Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày” có thể xem là chìa khóa tư tưởng của toàn bài. Tình yêu mẹ không được đánh thức từ một biến cố dữ dội mà từ những chuyện “giản đơn thường ngày”. Chính những điều ta thường xem là nhỏ bé lại chứa đựng những giá trị tình cảm lớn lao.

Thành công của bài thơ còn đến từ thể thơ lục bát mềm mại, giàu nhạc tính, kết hợp với ngôn ngữ đời thường và hệ thống hình ảnh đậm chất nông thôn Việt Nam. Những từ ngữ như “thơ thẩn”, “nón mê”, “áo tơi”, “lủn củn”, “vàng ươm” tạo nên một giọng thơ tự nhiên, gần gũi. Bên cạnh đó, các biện pháp nhân hóa, tả cảnh ngụ tình, đối lập giữa “xưa – nay”, “có mẹ – vắng mẹ” giúp cảm xúc được triển khai tự nhiên mà sâu sắc.

Điều đáng quý nhất của “Về thăm mẹ” là bài thơ không biến tình mẫu tử thành một điều quá xa xôi. Tác giả đưa tình mẹ trở lại đúng nơi nó vốn thuộc về: căn bếp, mảnh vườn, chiếc nón, chiếc áo, đàn gà và trái cây mẹ để dành. Mẹ không cần xuất hiện bằng một chân dung cụ thể; mẹ hiện diện qua dấu tay trên những vật dụng, qua nếp sống, qua những món quà nhỏ bé dành cho con.

Bởi thế, đọc bài thơ, người đọc không chỉ thương người con trong khoảnh khắc trở về mà còn có thể bắt gặp chính mình trong đó. Có những yêu thương khi còn ở cạnh ta thường xem là bình thường. Chỉ đến lúc đứng giữa một căn nhà vắng, nhìn một vật quen thuộc, ta mới hiểu rằng điều bình thường ấy từng là hạnh phúc. “Về thăm mẹ” vì thế giống như một lời nhắc nhẹ mà sâu: hãy biết yêu thương khi còn có thể, hãy biết nhìn thật lâu vào những điều thân thuộc, bởi đôi khi cả một đời yêu thương của mẹ đã được gửi vào một làn khói bếp, một chiếc áo cũ hay một trái na cuối mùa.

Khép lại bài thơ, cái còn đọng lại không phải chỉ là nỗi buồn của một buổi chiều mưa mà là vẻ đẹp bền bỉ của tình mẫu tử. Mẹ có thể vắng trong một căn nhà, nhưng tình mẹ thì không bao giờ vắng. Nó ở lại trong từng dấu vết nhỏ bé của đời sống và âm thầm lớn lên trong trái tim người con. Chính vì thế, từ “chuyện giản đơn thường ngày”, nhà thơ đã làm bật lên một chân lý tình cảm lớn lao: những gì bình dị nhất đôi khi lại chính là những điều ta thương nhớ suốt cả cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 3

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có những lúc ta đi thật xa để rồi một ngày chợt muốn trở về. Trở về với mái nhà đã từng ôm lấy tuổi thơ, với khoảng sân thân thuộc, với mùi khói bếp vương trên mái tóc và với bóng dáng người mẹ lặng lẽ đứng chờ nơi hiên cửa. Nhưng đôi khi, điều khiến một cuộc trở về trở nên ám ảnh không phải là khoảnh khắc gặp gỡ mà chính là lúc ta nhận ra người mình mong gặp lại không có ở đó. Khi ấy, căn nhà vẫn nguyên vẹn, cảnh vật vẫn thân quen, nhưng mọi thứ bỗng trở nên im lặng đến nao lòng. Bài thơ “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương đã ghi lại một khoảnh khắc như thế. Chỉ bằng những hình ảnh hết sức bình dị của một miền quê, tác giả đã làm sống dậy bóng hình người mẹ và khiến tình mẫu tử lan ra từ những điều nhỏ bé nhất.

Ngay từ nhan đề “Về thăm mẹ”, bài thơ đã mở ra một thế giới tình cảm đặc biệt. “Về” không đơn thuần là một chuyển động trong không gian mà còn là sự trở lại của tâm hồn. Con trở về nơi có mẹ, nơi đã nuôi dưỡng mình qua năm tháng. Thế nhưng, cuộc trở về ấy lại bắt đầu bằng một khoảng trống:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

“Chiều đông” vốn đã mang trong nó cái lạnh và vẻ trầm buồn của thời gian. Giữa nền trời ấy, người con trở về với mong mỏi được gặp mẹ, nhưng “mẹ không có nhà”. Chỉ một câu thơ ngắn mà căn nhà dường như rộng thêm, lạnh thêm. Đặc biệt, nhà thơ không viết “mẹ chưa về” mà viết “mẹ không có nhà”, tạo nên một cảm giác vắng lặng rõ rệt. Sự vắng mặt của mẹ không chỉ là sự thiếu hụt một con người mà còn là sự thiếu hụt hơi ấm của cả mái ấm.

“Bếp chưa lên khói” là một hình ảnh giàu sức gợi. Bếp vốn là nơi kết tụ hơi ấm gia đình, nơi người mẹ gửi vào những bữa cơm cả sự chăm chút và tình yêu. Khói bếp vì thế không chỉ là dấu hiệu của một căn nhà đang có người mà còn là biểu tượng của sự sống gia đình. Khi bếp chưa lên khói, người con cảm nhận được sự trống vắng trước cả khi kịp gọi tên nỗi nhớ.

Bước chân người con cũng vì thế mà “thơ thẩn vào ra”. Hai chữ “thơ thẩn” tưởng nhẹ tênh nhưng lại chất chứa biết bao hụt hẫng. Người con không biết làm gì, không biết tìm kiếm điều gì ngoài việc đi qua đi lại trong chính căn nhà của mình. Và rồi:

“Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Cơn mưa đến đột ngột như một tiếng khóc. Thiên nhiên dường như có linh hồn, biết sẻ chia với con người. “Oà” vốn là từ thường dùng để diễn tả tiếng khóc bật ra bất ngờ, nay được đặt cạnh “mưa rơi” khiến cơn mưa như mang theo tâm trạng của người con. Cảnh vật không còn đứng ngoài cảm xúc mà hòa tan vào nỗi nhớ.

Từ khoảng trống của căn nhà, ánh nhìn của người con bắt đầu dừng lại ở những vật dụng đã quá quen thuộc:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Mẹ không xuất hiện nhưng dấu vết của mẹ lại hiện diện khắp nơi. “Chum tương”, “nón mê”, “áo tơi” đều là những vật bình thường, thậm chí cũ kỹ, nhưng chính sự cũ kỹ ấy lại khiến ký ức về mẹ trở nên chân thực. Đó là những đồ vật đã từng đồng hành với mẹ trong cuộc sống lao động.

“Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa” là một câu thơ đặc biệt. Chiếc nón được nhân hóa, có tư thế “đứng”, “ngồi”, có số phận “dầm mưa”. Nhưng phía sau chiếc nón là một người mẹ đã từng đội nó để che nắng, chắn mưa. Cách nói “xưa – nay” khiến khoảng cách thời gian hiện lên rõ rệt. Xưa là mẹ và chiếc nón cùng nhau đi qua những mùa đồng áng; nay chỉ còn chiếc nón ở lại.

Đến chiếc áo tơi, câu chuyện về mẹ lại hiện lên trong một nét chấm phá khác:

“Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Chiếc áo tơi đã từng theo mẹ qua những buổi cày bừa vất vả. Nó chứng kiến mồ hôi, nắng gió và những nhọc nhằn của cuộc đời lao động. Nhưng giờ đây, chiếc áo chỉ còn “khoác hờ” lên người rơm. Một con người từng làm nên sức sống cho cảnh vật giờ chỉ còn được gợi lại qua những dấu tích vô tri. Chính sự đối lập giữa “đã từng” và “giờ còn” khiến nỗi thương mẹ càng thấm sâu.

Nếu khổ thơ thứ hai là miền ký ức về sự tảo tần thì khổ thơ thứ ba lại là miền yêu thương:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Bức tranh quê hiện lên thật nhỏ bé: đàn gà con, chiếc nơm cũ, một trái na cuối vụ. Không có gì lớn lao nhưng tất cả đều có linh hồn bởi chúng nằm trong không gian của mẹ.

Đặc biệt, hình ảnh “trái na cuối vụ mẹ dành phần con” khiến bài thơ bỗng lắng xuống. Một trái na không quý giá về vật chất, nhưng trong tình mẹ, nó là một món quà được nâng niu. “Cuối vụ” nghĩa là chẳng còn bao nhiêu trái trên cây, vậy mà mẹ vẫn giữ lại một phần cho con. Cách mẹ yêu con thường như vậy: âm thầm, không phô bày, chẳng cần những lời đẹp đẽ. Mẹ chỉ lặng lẽ để dành cho con một trái ngọt, một miếng ngon, một điều tốt đẹp.

Có lẽ chính khoảnh khắc bắt gặp trái na ấy đã khiến mọi cảm xúc dồn lại:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Hai chữ “nghẹn ngào” và “rưng rưng” không chỉ diễn tả nỗi xúc động mà còn cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức của người con. Khi trở về, người con không chỉ nhìn thấy những đồ vật cũ mà còn nhìn thấy cả một đời mẹ ở phía sau chúng. Mẹ đã dành cho con bao nhiêu điều mà ngày trước con vô tình coi là hiển nhiên.

Đặc biệt, câu thơ “Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày” chính là nơi tư tưởng của bài thơ kết tinh. Tác giả không tìm tình mẹ trong những điều phi thường. Tình mẹ nằm trong chính những việc nhỏ bé lặp đi lặp lại mỗi ngày. Mẹ yêu con bằng cách nấu một bữa cơm, cất một món quà, để dành một trái cây, mặc chiếc áo tơi ra đồng. Những điều tưởng như nhỏ nhoi ấy lại trở thành những ký ức lớn lao nhất khi con người trưởng thành.

Về nghệ thuật, bài thơ hấp dẫn bởi thể thơ lục bát mềm mại, ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi với đời sống nông thôn. Nhà thơ đặc biệt thành công khi không miêu tả trực tiếp mẹ mà để mẹ hiện lên qua những “vật chứng” của tình yêu. Mẹ càng không xuất hiện, người đọc càng cảm thấy mẹ có mặt ở khắp nơi.

“Về thăm mẹ” vì thế không chỉ là câu chuyện của một người con mà còn là tiếng lòng chung của những ai từng có một mái nhà để trở về. Bài thơ nhắc ta rằng có những tình yêu không ồn ào, không rực rỡ, nhưng lại bền bỉ theo ta suốt cuộc đời. Mẹ chính là tình yêu như thế. Mẹ gửi mình vào những điều rất nhỏ, để rồi một ngày con trở về, chỉ một làn khói bếp chưa bay lên, một chiếc nón cũ hay một trái na cuối vụ cũng đủ khiến lòng người rưng rưng.

