1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện thơ Nôm Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về đặc sắc nội dung, nghệ thuật của đoạn trích: "Mười ngày đã tới ải Đồng...Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay"(Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua - Trích Lục Vân Tiên; Nguyễn Đình Chiểu) hay nhất>
1. Mở đoạn Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc, tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên tiêu biểu cho tinh thần nghĩa khí và lòng trung thủy. Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích "Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua" (cảnh tự vẫn ở ải Đồng) là một trong những phân đoạn cảm động nhất, khắc họa sâu sắc bi kịch số phận và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Kiều Nguyệt Nga.
Dàn ý
1. Mở đoạn
Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc, tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên tiêu biểu cho tinh thần nghĩa khí và lòng trung thủy.
Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích "Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua" (cảnh tự vẫn ở ải Đồng) là một trong những phân đoạn cảm động nhất, khắc họa sâu sắc bi kịch số phận và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Kiều Nguyệt Nga.
2. Thân đoạn
Bối cảnh không gian và thời gian:
Ải Đồng, biển rộng đùng đùng sóng xao: Không gian rợn ngợp, mênh mông báo trước một tương lai bất định, đầy sóng gió.
Đêm trăng vàng vặc, sao mờ, chân trời lặng lẽ: Thời gian đêm khuya cô tịch, làm nổi bật sự cô đơn, trơ trọi của con người trước vũ trụ bao la.
Nỗi lòng và bi kịch của Kiều Nguyệt Nga:
Nỗi đau đớn khi tình duyên lỡ dở (nhớ nỗi tóc tơ chẳng còn).
Sự bàng hoàng trước cảnh vật đổi sao dời, mất đi phương hướng cuộc đời (Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?).
Vẻ đẹp lòng thủy chung và hành động quyết liệt:
Nàng lén ra một mình lúc quân hầu đã ngủ, mượn vầng trăng thanh làm chứng cho lời thề nguyền.
Tiếng gọi thiết tha gửi tới người yêu (Vân Tiên anh hỡi có hay?) khẳng định tấm lòng son sắt, trọn vẹn nghĩa tình.
Hành động mang theo bức tượng Vân Tiên và nhảy xuống dòng nước: Minh chứng cho sự hy sinh để bảo toàn tiết hạnh, từ chối cuộc sống ô nhục khi phải cống cho giặc.
Đặc sắc nghệ thuật:
Thể thơ lục bát truyền thống uyển chuyển, giàu chất trữ tình.
Bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, ngôn ngữ mộc mạc nhưng trau chuốt, giàu sức gợi cảm và đậm chất Nam Bộ.
3. Kết đoạn
Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
Bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc và sự trân trọng đối với hình tượng người phụ nữ Việt Nam thủy chung, kiên trinh qua ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Đình Chiểu.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Trong đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua”, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga trong thời khắc bi thương nhất cuộc đời. Giữa không gian biển cả mênh mang, đêm trăng tĩnh lặng và cô quạnh, nỗi nhớ thương, đau đớn của nàng hiện lên da diết qua những lời than đầy xót xa. Dẫu rơi vào cảnh ngộ éo le, phải xa người mình yêu, Nguyệt Nga vẫn một lòng son sắt, thủy chung với Vân Tiên. Lời thề nguyền dưới ánh trăng cùng hành động gieo mình xuống biển đã làm sáng ngời phẩm chất trọng nghĩa, giữ trọn tiết hạnh của người con gái Nam Bộ. Đoạn trích còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật miêu tả cảnh ngụ tình đặc sắc, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và biểu cảm. Những yếu tố ấy đã góp phần tạo nên hình tượng Kiều Nguyệt Nga giàu đức hạnh, để lại niềm cảm phục sâu sắc trong lòng người đọc.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Có phải trong những thử thách khắc nghiệt nhất, vẻ đẹp tâm hồn con người mới tỏa sáng rực rỡ? Đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” đã để lại trong lòng người đọc niềm xúc động sâu xa về phẩm chất cao đẹp của Kiều Nguyệt Nga. Giữa biển rộng trời cao, sóng nước mênh mang và đêm khuya tĩnh lặng, nỗi cô đơn, nhớ thương người tri kỉ như dâng đầy trong tâm hồn nàng. Câu hỏi đau đáu: “Người còn về đâu?” chất chứa biết bao xót xa, khắc khoải. Dù đứng trước ranh giới sinh tử, Nguyệt Nga vẫn giữ trọn lời thề son sắt với Vân Tiên, quyết không để danh tiết bị hoen ố. Hành động ôm tượng Vân Tiên rồi gieo mình xuống biển không chỉ thể hiện tình yêu thủy chung mà còn làm ngời lên khí tiết và lòng trọng nghĩa đáng quý. Thành công của đoạn trích còn nằm ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế, bút pháp xây dựng tâm lí nhân vật chân thực cùng ngôn ngữ bình dị mà giàu sức lay động. Hình ảnh Kiều Nguyệt Nga vì thế hiện lên đẹp như một đóa sen thanh khiết giữa sóng gió cuộc đời, khiến người đọc không khỏi cảm phục và yêu mến.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Giữa không gian biển trời vô tận, hình ảnh Kiều Nguyệt Nga hiện lên với vẻ đẹp khiến lòng người không khỏi