Có lẽ điều đẹp nhất mà bài thơ để lại chính là sự thức tỉnh ấy: hãy biết trân trọng những điều bình dị khi chúng vẫn còn ở bên mình, bởi có những yêu thương chỉ khi vắng đi, ta mới hiểu chúng đã từng lớn lao đến nhường nào.

Bài tham khảo Mẫu 4

Có những buổi chiều trong đời người chỉ trôi qua như một hạt mưa nhỏ, nhưng có những buổi chiều lại ở lại rất lâu trong ký ức. Đó là khi ta trở về một nơi thân thuộc, bước qua cánh cửa cũ, nhìn thấy những đồ vật từng gắn bó với tuổi thơ và bất chợt nhận ra người ta mong chờ nhất lại không ở đó. Khi ấy, căn nhà vẫn là căn nhà năm nào, mảnh vườn vẫn có cây trái, đàn gà vẫn ríu rít, nhưng thiếu đi một bóng người mà tất cả bỗng trở nên khác lạ. “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương là một bài thơ được viết từ một khoảnh khắc như thế. Không có những biến cố dữ dội, bài thơ chỉ có một người con trở về trong chiều đông, một người mẹ vắng nhà và những dấu vết của mẹ nằm lặng lẽ trong không gian. Thế nhưng từ những điều bình thường ấy, cả một trời thương nhớ đã ngân lên.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, tác giả đã tạo dựng một không gian vừa thực vừa thấm đẫm tâm trạng:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Câu thơ “Con về thăm mẹ chiều đông” giống như một bước chân trở về sau hành trình dài. Hai chữ “thăm mẹ” nghe thân thương biết bao. Người con trở về không phải để tìm kiếm một điều gì xa xôi mà chỉ để được gặp mẹ. Nhưng niềm mong đợi ấy lập tức rơi vào khoảng lặng khi “mẹ không có nhà”.

Trong căn nhà ấy, thứ đầu tiên người con nhận ra là “bếp chưa lên khói”. Khói bếp vốn mong manh, có thể tan vào trời chiều chỉ trong phút chốc, nhưng lại là một trong những dấu hiệu thân thuộc nhất của mái ấm. Có khói bếp là có mẹ, có bữa cơm, có một người đang chờ đợi. Bếp chưa lên khói khiến căn nhà giống như thiếu mất nhịp thở.

Người con “thơ thẩn vào ra”. Không gian vật chất không thay đổi nhưng không gian tâm hồn đã thay đổi. Cái “vào ra” ấy giống như một vòng tròn không có điểm dừng, biểu hiện cho một nỗi nhớ không biết đặt vào đâu. Và rồi trời “bỗng oà mưa rơi”. Mưa dường như không chỉ rơi từ bầu trời mà còn rơi xuống từ một miền xúc cảm. Cơn mưa bất ngờ trở thành tiếng lòng của người con.

Trong màn mưa ấy, những đồ vật cũ lần lượt hiện ra như những mảnh ký ức:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Nếu người mẹ không xuất hiện trực tiếp, nhà thơ lại để mẹ hiện lên qua những dấu vết mà mẹ để lại. “Chum tương” gợi đôi bàn tay khéo léo và sự chu đáo. “Nón mê” gợi những ngày đội nón ra đồng. “Áo tơi” gợi những buổi cày bừa giữa mưa nắng. Tất cả đều là những vật dụng rất đỗi bình thường nhưng chứa trong đó bóng dáng của một đời người.

Câu thơ “Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa” đặc biệt gợi cảm. Chiếc nón dường như cũng biết nhớ. “Xưa” chiếc nón theo mẹ đi qua những ngày lao động; “nay” chiếc nón chỉ còn lặng lẽ trong mưa. Cách nhân hóa khiến đồ vật mang dáng dấp con người, đồng thời khiến người mẹ hiện lên càng rõ qua sự vắng mặt.

Chiếc áo tơi cũng vậy. Nó từng “qua buổi cày bừa”, từng cùng mẹ đối diện với đất trời. Nhưng bây giờ, nó chỉ còn “khoác hờ” lên người rơm. Hình ảnh ấy gợi cảm giác về thời gian: những gì thuộc về quá khứ vẫn còn đó nhưng người đã đổi khác. Cái áo còn mà bàn tay từng mặc nó dường như đã hóa thành ký ức.

Từ mái nhà, ánh nhìn người con trôi ra mảnh vườn:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Bức tranh hiện lên trong trẻo hơn. Đàn gà con “vàng ươm” mang theo màu nắng của sự sống. Chiếc nơm “hỏng vành” chẳng đẹp đẽ gì nhưng lại là một phần của cuộc sống nơi quê nhà. Và giữa những hình ảnh bình dị ấy, trái na xuất hiện.

“Trái na cuối vụ” là hình ảnh nhỏ nhưng mang sức nặng cảm xúc lớn. Đó là thứ quả còn sót lại sau một mùa cây trái. Nó có thể chỉ là một trái cây bình thường, nhưng việc “mẹ dành phần con” đã biến nó thành biểu tượng của tình mẫu tử. Mẹ luôn dành cho con một phần. Khi con còn nhỏ, có thể con nhận điều ấy một cách vô tư. Nhưng khi trở về, nhìn thấy trái na vẫn được giữ lại, người con mới hiểu rằng mình chưa bao giờ vắng khỏi tâm trí mẹ.

Tình mẹ trong bài thơ không phải một tình yêu được nói thành lời. Nó giống như hương thơm của trái chín: âm thầm lan tỏa, đến khi nhận ra thì đã bao phủ cả không gian. Mẹ yêu con bằng những việc rất nhỏ, và chính những việc nhỏ ấy lại là thứ ở lại lâu nhất trong ký ức.

Vì thế, cảm xúc cuối bài bật lên tự nhiên:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Câu thơ như một tiếng thở dài. Người con “thương mẹ nhiều hơn” không phải vì mẹ vừa làm một điều phi thường, mà vì sau một lần trở về, con nhìn thấy những gì trước đây mình từng coi là bình thường. Có những tình yêu chỉ khi nhìn lại ta mới hiểu hết. Có những hy sinh không bao giờ được kể ra, nhưng lại nằm trong từng vật dụng cũ.

Câu thơ “Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày” chính là vẻ đẹp tư tưởng của toàn bài. Nhà thơ đã nâng những điều bé nhỏ lên thành những giá trị lớn lao. Một cái bếp, một chiếc nón, một chiếc áo, một đàn gà, một trái na – tất cả đều có thể trở thành thơ khi chúng mang hơi ấm của tình người.

Bài thơ cũng thành công ở nghệ thuật xây dựng hình ảnh. Nhà thơ không trực tiếp tả mẹ nhưng người đọc vẫn có thể hình dung một người mẹ nông thôn tảo tần, chịu thương chịu khó qua những vật dụng lao động. Cách sử dụng những từ ngữ đời thường như “thơ thẩn”, “lủn củn”, “vàng ươm”, “hỏng vành” khiến bài thơ có một vẻ đẹp tự nhiên, không son phấn. Thể lục bát càng làm lời thơ trở nên mềm mại như một câu hát quê nhà.

Có thể nói, “Về thăm mẹ” là một bài thơ của những khoảng trống. Khoảng trống của người mẹ vắng nhà, khoảng trống trong căn bếp chưa lên khói, khoảng trống giữa “xưa” và “nay”. Nhưng chính những khoảng trống ấy lại làm tình mẹ đầy lên trong tâm tưởng. Mẹ không đứng trước mắt người con mà hiện diện trong từng dấu vết. Mẹ không nói một lời mà tình yêu vẫn vang lên từ trái na cuối vụ.

Đọc bài thơ, ta như nghe thấy tiếng mưa rơi bên mái nhà cũ, nhìn thấy chiếc nón mê lặng lẽ dầm mưa và bắt gặp một trái na nằm lại trên cành. Những hình ảnh ấy khiến người đọc chợt muốn trở về. Không nhất thiết phải trở về một nơi chốn cụ thể, mà trở về với những người từng yêu thương ta bằng sự âm thầm.

Bởi sau cùng, điều khiến con người rưng rưng không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao. Đôi khi chỉ là một món quà mẹ để dành, một bếp lửa chưa nhóm, một chiếc áo cũ hay một khoảng sân vắng. Những điều bé nhỏ ấy chính là những hạt bụi vàng của ký ức. Và “Về thăm mẹ” đã nhặt từng hạt bụi vàng ấy để dệt thành một bài thơ dịu dàng về tình mẫu tử – thứ tình yêu lặng im mà sâu đến tận đáy lòng người.

Bài tham khảo Mẫu 5

Nếu ký ức của con người là một căn phòng rộng, có lẽ mẹ luôn là người hiện diện trong những góc nhỏ nhất của căn phòng ấy. Mẹ có thể không phải lúc nào cũng đứng trước mắt ta, nhưng bóng dáng mẹ thường nằm trong một bữa cơm, một chiếc áo, một món quà được cất dành, một câu dặn dò tưởng như rất đỗi bình thường. Đến khi trưởng thành, con người mới nhận ra rằng những điều từng xem là hiển nhiên lại chính là những gì quý giá nhất. “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương đã chạm đến miền ký ức ấy bằng một giọng thơ giản dị mà sâu xa. Không miêu tả trực tiếp chân dung người mẹ, tác giả để mẹ hiện ra qua sự vắng mặt và qua những vật dụng thân thuộc. Chính nghệ thuật ấy đã khiến bài thơ mang một vẻ đẹp lặng lẽ, càng đọc càng thấm.

Bài thơ mở ra bằng một cuộc trở về trong buổi chiều mùa đông:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Ngay câu thơ đầu, người đọc đã bắt gặp một nghịch lý: “về thăm mẹ” nhưng lại không gặp mẹ. Sự trở về vốn gắn với đoàn tụ, nhưng ở đây lại dẫn đến cảm giác cô đơn. “Chiều đông” khiến nền cảnh vốn đã lạnh, nay càng lạnh hơn bởi sự vắng bóng của mẹ. Nếu “chiều” là thời khắc ngày đang đi về phía bóng tối thì “đông” là mùa của giá lạnh. Hai nét thời gian ấy cộng hưởng, tạo nên một không gian phù hợp với trạng thái tâm hồn của người con.

Trong không gian ấy, “bếp chưa lên khói” trở thành một chi tiết có sức ám ảnh. Bếp là nơi tạo ra thức ăn nhưng cũng là nơi tạo ra hơi ấm của gia đình. Hình ảnh bếp gắn với mẹ như một biểu tượng của sự chăm sóc và sum vầy. Vì vậy, “bếp chưa lên khói” không chỉ là một thông tin về thời gian mà còn là dấu hiệu của sự thiếu vắng. Người con chưa nhìn thấy mẹ nhưng đã cảm nhận được mẹ không ở đây qua sự im lặng của căn bếp.

Cảm giác ấy được cụ thể hóa trong câu thơ “Mình con thơ thẩn vào ra”. Đại từ “mình” khiến cái cô độc trở nên rõ nét. Không phải “con” chung chung mà là “mình con” – chỉ còn một người giữa căn nhà vốn từng có hơi ấm. Động tác “vào ra” lặp lại không mục đích tạo cảm giác bâng khuâng, ngơ ngẩn. Đến khi “trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi”, ngoại cảnh như đã đồng hiện với nội tâm. Mưa “oà” xuống đột ngột giống một tiếng khóc bật ra từ lòng người. Thiên nhiên không chỉ được nhìn thấy mà còn được cảm nhận bằng trái tim.

Từ sự vắng mặt của mẹ, người con bắt đầu “đọc” những dấu vết của mẹ trong căn nhà:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Đây là một cách xây dựng hình tượng mẹ rất đặc sắc: không cần mẹ xuất hiện, nhà thơ vẫn khiến người đọc hình dung được mẹ. Những đồ vật được lựa chọn đều mang tính biểu tượng cho đời sống nông nghiệp và sự tảo tần. “Chum tương” gợi bàn tay chăm chút; “nón mê” gợi những ngày nắng mưa; “áo tơi” gợi những buổi cày bừa. Mỗi đồ vật như một mảnh ghép của chân dung mẹ.

Nếu nhìn sâu hơn, có thể thấy tác giả đang sử dụng nghệ thuật “tả vật để tả người”. Chẳng hạn, nhà thơ không trực tiếp viết mẹ đã từng vất vả ngoài đồng, mà chỉ cần nhắc:

“Áo tơi qua buổi cày bừa”

Chiếc áo trở thành nhân chứng cho những tháng ngày lao động. Hai chữ “qua buổi” không chỉ chỉ một lần lao động mà gợi cả một chuỗi ngày tháng. Người mẹ đã đi qua bao nhiêu buổi cày bừa như thế? Câu thơ không trả lời, nhưng khoảng trống ấy khiến người đọc tự hình dung.

Đặc biệt, hình ảnh:

“Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa”

mang một vẻ đẹp buồn. “Xưa” và “nay” là hai điểm thời gian đặt cạnh nhau, tạo cảm giác về sự trôi chảy của đời sống. Chiếc nón ngày trước từng có chủ nhân, nay chỉ còn nằm đó dưới mưa. Cách nhân hóa “đứng – ngồi” khiến vật vô tri mang dáng dấp của một con người đang chờ đợi. Dường như không chỉ người con nhớ mẹ mà chính những vật dụng trong nhà cũng “nhớ” bàn tay từng sử dụng chúng.

Đến khổ thơ thứ ba, không gian trở nên sinh động hơn:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Đàn gà con là hình ảnh của sự sống đang tiếp tục. Trong khi người con chìm trong cảm giác vắng mẹ, khu vườn vẫn vận động theo nhịp riêng. Nhưng chính giữa sự sống ấy, người con lại phát hiện ra một dấu hiệu của tình yêu.

“Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Đây có thể xem là câu thơ quan trọng nhất của tác phẩm. “Trái na” vốn là một hình ảnh nhỏ bé; “cuối vụ” lại càng gợi sự ít ỏi. Thế nhưng nó trở nên đặc biệt bởi bốn chữ “mẹ dành phần con”. Tình mẹ được vật chất hóa trong một trái cây. Không phải món quà quý giá, không phải thứ gì sang trọng, chỉ là một trái na nhưng nó mang dấu ấn của sự chờ đợi và yêu thương.

“Mẹ dành phần con” cũng gợi một nét đẹp rất đặc trưng của tình mẫu tử: mẹ thường nhận phần thiệt về mình và để dành phần tốt đẹp cho con. Trong đời sống, có thể người mẹ chẳng bao giờ nói ra điều ấy. Mẹ cứ lặng lẽ làm, lặng lẽ chờ, lặng lẽ để dành. Và đến khi người con trở về, tất cả những điều lặng lẽ ấy bất ngờ hiện lên.

Vì vậy, cảm xúc ở cuối bài không phải là sự thương cảm đơn thuần mà là sự thức tỉnh:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Dấu ba chấm sau “nhiều hơn” khiến câu thơ như bị ngắt lại bởi cảm xúc. Có những điều càng yêu thương càng khó nói thành lời. Người con đã nhìn thấy mẹ trong những vật vô tri, nhìn thấy sự tảo tần trong chiếc áo tơi, nhìn thấy sự chu đáo trong chum tương và nhìn thấy tình yêu trong trái na cuối vụ.

Đặc biệt, “rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày” chính là một quan niệm nghệ thuật đẹp về tình cảm. Nhà thơ không cần những biến cố lớn để tạo nên sự xúc động. Ông tìm thấy chiều sâu trong những điều bình thường. Đây cũng chính là sức mạnh của văn chương: làm cho con người biết nhìn lại những điều quen thuộc bằng một ánh mắt mới.

Về phương diện nghệ thuật, bài thơ có sức hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa thể lục bát truyền thống và ngôn ngữ đời thường. Các từ ngữ như “thơ thẩn”, “lủn củn”, “hỏng vành”, “vàng ươm” tạo nên màu sắc dân dã, chân thực. Hình ảnh thơ không xa lạ mà đều bắt nguồn từ đời sống nông thôn. Đặc biệt, nghệ thuật nhân hóa và tả cảnh ngụ tình đã khiến cảnh vật mang theo tâm trạng. Cơn mưa không chỉ là mưa, chiếc nón không chỉ là chiếc nón, trái na không chỉ là trái na. Mỗi hình ảnh đều chứa một phần ký ức về mẹ.

Bởi vậy, “Về thăm mẹ” không chỉ là bài thơ nói về nỗi nhớ mẹ. Sâu xa hơn, đó là bài thơ về khả năng của ký ức: khi một người vắng mặt, những gì họ từng chạm vào bỗng trở thành nơi lưu giữ sự hiện diện. Người mẹ không đứng giữa bài thơ bằng một chân dung cụ thể, nhưng lại hiện diện trong toàn bộ không gian nghệ thuật. Mẹ ở trong bếp, trong chiếc nón, trong áo tơi, trong khu vườn và trong trái na cuối mùa.

Có lẽ vì thế mà sau khi đọc bài thơ, điều còn lại trong lòng người đọc không phải là một nỗi buồn nặng nề mà là một cảm giác biết ơn. Ta biết ơn những người mẹ đã dành cả đời cho những điều rất nhỏ; biết ơn những căn nhà luôn mở cửa chờ con; biết ơn những trái ngọt được giữ lại dù chẳng ai yêu cầu.

“Về thăm mẹ” giống như một tiếng gọi rất khẽ từ miền ký ức. Nó khiến ta hiểu rằng tình yêu lớn lao nhất đôi khi không có hình dáng rõ ràng. Nó chỉ là một làn khói bếp, một chiếc nón cũ, một chiếc áo tơi và một trái na được đặt phần cho con. Nhưng chính những điều nhỏ bé ấy lại có thể theo con người suốt cả cuộc đời. Và khi một ngày ta trở về, đứng giữa căn nhà thân thuộc, có lẽ ta cũng sẽ hiểu vì sao chỉ từ một “chuyện giản đơn thường ngày”, trái tim lại có thể nghẹn ngào, rưng rưng và thương một người nhiều hơn tất cả những lời nói có thể diễn tả.

Bài tham khảo Mẫu 6

Mỗi khúc ca viết về mẹ đều mang trong mình những dư vị nghẹn ngào, bởi ở đó có một tình yêu thiêng liêng và bất tử nhất của cuộc đời. Bằng một tâm hồn nhạy cảm và ngòi bút tinh tế, nhà thơ Đinh Nam Khương đã vẽ nên bức tranh "Về thăm mẹ" vừa đượm buồn, vừa ấm áp tình người. Bài thơ không khai thác những đề tài cao siêu, mà chọn điểm tựa từ một chiều đông heo may, qua đó đánh thức những rung động sâu kín nhất trong tâm hồn mỗi người con xa xứ về đấng sinh thành.

Khoảnh khắc đầu tiên của chuyến trở về mang theo một dư vị hụt hẫng đến nao lòng:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Buổi chiều đông hiện lên qua cái lạnh thấu xương và không gian vắng lặng đến rợn ngợp. Ngôi nhà nhỏ thiếu vắng hơi ấm của mẹ, bếp chưa nổi lửa, khung cảnh quạnh quẽ bao trùm. Từ láy "thơ thẩn" diễn tả trọn vẹn nỗi ngác ngơ, bơ vơ của người con khi không thấy mẹ đón chào ở bậc cửa quen thuộc. Thiên nhiên dường như cũng đồng điệu với tâm trạng con người; bầu trời đang yên bình bỗng "òa mưa rơi". Cơn mưa ấy không chỉ là hiện tượng thời tiết bất chợt, mà dường như là giọt nước mắt chạnh lòng, là sự bùng nổ của những cảm xúc ngổn ngang trong sâu thẳm tâm can người con khi đối diện với sự cô đơn của mẹ.

Nỗi niềm xót xa ấy càng được đẩy lên đến đỉnh điểm khi người con lặng ngắm từng góc nhỏ trong ngôi nhà nghèo khó, nơi hằn in bóng dáng tần tảo của mẹ suốt cuộc đời:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa vô cùng sắc sảo. Những vật dụng quen thuộc của nhà nông như chiếc nón mê, chiếc áo tơi nay đã rách nát, cũ kỹ, phải khoác hờ lên người rơm trong mưa gió. Chúng không còn là những đồ vật vô tri mà đã hóa thân thành những chứng nhân lặng thầm, chịu đựng sương gió, gánh chịu nhọc nhằn thay cho tấm thân gầy guộc của mẹ. Cuộc đời mẹ là một chuỗi ngày dầm mưa dãi nắng, lam lũ nhọc nhằn từ năm tháng này qua năm tháng khác.

Thế nhưng, giữa bức tranh nghèo khó và đượm buồn ấy, sự sống vẫn cựa quậy, sinh sôi và tỏa sáng thứ tình mẫu tử thiêng liêng:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng rúc rích quanh chiếc nơm hỏng vành tạo nên nét vẽ sinh động duy nhất, le lói chút ấm áp giữa căn nhà trống trải. Và đỉnh điểm của cảm xúc dồn nén lại đọng lại ở câu thơ: "Trái na cuối vụ mẹ dành phần con". Một trái na nhỏ bé, dân dã cuối mùa, chẳng đáng là bao nhưng lại chứa đựng tấm lòng chắt chiu, yêu thương vô bờ bến của mẹ. Mẹ có thể ăn kham mặc khổ, có thể nhịn đói nhịn khát, nhưng những gì ngọt ngào nhất, trọn vẹn nhất thì luôn dành dụm cho đứa con bé bỏng, dù con nay đã trưởng thành.

Khép lại bài thơ là một nốt trầm nghẹn ngào, lắng đọng vào tận cùng tâm khảm:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Dấu chấm lửng như một khoảng lặng của tiếng thở dài, của giọt nước mắt chực trào. Tình cảm gia đình đôi khi không cần bắt nguồn từ những điều vĩ đại, mà kết tinh từ những chuyện rất đỗi nhỏ nhặt, bình dị trong đời sống thường nhật. 

"Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương vì thế đã vượt qua giới hạn của một bài thơ thông thường, trở thành lời nhắc nhở sâu sắc, thức tỉnh lòng hiếu thảo và sự trân trọng từng phút giây hạnh phúc khi còn mẹ trên đời.

Bài tham khảo Mẫu 7

Trong văn học Việt Nam, viết về mẹ luôn là một dòng chảy thiết tha, dạt dào cảm xúc. Mỗi nhà thơ lại tìm cho mình một lối đi riêng để chạm đến cõi thiêng liêng ấy. Đinh Nam Khương trong bài thơ "Về thăm mẹ" đã chọn cách kể chuyện mộc mạc mà thấm thía, dùng những chi tiết chân thực nhất của đời sống nông thôn để dựng nên một bức tượng đài bằng cảm xúc về tình mẫu tử cao cả.

Bài thơ mở ra với bối cảnh chuyến trở về mang theo nhiều hụt hẫng và chông chênh của lòng người:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Bước chân con trở về ngôi nhà xưa vào một buổi "chiều đông" giá lạnh. Sự vắng bóng của mẹ và căn bếp lạnh ngắt chưa một lần lên khói tạo ra một khoảng trống mênh mông trong tâm hồn người con. Từ "thơ thẩn" diễn tả thật tinh tế dáng vẻ ngác ngơ, bơ vơ và sự hụt hẫng đến xót xa. Thiên nhiên như thấu hiểu lòng người khi "trời đang yên vậy bỗng òa mưa rơi". Cơn mưa bất chợt ấy hay chính là nỗi niềm chạnh lòng, là sự bục vỡ của những cảm xúc kìm nén lâu ngày trong lồng ngực người con xa quê?

Cảm xúc ấy tiếp tục được khoét sâu hơn khi không gian ngôi nhà hiện lên qua những vật dụng cũ kỹ, mòn mỏi theo năm tháng:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Bằng ngòi bút quan sát tinh tế và nghệ thuật nhân hóa giàu sức gợi, nhà thơ đã thổi hồn vào những vật vô tri. Chiếc nón mê, chiếc áo tơi rách rưới phải quàng lên người rơm dãi dầu trong mưa gió. Những hình ảnh ấy gợi lên một sự nghèo khó, thiếu thốn và cả một đời người tần tảo, lam lũ của mẹ. Mẹ đã đi qua biết bao mùa mưa nắng, đem lại hạt gạo, củ khoai cho con, để rồi khi tuổi già bóng xế, những vật dụng ấy vẫn cứ nhọc nhằn gánh thay phần đời nhọc nhằn của mẹ.

Giữa không gian thấm đượm nỗi buồn ấy, sự sống vẫn âm thầm nảy nở, mang theo hơi ấm của tình mẫu tử thiêng liêng:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng rực quây quần bên chiếc nơm hỏng vành tạo nên một nét chấm phá sinh động. Đặc biệt, hình ảnh "trái na cuối vụ mẹ dành phần con" chính là nhãn tự của cả bài thơ, là hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn người mẹ nghèo. Trái na cuối mùa nhỏ nhoi, xù xì chẳng có giá trị lớn lao, nhưng nó là minh chứng cho sự chắt chiu, là tình yêu thương vô bờ bến mẹ dành riêng cho đứa con yêu. Mẹ luôn nhớ đến con trong từng điều nhỏ nhặt nhất của cuộc sống.

Bài thơ khép lại bằng một dư âm nghẹn ngào, sâu lắng:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Câu thơ kết như một lời thú tội ngọt ngào của đứa con trước sự hy sinh thầm lặng của mẹ. 

"Về thăm mẹ" không chỉ là một bài thơ hay về tình mẫu tử, mà còn là thứ ánh sáng dịu dàng sưởi ấm tâm hồn mỗi chúng ta, nhắc nhở ta hãy biết sống chậm lại để yêu thương và trân quý đấng sinh thành chốn quê nhà.

Bài tham khảo Mẫu 8

Có những bài thơ đọc xong không mang lại cảm giác choáng ngợp bởi ngôn từ hoa mỹ, mà ngấm sâu vào tâm hồn ta bằng một thứ dung dị, chân thành. "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương chính là một tác phẩm mang sức mạnh cảm hóa kỳ diệu ấy. Thi phẩm là khúc tráng ca trầm mặc về tình mẫu tử, nơi hình ảnh người mẹ nghèo hiện lên vừa xót xa, vừa vô cùng vĩ đại qua lăng kính đầy ắp tình yêu thương của người con.

Ngay từ khổ thơ đầu, không gian và tâm trạng đã được nhà thơ khắc họa đầy ám ảnh:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Trở về thăm nhà vào một buổi chiều đông hiu hắt, người con phải đối diện với sự trống vắng đến nao lòng. Bếp lạnh ngắt, mẹ không có nhà, để lại không gian quạnh quẽ bủa vây. Từ "thơ thẩn" kết hợp với hình ảnh "bỗng òa mưa rơi" đã diễn tả trọn vẹn trạng thái chông chênh, hụt hẫng và nỗi buồn tủi dâng trào trong lòng người con. Cơn mưa ngoại cảnh như hòa quyện làm một với cơn mưa lòng, làm xao động cả một cõi trời hoài niệm và xót xa.

Nỗi niềm ấy không chỉ dừng lại ở sự vắng bóng lúc ban đầu, mà còn trải dài qua từng góc nhỏ của ngôi nhà nghèo khó:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Bằng sự am hiểu sâu sắc đời sống nhà nông và nghệ thuật nhân hóa tài tình, Đinh Nam Khương đã biến những vật dụng vô tri thành những sinh thể mang hồn người. Chiếc nón mê, chiếc áo tơi rách rưới phải dầm mưa dãi nắng khoác hờ lên người rơm chính là biểu tượng cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ của mẹ. Từng năm tháng trôi đi là từng ấy gánh nặng oằn lên đôi vai gầy guộc của người phụ nữ quê nghèo. Nỗi vất vả ấy lặng thầm, nhẫn nại và đầy xót xa.

Tuy nhiên, vượt lên trên cái nghèo khó, hiu hắt ấy, tình mẫu tử vẫn tỏa sáng rực rỡ và ấm áp qua những chi tiết đời thường:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng rươm sinh động quanh chiếc nơm hỏng vành mang lại một chút sinh khí cho ngôi nhà. Đáng quý biết bao hình ảnh "trái na cuối vụ mẹ dành phần con". Trái na cuối mùa xấu xí, nhỏ nhoi chẳng đáng gì, nhưng lại được mẹ cất giữ cẩn thận để dành cho con. Hành động ấy chứa đựng cả một tấm lòng bao dung, sự chắt chiu và tình yêu thương vô điều kiện của mẹ. Mẹ quên đi bản thân mình, luôn hướng về con bằng tất cả sự tinh tế và ấm áp nhất.

Bài thơ kết thúc bằng những giọt nước mắt vỡ òa của lòng biết ơn:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Câu thơ cuối cùng đọng lại như một nốt trầm xao xuyến. Tình mẫu tử thiêng liêng đôi khi chẳng tìm đâu xa, nó ẩn hiện ngay trong những vật dụng cũ kỹ, trong trái na cuối mùa hay trong nếp nhà nghèo khó. 

Đọc "Về thăm mẹ", ta càng thêm thấu hiểu, trân quý những hy sinh thầm lặng của mẹ, từ đó nhắc nhở bản thân sống tốt hơn, hiếu thảo hơn với đấng sinh thành trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian.

Bài tham khảo Mẫu 9

Trong đời mỗi người, có một miền ký ức mà dù đi qua bao nhiêu mùa mưa nắng, ta vẫn muốn tìm về. Đó có thể là một mái nhà nép mình bên vườn cây, một khoảng sân đã in dấu những bước chân thơ bé, một bếp lửa từng đỏ hồng mỗi sớm, hay đơn giản chỉ là bóng dáng mẹ thấp thoáng sau cánh cửa. Mẹ thường không bước vào ký ức bằng những điều lớn lao. Mẹ đi vào đời con từ những điều rất nhỏ: một bữa cơm, một chiếc áo, một món quà được cất dành, một lời gọi giữa chiều. Chính bởi vậy, khi mẹ vắng đi, những điều bình thường nhất bỗng trở thành những tín hiệu khiến trái tim rung lên. Bài thơ “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương đã bắt đầu từ một khoảnh khắc như thế: người con trở về trong một chiều đông, mẹ không có nhà, và giữa khoảng vắng ấy, cả một thế giới yêu thương về mẹ chợt thức dậy.

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Bốn câu thơ mở đầu giống như một khung cửa hé ra miền ký ức. Thời gian được chọn là “chiều đông” – một buổi chiều vốn đã mang sắc thái chậm buồn, lại được phủ thêm cái lạnh của mùa đông. Trong nền trời ấy, bước chân người con trở về. Chữ “về” nghe sao thân thuộc! Con không chỉ đi đến một địa điểm mà trở lại nơi mình thuộc về, trở lại với mẹ, với mái nhà, với những tháng năm đã nuôi mình lớn lên.

Thế nhưng cuộc trở về lại bắt đầu bằng sự vắng mặt: “mẹ không có nhà”. Câu thơ giản dị mà tạo ra một khoảng trống rất lớn. Mẹ không ở đó, căn nhà vẫn còn nhưng hơi ấm dường như đã khuyết đi một phần. Nhà thơ không nói căn nhà lạnh, nhưng người đọc vẫn cảm thấy cái lạnh lan ra từ “chiều đông”, từ căn bếp chưa có khói, từ bước chân “thơ thẩn” của người con.

“Bếp chưa lên khói” là một chi tiết nhỏ mà giàu sức gợi. Trong mái ấm Việt Nam, bếp không chỉ là nơi nấu nướng. Bếp là nơi giữ lửa, giữ hơi ấm và giữ nhịp sống gia đình. Hình ảnh khói bếp thường gắn với bóng mẹ, với những buổi chiều mẹ chuẩn bị cơm, với tiếng gọi con về. Vì thế, “bếp chưa lên khói” chính là dấu hiệu đầu tiên của sự vắng mẹ. Người con chỉ nhìn thấy một căn bếp chưa có khói nhưng trong lòng đã cảm nhận được cả một sự trống trải.

“Mình con thơ thẩn vào ra” – nhịp thơ như chậm lại. “Thơ thẩn” diễn tả một trạng thái bâng khuâng, hụt hẫng, không biết đặt nỗi nhớ vào đâu. Người con đi qua đi lại giữa những không gian quen thuộc mà dường như không tìm thấy điểm dừng cho tâm hồn. Rồi bất chợt:

“Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Cơn mưa đến như một tiếng khóc. Từ “oà” vốn gợi tiếng khóc bật ra đột ngột, nay được dùng để miêu tả mưa khiến thiên nhiên như mang tâm trạng con người. Trời đang yên mà mưa bỗng rơi cũng giống như lòng người đang cố bình thản mà bất chợt chùng xuống trước một nỗi thương. Cảnh và tình hòa vào nhau, khiến buổi chiều quê trở nên mênh mang.

Trong khoảng vắng ấy, người con không tìm thấy mẹ nhưng lại tìm thấy những dấu vết của mẹ:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Mẹ hiện lên không phải bằng khuôn mặt hay dáng hình mà bằng những vật dụng từng gắn bó với đời mẹ. Đây chính là nét tinh tế trong cách xây dựng hình tượng của tác giả. “Chum tương”, “nón mê”, “áo tơi” đều bình dị đến mức nếu không có tình cảm, người ta có thể dễ dàng đi qua. Nhưng trong mắt người con, mỗi vật đều chứa một phần ký ức.

“Chum tương mẹ đã đậy rồi” gợi một người mẹ chu đáo, tần tảo, chăm chút cho gia đình từ những công việc nhỏ nhất. Rồi đến chiếc “nón mê”:

“Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa”

Chiếc nón được nhân hóa như một con người. “Xưa” và “nay” đặt cạnh nhau tạo nên một khoảng thời gian buồn. Xưa, chiếc nón theo mẹ đi qua những ngày nắng mưa; nay, mẹ vắng nhà, chiếc nón chỉ còn lặng lẽ dầm mưa. Cái nón tưởng như vô tri lại trở thành nhân chứng của năm tháng.

Chiếc áo tơi cũng mang theo câu chuyện về cuộc đời lao động:

“Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Chỉ một chiếc áo đã gợi cả một đời người. Mẹ từng mặc nó đi qua những buổi cày bừa, từng đối diện với nắng mưa ngoài đồng. Giờ đây, chiếc áo chỉ còn “khoác hờ” lên người rơm. Con người không xuất hiện, nhưng dấu tích của con người vẫn còn đó. Chính sự vắng mặt ấy lại khiến hình bóng mẹ hiện lên rõ hơn.

Nếu khổ thơ thứ hai gợi nỗi thương về sự nhọc nhằn của mẹ thì khổ thơ thứ ba lại mở ra một miền yêu thương dịu ngọt:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Đàn gà con “vàng ươm” khiến bức tranh quê có thêm ánh sáng. Những sinh linh nhỏ bé vẫn chạy quanh chiếc nơm cũ, thiên nhiên vẫn âm thầm sinh sôi. Nhưng giữa cảnh vật ấy, người con bắt gặp “trái na cuối vụ”.

Hình ảnh ấy đẹp bởi sự giản dị. Na đã “cuối vụ”, nghĩa là mùa quả sắp qua, nhưng mẹ vẫn để dành một trái cho con. “Mẹ dành phần con” – bốn chữ mà chứa đựng cả một thế giới tình cảm. Mẹ thường yêu con như vậy: không ồn ào, không kể công, chỉ âm thầm dành lại cho con một phần tốt đẹp. Có khi mẹ chẳng nói rằng mẹ nhớ con, nhưng trái cây trong vườn vẫn có một phần được giữ lại. Có khi mẹ chẳng nói rằng mẹ thương con, nhưng mọi điều ngon lành vẫn được đặt về phía con.

Và rồi, từ trái na nhỏ bé ấy, cảm xúc bỗng trào lên:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Đây là hai câu thơ kết tinh linh hồn tác phẩm. “Nghẹn ngào” là khi cảm xúc quá đầy khiến lời nói không thể cất thành câu. “Rưng rưng” là khoảnh khắc nước mắt chưa rơi nhưng trái tim đã mềm đi. Đáng chú ý nhất là “chuyện giản đơn thường ngày”. Nhà thơ không tìm vẻ đẹp của tình mẹ trong những sự kiện phi thường mà tìm nó trong những điều rất nhỏ. Chính những điều ta thường bỏ qua lại là nơi tình yêu cư ngụ sâu nhất.

Với thể thơ lục bát mềm mại, ngôn ngữ dân dã và những hình ảnh đậm hồn quê, “Về thăm mẹ” giống như một khúc dân ca buồn nhẹ. Bài thơ không khóc than, không kể lể, nhưng từng câu chữ đều có độ ngân. Đặc biệt, việc để mẹ vắng mặt trong toàn bộ bài thơ lại là một dụng ý nghệ thuật sâu sắc: mẹ không xuất hiện trực tiếp nhưng hiện diện trong tất cả. Mẹ ở trong căn bếp, trong chum tương, trong chiếc nón, chiếc áo, trong mảnh vườn và trong trái na cuối vụ.

Có lẽ vì thế, đọc “Về thăm mẹ”, ta không chỉ nhìn thấy một người con đang nhớ mẹ mà còn nhìn thấy chính mình trong những cuộc trở về của đời người. Ta chợt nhớ một mái nhà, nhớ một người từng đứng chờ, nhớ những món quà mẹ để dành mà ngày ấy ta nhận lấy hồn nhiên. Đến khi lớn lên, ta mới hiểu: tình yêu của mẹ chưa bao giờ ồn ào. Nó giống làn khói bếp – mong manh nhưng ấm áp; giống trái na cuối vụ – nhỏ bé nhưng ngọt ngào; giống chiếc áo tơi cũ – bạc màu theo năm tháng nhưng chứa cả một đời che chở.

Bởi vậy, bài thơ khép lại mà dư âm vẫn còn ngân mãi. Có một buổi chiều đông, một căn nhà vắng, một cơn mưa bất chợt và một trái na mẹ để dành. Từ những điều bé nhỏ ấy, Thạch Nam Khương đã dựng nên một tượng đài tình mẫu tử không bằng đá, bằng đồng, mà bằng ký ức. Và có lẽ, đó mới là tượng đài bền vững nhất: tình mẹ được lưu giữ trong trái tim con, từ những chuyện giản đơn của một đời.

Bài tham khảo Mẫu 10

Có những ngôi nhà chỉ cần bước qua ngưỡng cửa là ta nghe thấy cả tuổi thơ trở mình trong ký ức. Có những khu vườn chỉ cần nhìn một cành cây là bao nhiêu năm tháng bỗng xanh trở lại. Và có những người mẹ, dẫu chẳng đứng trước mắt, vẫn hiện diện trong từng đồ vật nhỏ bé quanh ta. Bởi tình mẹ không phải một điều hữu hình có thể cầm nắm, mà là hơi ấm âm thầm thấm vào đời sống, để rồi khi ta đi xa, nó trở thành miền thương nhớ; khi ta trở về, nó hóa thành những rung động không gọi được thành tên. “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương là một bài thơ như được dệt từ thứ ánh sáng dịu dàng của ký ức. Không có câu chuyện lớn lao, không có biến cố dữ dội, chỉ một buổi chiều đông và một người con trở về thăm mẹ. Vậy mà từ khoảng vắng của căn nhà, cả một trời tình mẫu tử đã lặng lẽ hiện lên.

Bài thơ mở ra bằng một khung cảnh mang vẻ đẹp man mác:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Có lẽ không phải ngẫu nhiên nhà thơ chọn “chiều đông” để mở đầu câu chuyện. Chiều là thời khắc ngày dần khép lại, đông là mùa của gió lạnh và những khoảng trời xám. Cả thời gian và không gian đều như chậm xuống, tạo nên một nền cảnh phù hợp với tâm trạng của người con. Người con trở về, nhưng điều chờ đợi lại là sự vắng mặt.

“Bếp chưa lên khói” – hình ảnh ấy tưởng như rất nhỏ nhưng lại mở ra cả một thế giới. Bếp là trái tim của mái nhà, nơi mẹ từng nhóm lửa, nơi những bữa cơm gia đình bắt đầu. Khói bếp là dấu hiệu của sự sống, của đoàn tụ. Bởi thế, khi bếp chưa lên khói, căn nhà dường như đang thiếu đi một nhịp đập. Cái vắng của mẹ không cần được nói bằng những lời đau buồn; nó chỉ cần hiện ra qua một căn bếp im lặng.

Người con “thơ thẩn vào ra”. Hai chữ ấy mềm như một làn gió nhưng lại mang nỗi buồn sâu. Người con trở về mà không biết đặt chân ở đâu, nhìn gì, làm gì. Căn nhà quá quen nhưng lại trở nên xa lạ vì thiếu mẹ. Và giữa khoảnh khắc ấy, trời “bỗng oà mưa rơi”. Mưa không chỉ làm ướt mái nhà; mưa dường như rơi xuống cả tâm trạng. Từ “oà” khiến cơn mưa giống một tiếng khóc bất ngờ, khiến thiên nhiên và con người cùng chung một nhịp thở.

Nhưng mẹ không hề biến mất khỏi bài thơ. Trái lại, mẹ bắt đầu hiện diện trong những vật tưởng như vô tri:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Mỗi hình ảnh như một mảnh gương phản chiếu cuộc đời mẹ. “Chum tương” gợi một bàn tay cần mẫn. “Nón mê” gợi những buổi đồng áng. “Áo tơi” gợi mưa nắng và những nhọc nhằn. Những vật dụng ấy cũ kỹ, dân dã, thậm chí chẳng có vẻ gì đẹp đẽ, nhưng dưới ánh nhìn của người con, chúng bỗng trở thành những báu vật của ký ức.

Đáng nhớ nhất là chiếc nón:

“Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa”

Câu thơ có một nét buồn rất lạ. Chiếc nón được nhân hóa, “đứng”, “ngồi”, “dầm mưa” như một con người. Nhưng có lẽ sâu hơn, nhà thơ đang khiến người đọc cảm nhận sự cô đơn của một vật từng gắn với mẹ. “Xưa” và “nay” là hai bờ thời gian. Xưa có mẹ, nay chỉ còn chiếc nón. Xưa là những ngày tháng lao động, nay là khoảng vắng. Cơn mưa vì thế không chỉ rơi trên chiếc nón mà như rơi lên cả miền ký ức.

Chiếc áo tơi cũng vậy. Nó từng theo mẹ “qua buổi cày bừa”, từng cùng mẹ đi qua bao nắng mưa của cuộc đời. Nhưng giờ đây, nó “lủn củn khoác hờ người rơm”. Hình ảnh ấy có chút ngộ nghĩnh về hình thức nhưng lại buồn trong chiều sâu. Người rơm không phải mẹ. Chiếc áo còn mà người đã vắng. Cái còn lại của mẹ chỉ là những dấu vết nhỏ bé, nhưng chính những dấu vết ấy lại khiến nỗi nhớ trở nên cụ thể.

Rồi bức tranh chuyển ra khu vườn:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Nếu những câu thơ trước mang sắc xám của chiều đông và mưa rơi, thì “đàn gà mới nở vàng ươm” bất chợt thắp lên một vệt nắng. Màu “vàng ươm” làm bức tranh trở nên ấm áp. Đó là màu của sự sống, màu của quê nhà và cũng có thể là màu của những ký ức tuổi thơ.

Thế nhưng, giữa những chuyển động nhỏ bé của khu vườn, người con lại bắt gặp một điều khiến trái tim mình dừng lại: “trái na cuối vụ mẹ dành phần con”. Hình ảnh trái na đẹp bởi sự mộc mạc. Nó không phải một món quà quý giá, nhưng lại là một món quà của tình yêu. “Cuối vụ” gợi cảm giác mùa đã đi qua, trái ngọt đã chẳng còn nhiều. Vậy mà mẹ vẫn để dành cho con.

Có lẽ “mẹ dành phần con” là một trong những cách nói đẹp nhất về tình mẫu tử. Mẹ thường chẳng giữ lại cho mình phần ngon nhất. Mẹ có thể ăn phần còn lại, nhưng luôn nhớ để dành cho con. Khi con còn nhỏ, sự hy sinh ấy bình thường đến mức con có thể chẳng nhận ra. Chỉ đến lúc trưởng thành, trở về trong một chiều vắng mẹ, nhìn thấy trái na nằm trên cành, con mới hiểu rằng tình yêu có thể được gửi vào một thứ nhỏ bé đến thế.

Bởi vậy, câu kết vang lên như một tiếng lòng:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Không phải một biến cố lớn, không phải một lời trăn trối, không phải một cuộc chia ly dữ dội. Chỉ “chuyện giản đơn thường ngày” thôi mà khiến người con “rưng rưng”. Đây chính là vẻ đẹp sâu sắc của bài thơ. Nhà thơ đã chứng minh rằng tình cảm lớn lao không nhất thiết phải được biểu hiện bằng những hình ảnh lớn lao. Đôi khi, một trái na cũng đủ chứa cả một trời thương nhớ.

Về nghệ thuật, bài thơ mang vẻ đẹp mộc mạc của thể lục bát, với những hình ảnh gần gũi của đời sống nông thôn. Tác giả sử dụng thành công nghệ thuật nhân hóa, tả cảnh ngụ tình và lấy vật để gợi người. Đặc biệt, mẹ không xuất hiện trực tiếp nhưng lại là trung tâm của toàn bộ thế giới thơ. Căn bếp, chum tương, chiếc nón, chiếc áo, đàn gà và trái na đều trở thành những “đường dẫn” đưa người con trở về với ký ức về mẹ.

Có thể nói, “Về thăm mẹ” không chỉ kể một cuộc trở về mà còn kể một hành trình của nhận thức. Người con trở về với ý định thăm mẹ, nhưng cuối cùng lại “thăm” những dấu vết của tình mẹ trong từng góc nhỏ. Và chính trong hành trình ấy, con hiểu thêm về người đã âm thầm yêu thương mình suốt bao năm tháng.

Đọc bài thơ, ta như nghe thấy tiếng mưa rơi trên mái nhà cũ, thấy một chiếc nón lặng lẽ dầm mưa, thấy đàn gà con vàng ươm chạy quanh chiếc nơm hỏng vành, thấy trái na cuối vụ khẽ đung đưa trên cành. Những hình ảnh ấy đẹp không phải vì chúng hoàn mỹ, mà vì chúng mang hơi thở của một mái nhà có mẹ.

Có những điều trong đời càng giản dị càng khó quên. Có những người càng im lặng càng trở nên vĩ đại trong ký ức. Và có những tình yêu không cần nói thành lời vẫn đủ sức khiến trái tim con người rung động qua cả tháng năm. “Về thăm mẹ” chính là một khúc thơ như thế – nhẹ nhàng như mưa chiều, ấm áp như khói bếp và ngọt ngào như trái na mẹ lặng lẽ để dành cho con.

Bài tham khảo Mẫu 11

Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, nơi khiến ta muốn trở về nhất không phải lúc nào cũng là một vùng đất. Đó có thể là một người. Một người mà chỉ cần nghĩ đến thôi, lòng đã dịu lại. Một người không cần gọi tên, bởi bóng dáng đã nằm sâu trong từng ký ức. Với nhiều người, người ấy chính là mẹ.

Mẹ thường hiện diện trong cuộc đời con bằng những điều rất nhỏ. Một tiếng gọi giữa buổi trưa, một bữa cơm nóng, một chiếc áo được vá lại, một món quà cất dành nơi góc bếp. Những điều ấy bình thường đến mức đôi khi ta vô tình quên mất giá trị của chúng. Nhưng khi một ngày trở về mà không gặp mẹ, ta mới chợt nhận ra: hóa ra mẹ đã gửi cả cuộc đời mình vào những điều bình dị ấy. Bài thơ “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương là một tiếng ngân dịu dàng về khoảnh khắc nhận ra ấy. Từ một căn nhà vắng mẹ, nhà thơ mở ra cả một thế giới của tình mẫu tử, nơi mỗi đồ vật đều mang bóng hình người đã tạo nên hơi ấm cho mái nhà.

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Không gian bài thơ được mở ra bằng “chiều đông”. Chỉ ba chữ nhưng đã đủ phủ lên cảnh vật một lớp sương buồn. Chiều vốn là thời khắc của trở về, của sum họp; đông lại là mùa của giá lạnh. Người con trở về đúng lúc trời đất đang đi vào một miền lạnh, nhưng điều lạnh nhất không phải thời tiết mà là căn nhà thiếu mẹ.

“Bếp chưa lên khói” – hình ảnh ấy đẹp một cách lặng thầm. Khói bếp vốn rất mong manh, vừa hiện lên đã có thể tan vào trời chiều, nhưng trong ký ức người Việt, nó lại là một trong những hình ảnh bền vững nhất của gia đình. Bếp có khói là có người nhóm lửa, có cơm canh, có một người đang chăm chút cho những người mình yêu thương. Bếp chưa lên khói nghĩa là mẹ chưa về, và sâu hơn, là hơi ấm của mẹ chưa trở lại.

Người con “thơ thẩn vào ra”. Câu thơ ngắn mà gợi cả một trạng thái tâm hồn. Không có tiếng khóc, không có lời than, chỉ có bước chân đi qua đi lại trong một căn nhà quen. Càng quen thuộc càng buồn, bởi mỗi góc nhỏ đều nhắc người con về người vắng mặt.

Rồi cơn mưa đến:

“Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

Cách dùng từ “oà” khiến mưa mang dáng dấp của một tiếng khóc. Có lẽ đó cũng là tiếng khóc mà người con chưa thể bật thành lời. Thiên nhiên lúc này không còn đứng ngoài con người. Trời đất như thấu hiểu nỗi lòng, và cơn mưa trở thành một tấm gương phản chiếu tâm trạng.

Nhưng điều kỳ lạ là càng vắng mẹ, người con càng nhìn thấy mẹ rõ hơn. Mẹ không đứng trước mắt nhưng lại hiện diện trong những đồ vật quanh nhà:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Đây là đoạn thơ cho thấy rõ nhất tài năng của nhà thơ trong việc tạo dựng hình tượng. Tác giả không trực tiếp nói mẹ tảo tần, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được cả một đời lao động của mẹ. “Chum tương” là công việc nội trợ; “nón mê”, “áo tơi” là những dấu tích của đồng ruộng. Mẹ hiện lên qua vật dụng, qua lao động, qua những gì bàn tay mẹ từng chạm tới.

Chiếc nón được nhân hóa:

“Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa”

“Xưa” là thời gian có mẹ. “Nay” là thời gian mẹ vắng nhà. Khoảng cách giữa hai chữ ấy tưởng ngắn nhưng chứa cả một nỗi buồn. Chiếc nón từng che nắng cho mẹ, nay lại dầm mưa một mình. Nhà thơ khiến vật vô tri có một đời sống riêng, nhưng thực chất là để người đọc cảm nhận sâu hơn sự hiện diện của người mẹ.

Chiếc áo tơi cũng mang theo một câu chuyện:

“Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Có một sự đối lập lặng lẽ giữa “qua buổi cày bừa” và “khoác hờ người rơm”. Một bên là con người thật, với mồ hôi và công việc; một bên là hình nộm vô tri. Một bên là sự sống, một bên là dấu vết. Chiếc áo còn nguyên nhưng bàn tay từng mặc áo dường như chỉ còn lại trong ký ức. Qua đó, người đọc càng cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp tảo tần của mẹ.

Nếu hình ảnh chiếc áo gợi sự vất vả thì trái na lại gợi sự dịu dàng của tình yêu:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Bức tranh bỗng có màu vàng. “Vàng ươm” của đàn gà mới nở giống như một đốm nắng nhỏ giữa buổi chiều đông. Thiên nhiên vẫn sinh sôi, sự sống vẫn tiếp tục. Và giữa khung cảnh ấy, người con phát hiện một trái na cuối vụ.

“Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Câu thơ không có một từ ngữ nào cầu kỳ nhưng lại có sức lay động đặc biệt. “Cuối vụ” nghĩa là mùa đã gần hết. Trái ngọt chẳng còn nhiều. Nhưng mẹ vẫn dành một phần cho con. Tình mẹ vì thế không phải là sự hy sinh được tuyên bố, mà là một thói quen yêu thương đã trở thành bản năng. Mẹ nhìn thấy trái chín và nghĩ đến con. Mẹ có một phần ngon và nghĩ đến con. Mẹ làm bất cứ điều gì cũng để lại một khoảng nhỏ cho con.

Chính vì thế, người con không thể kìm nén:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

Từ “nhiều hơn” cho thấy cảm xúc không đứng yên. Người con đã thương mẹ, nhưng sau khi nhìn thấy những dấu vết ấy, tình thương trở nên sâu hơn. Còn “rưng rưng” là một trạng thái đặc biệt: nước mắt chưa rơi nhưng tâm hồn đã đầy. Nhà thơ không cần viết “con khóc” bởi “rưng rưng” đã đủ khiến người đọc hình dung một trái tim đang mềm đi.

Đặc biệt, “chuyện giản đơn thường ngày” chính là điểm tựa tư tưởng của toàn bài. Nhà thơ đã tìm thấy cái lớn lao trong cái nhỏ bé. Một trái na, một chiếc áo, một chiếc nón, một chum tương – tất cả đều bình thường. Nhưng tình yêu khiến chúng trở thành những vật mang ký ức. Khi gắn với mẹ, một đồ vật nhỏ bé cũng có thể trở thành một phần của đời người.

Thành công nghệ thuật của bài thơ còn nằm ở thể lục bát giàu nhạc tính. Nhịp thơ khi khoan thai, khi chùng xuống, phù hợp với dòng hồi tưởng. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi. Những từ như “thơ thẩn”, “oà”, “dầm mưa”, “lủn củn”, “vàng ươm”, “rưng rưng” khiến cảm xúc hiện lên rất tự nhiên. Đặc biệt, thủ pháp lấy cảnh vật để gợi người giúp hình tượng người mẹ vừa cụ thể vừa mờ xa. Mẹ không xuất hiện trực tiếp, nhưng chính sự vắng mặt ấy khiến mẹ trở thành trung tâm của toàn bộ bài thơ.

Có thể nói, “Về thăm mẹ” là một bài thơ được viết bằng những điều nhỏ bé nhưng chứa đựng một tình cảm lớn lao. Đọc tác phẩm, ta nhận ra rằng tình mẹ không nhất thiết phải hiện diện bằng những lời yêu thương. Mẹ có thể nằm trong một làn khói bếp, trong chiếc nón đã bạc màu, trong chiếc áo tơi từng qua đồng ruộng, trong đàn gà con mới nở và nhất là trong trái na cuối vụ mẹ vẫn nhớ để dành.

Bài thơ vì thế giống như một cơn mưa chiều: đến rất nhẹ nhưng đủ làm ướt một miền ký ức. Nó khiến ta muốn trở về với những người thân yêu, muốn nhìn kỹ hơn căn bếp quen, muốn trân trọng hơn những món quà nhỏ mẹ từng dành. Bởi có thể trong một ngày nào đó, ta sẽ đứng trước một căn nhà vắng, nhìn một vật dụng cũ và bất chợt hiểu rằng: những gì ta từng xem là bình thường chính là những điều đã làm nên tuổi thơ, làm nên mái nhà, làm nên chính con người ta.

“Về thăm mẹ” khép lại bằng hai chữ “rưng rưng”, nhưng dư âm của bài thơ không khép lại. Nó tiếp tục ngân lên trong lòng người đọc như tiếng gọi từ một miền quê xa xôi. Và ở nơi sâu nhất của tiếng gọi ấy, có hình bóng một người mẹ âm thầm đứng bên bếp lửa, chắt chiu từng chút yêu thương cho con. Mẹ không cần xuất hiện trong từng câu thơ, bởi mẹ đã hiện diện trong tất cả những gì khiến trái tim người con không thể không thương, không thể không nhớ, không thể không trở về.

Bài tham khảo Mẫu 12

Có những bài thơ đọc lên giống như một tiếng thở dài của thời gian, chạm vào những ngóc ngách mềm mại nhất trong tâm hồn mỗi chúng ta. Thi phẩm "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương chính là một nốt trầm như thế. Giữa bộn bề của cuộc sống hiện đại, bài thơ đưa ta trở về một chiều đông bảng lảng khói sương, nơi có người mẹ tần tảo sớm hôm và tình mẫu tử thiêng liêng, bất tử.

Chuyến trở về của người con mở ra trong một không gian đượm buồn và cô quạnh:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Buổi chiều đông hiện lên với cái lạnh cắt da cắt thịt và sự vắng bóng đến nao lòng. Ngôi nhà nhỏ thiếu vắng hơi ấm của mẹ, bếp chưa nổi lửa, không gian chìm trong tĩnh lặng. Từ láy "thơ thẩn" diễn tả trọn vẹn dáng vẻ ngác ngơ, bơ vơ và sự hụt hẫng đến tội nghiệp của đứa con xa quê. Thiên nhiên như cũng động lòng trước nỗi niềm ấy; bầu trời đang yên bình bỗng "òa mưa rơi". Cơn mưa bất chợt ấy hay chính là giọt nước mắt chạnh lòng, là sự vỡ òa của những cảm xúc ngổn ngang trong lồng ngực người con khi nhận ra mẹ vẫn đang oằn mình với nhọc nhằn ngoài kia?

Nỗi xót xa ấy càng thêm thấm thía khi người con lặng ngắm từng góc nhỏ trong ngôi nhà nghèo, nơi hằn in bóng dáng sương gió của mẹ:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Nhà thơ đã thổi hồn vào những vật vô tri bằng nghệ thuật nhân hóa tài tình. Chiếc nón mê, chiếc áo tơi rách rưới phải dầm mưa dãi nắng khoác hờ lên người rơm. Chúng đã hóa thành những chứng nhân lặng thầm, gánh thay phần đời bão táp cho tấm thân gầy guộc của mẹ. Cuộc đời mẹ là một chuỗi ngày lam lũ, nhẫn nại dầm mưa dãi nắng từ năm tháng này qua năm tháng khác, đẹp đẽ và bi thương đến lạ kỳ.

Thế nhưng, giữa bức tranh sương lạnh ấy, hơi ấm của tình mẫu tử vẫn cựa quậy, nảy nở đầy xao xuyến:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng rúc rích bên chiếc nơm hỏng vành tạo nên nét chấm phá sinh động, le lói chút sức sống giữa căn nhà quạnh quẽ. Và đỉnh điểm của cảm xúc dồn nén đọng lại ở câu thơ: "Trái na cuối vụ mẹ dành phần con". Một trái na nhỏ bé, dân dã cuối mùa chẳng có giá trị lớn lao, nhưng lại chứa đựng tấm lòng chắt chiu, yêu thương vô bờ bến. Mẹ có thể ăn kham mặc khổ, có thể nhường hết ngọt bùi cho con, dù con nay đã lớn khôn.

Khép lại bài thơ là một khoảng trời xúc động dâng trào:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Dấu chấm lửng như một nhịp đập lỡ làng của trái tim, một tiếng thở dài nghẹn ngào.

 "Về thăm mẹ" không chỉ là một khúc ca hoài niệm, mà còn là ánh trăng dịu dàng chiếu rọi vào tâm hồn mỗi người con, nhắc nhở ta hãy biết trân quý từng phút giây hạnh phúc khi còn mẹ trên đời.

Bài tham khảo Mẫu 13

Thi ca luôn là nơi trú ngụ của những ân tình sâu kín nhất. Viết về mẹ, Đinh Nam Khương không dùng những từ ngữ hoa mỹ, tráng lệ, mà chọn cho mình một giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như ru hời. Bài thơ "Về thăm mẹ" giống như một bức tranh thủy mặc đượm buồn, nơi bóng hình người mẹ nghèo hiện lên lung linh, nhọc nhằn mà vô cùng thiêng liêng.

Mở đầu bài thơ là khoảnh khắc bước chân con chạm vào ngưỡng cửa ngôi nhà xưa trong một chiều đông heo may:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Sự vắng bóng của mẹ và căn bếp lạnh ngắt mở ra một không gian quạnh quẽ đến nao lòng. Từ "thơ thẩn" vẽ nên dáng vẻ chông chênh, ngác ngơ của đứa con xa cách lâu ngày nay mới trở về. Và rồi, thiên nhiên như hòa nhịp với nỗi buồn ấy khi "trời đang yên vậy bỗng òa mưa rơi". Cơn mưa chiều đông rả rích ấy rơi xuống không chỉ làm ướt cảnh vật, mà dường như đang tưới tắm lên những hoài niệm, làm bùng lên nỗi niềm chạnh lòng sâu kín của người con.

Bức tranh quê nghèo tiếp tục trải dài qua những chi tiết đậm chất hiện thực nhưng cũng đượm buồn màu thời gian:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Bằng ngòi bút lãng mạn và tinh tế, nhà thơ đã nhân hóa những vật dụng vô tri thành những sinh thể có hồn. Chiếc nón mê, chiếc áo tơi rách nát phải oằn mình dầm mưa dãi nắng trên người rơm. Đó chính là tấm gương phản chiếu cuộc đời lam lũ, tảo tần của mẹ. Mẹ đã đi qua biết bao mùa mưa nắng đời người, âm thầm gánh vác nhọc nhằn để nuôi con khôn lớn. Từng vật dụng cũ kỹ ấy đều mang vóc dáng của mẹ, khiến lòng người đọc không khỏi rưng rưng, xót xa.

Nhưng vượt lên trên cái hiu hắt của cảnh vật, ánh sáng của tình mẫu tử lại bừng lên ấm áp qua những chi tiết rất đỗi đời thường:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng rực quây quần bên chiếc nơm hỏng tạo nên một nốt nhạc trong trẻo giữa bản hòa ca trầm buồn. Đặc biệt, hình ảnh "trái na cuối vụ mẹ dành phần con" chính là giọt nước mắt hạnh phúc đọng lại trên trang thơ. Trái na nhỏ bé, xù xì cuối mùa được mẹ cất giữ cẩn thận như chứa đựng cả tấm lòng bao la, sự quan tâm chu đáo và tình yêu thương vô điều kiện mà mẹ dành cho con.

Bài thơ khép lại bằng một dư âm ngọt ngào và day dứt:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

"Về thăm mẹ" đã khơi gợi trong tâm hồn người đọc những tình cảm thiêng liêng nhất. 

Đọc bài thơ, ta như được gột rửa tâm hồn, thêm yêu, thêm kính trọng và biết ơn vô bờ bến đối với đấng sinh thành – những người suốt đời vì con mà quên đi chính mình.

Bài tham khảo Mẫu 14

Có những vần thơ đọc lên mà ngỡ như tiếng lòng của chính mình đang thổn thức. "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương là một khúc ca như thế – khúc ca dịu ngọt mà đượm buồn về tình mẫu tử, nơi những chi tiết mộc mạc nhất của làng quê được nâng niu bằng thứ ánh sáng lãng mạn, đong đầy cảm xúc.

Bài thơ mở ra bằng một nốt trầm hoài niệm, nơi chuyến trở về nhà mang theo biết bao hụt hẫng, chông chênh:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Không gian chiều đông hiện lên thật hiu hắt, lạnh lẽo. Ngôi nhà vắng bóng mẹ, bếp lửa chưa hồng tạo nên một khoảng trống mênh mông trong tâm hồn người con. Từ "thơ thẩn" kết hợp với hình ảnh "bỗng òa mưa rơi" diễn tả tinh tế sự bơ vơ, ngỡ ngàng. Cơn mưa ngoại cảnh bất chợt ấy dường như đang khóc thay cho nỗi niềm chạnh lòng, thương cảm của người con khi chứng kiến cảnh nhà vắng lặng và sự cô đơn của mẹ.

Nỗi niềm ấy tiếp tục lan tỏa qua những góc nhỏ thân quen nhưng đẫm màu sương gió của cuộc đời mẹ:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Bằng sự nhạy cảm của một tâm hồn thơ mộng, Đinh Nam Khương đã thổi hồn vào chiếc nón mê, chiếc áo tơi rách rưới. Chúng không chỉ là vật vô tri mà đã hóa thân thành những nhân chứng lặng thầm cho cuộc đời nhọc nhằn, dãi dầu mưa nắng của mẹ. Mỗi nếp gấp của áo tơi, mỗi vành nón tơi tả đều hằn in vết thời gian và gánh nặng mưu sinh của một đời mẹ tảo tần, nhẫn nại.

Thế nhưng, giữa bức tranh nghèo khó và đượm buồn ấy, sự sống và tình mẫu tử vẫn nở hoa rực rỡ:

"Đàn gà mới nở vàng ươm Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành Bất ngờ rụng ở trên cành Trái na cuối vụ mẹ dành phần con."

Đàn gà con vàng rực rỡ quanh chiếc nơm hỏng mang lại một chút sinh khí ấm áp. Và rồi, đỉnh điểm của xúc cảm vỡ òa ở hình ảnh "trái na cuối vụ mẹ dành phần con". Một trái na nhỏ nhoi, mộc mạc cuối mùa chẳng có giá trị vật chất lớn lao, nhưng lại chứa chan biết bao ân tình, sự chắt chiu và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ. Mẹ luôn dành những gì ngọt ngào nhất cho con, dẫu bản thân phải chịu đựng thiếu thốn, thiệt thòi.

Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ như một nốt ngân dài miên man trong cõi lòng người đọc:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

"Về thăm mẹ" là một tác phẩm nghệ thuật thanh tao và sâu lắng. 

Bài thơ như một chiếc gương soi chiếu vào tâm hồn mỗi người con xa xứ, đánh thức tình yêu thương, lòng biết ơn và sự trân quý vô hạn dành cho mẹ – bến đỗ bình yên nhất của cuộc đời mỗi chúng ta.

Bài tham khảo Mẫu 15

Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam, tình mẫu tử luôn là một mạch nguồn dịu dàng mà bền bỉ. Mẹ có thể hiện diện trong những điều lớn lao, nhưng cũng có thể chỉ là một dáng người bên bếp lửa, một chiếc nón cũ, một chum tương, một trái na cuối mùa để dành cho con. Bởi vậy, viết về mẹ không nhất thiết phải tìm đến những hình ảnh phi thường; đôi khi chỉ cần trở về với một căn nhà vắng, nhìn thật lâu những đồ vật thân thuộc, con người ta đã có thể chạm tới tận cùng của yêu thương. Bài thơ “Về thăm mẹ” của Thạch Nam Khương là một thi phẩm như thế. Không cầu kỳ về ngôn từ, không tạo dựng những biến cố lớn lao, bài thơ kể lại một buổi chiều người con về thăm mẹ nhưng mẹ vắng nhà. Qua những hình ảnh bình dị của làng quê, tác giả đã khơi dậy nỗi nhớ thương, sự nghẹn ngào và lòng biết ơn sâu sắc của người con đối với mẹ.

Ngay từ câu thơ mở đầu, không gian trở về đã nhuốm màu thời gian và cảm xúc:

“Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.”

“Chiều đông” vốn đã gợi một khoảng không gian se lạnh, trầm buồn. Trong cái lạnh của đất trời, người con trở về với mong muốn được gặp mẹ, được nhìn thấy bóng dáng thân thuộc, nhưng căn nhà lại vắng bóng người. “Bếp chưa lên khói” là một hình ảnh rất giản dị nhưng sức gợi vô cùng lớn. Bếp vốn là nơi lưu giữ hơi ấm gia đình, nơi mẹ thường nhóm lửa, nấu nướng, nơi những bữa cơm đoàn tụ được bắt đầu. Thế nhưng hôm nay “bếp chưa lên khói”, đồng nghĩa với việc căn nhà thiếu đi bàn tay của mẹ. Chỉ một câu thơ mà khoảng trống của sự vắng mặt đã hiện lên rõ ràng.

Đặc biệt, hình ảnh “mình con thơ thẩn vào ra” diễn tả rất tinh tế trạng thái tâm hồn của người con. “Thơ thẩn” không phải nỗi buồn dữ dội mà là một cảm giác chơi vơi, hụt hẫng, không biết làm gì khi người thân yêu không ở đó. Căn nhà vẫn còn nguyên, cảnh vật vẫn quen thuộc, nhưng mẹ vắng mặt khiến tất cả trở nên chênh chao. Đến câu “Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi”, thiên nhiên dường như hòa chung với lòng người. Cơn mưa bất chợt bên ngoài cũng giống như một sự bật khóc bất ngờ của tâm hồn. Mưa rơi xuống đất, còn nỗi nhớ rơi xuống lòng người.

Từ sự vắng mặt của mẹ, người con bắt đầu nhìn thấy mẹ qua từng đồ vật thân quen:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Những hình ảnh “chum tương”, “nón mê”, “áo tơi”, “người rơm” đều rất đỗi dân dã. Không có những hình ảnh sang trọng, tác giả lựa chọn chính những vật dụng gắn với đời sống lao động của người mẹ để dựng nên chân dung mẹ. Mẹ hiện lên gián tiếp qua những gì mẹ từng sử dụng, từng chạm vào. “Chum tương mẹ đã đậy rồi” gợi một người mẹ tần tảo, chu đáo, luôn lo toan từng việc nhỏ cho gia đình.

Đặc biệt, câu thơ “Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa” có sức gợi lớn. Chiếc nón vốn là vật che nắng che mưa cho mẹ trong những buổi lao động. Nay mẹ không còn ở đó, chiếc nón lại “dầm mưa” một mình. Cách nhân hóa khiến chiếc nón như mang tâm trạng của con người. Cái “dầm mưa” của chiếc nón cũng khiến người đọc liên tưởng đến những tháng ngày mẹ đã từng dầm mưa dãi nắng vì gia đình.

Hình ảnh “áo tơi” lại tiếp tục gợi ra cuộc đời lao động nhọc nhằn:

“Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.”

Chiếc áo tơi từng theo mẹ qua “buổi cày bừa”, từng che chở mẹ giữa đồng ruộng, nay chỉ còn khoác hờ lên người rơm. Quá khứ và hiện tại đặt cạnh nhau khiến người đọc cảm nhận sâu sắc sự vắng bóng của mẹ. Những đồ vật không chỉ là đồ vật nữa mà trở thành những dấu tích của một đời người. Mẹ không xuất hiện trực tiếp nhưng lại hiện diện khắp nơi trong căn nhà và mảnh vườn.

Nếu bốn câu thơ trên khiến người đọc lặng đi vì nỗi nhớ thì khổ thơ tiếp theo lại mở ra một thế giới nhỏ bé mà ấm áp:

“Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.”

Đàn gà con “vàng ươm” gợi sức sống, sự sinh sôi của quê nhà. “Cái nơm hỏng vành” là một chi tiết tưởng như vụn vặt nhưng lại rất có hồn. Trong mắt người con, những gì thuộc về mẹ đều trở nên thân thương. Và rồi điểm nhấn cảm xúc xuất hiện ở hình ảnh “trái na cuối vụ mẹ dành phần con”. Trái na không chỉ là một thứ quả bình thường. Nó là tình yêu được mẹ gửi gắm vào một món quà nhỏ. Mẹ biết con sẽ về, hoặc đơn giản hơn, theo thói quen của tình mẫu tử, mẹ luôn nghĩ đến con ngay cả khi con không ở bên.

“Cuối vụ” càng làm hình ảnh ấy thêm xúc động. Đó là trái cuối cùng còn lại sau một mùa cây trái, nhưng mẹ không ăn mà “dành phần con”. Tình yêu của mẹ thường không ồn ào. Mẹ không nói những lời lớn lao, chỉ âm thầm để dành cho con một trái ngọt. Nhưng chính sự âm thầm ấy lại khiến người con nghẹn ngào.

Hai câu kết:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.”

như một sự dồn tụ của toàn bộ cảm xúc. “Nghẹn ngào”, “rưng rưng” diễn tả trạng thái xúc động đến mức lời nói cũng trở nên bất lực. Điều đặc biệt là tác giả không nói rằng mình xúc động bởi một sự kiện lớn lao, mà “rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày”. Chính cái giản dị mới là nơi tình mẹ hiện ra chân thật nhất.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi với đời sống nông thôn, cách kể tự nhiên như một lời tâm sự. Các chi tiết nhỏ được lựa chọn tinh tế: bếp chưa lên khói, chum tương, nón mê, áo tơi, người rơm, đàn gà, trái na... Tất cả kết nối thành một thế giới ký ức về mẹ. Đặc biệt, việc không để người mẹ xuất hiện trực tiếp lại khiến hình bóng mẹ trở nên lớn hơn: mẹ vắng mặt trong căn nhà nhưng hiện diện trong từng vật nhỏ.

“Về thăm mẹ” vì thế không chỉ là câu chuyện của một người con trong một buổi chiều. Đó còn là lời nhắc nhở về cách con người nhận ra giá trị của yêu thương: đôi khi chúng ta chỉ thật sự nhìn thấy sự hiện diện của một người khi người ấy vắng mặt. Mẹ không cần những điều lớn lao để trở thành trung tâm của mái nhà. Mẹ ở trong làn khói bếp, trong chiếc áo cũ, trong trái na cuối vụ và trong cả những điều bình thường mà ta từng vô tình đi qua.

Khép lại bài thơ, dư âm còn đọng lại không phải là một nỗi buồn tuyệt vọng mà là một tình yêu trong trẻo, sâu nặng. Có lẽ bởi tình mẹ vốn giống như mạch nước ngầm: lặng lẽ chảy qua đời người, đến khi ta cúi xuống lắng nghe mới nhận ra nó đã nuôi dưỡng mình từ bao giờ. “Về thăm mẹ” vì thế khiến người đọc rưng rưng không phải bởi những lời bi lụy, mà bởi một sự thật rất đỗi giản dị: mẹ thường yêu con bằng những điều nhỏ bé nhất, còn con đôi khi phải đi qua thật nhiều khoảng cách mới hiểu hết được độ sâu của tình yêu ấy.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải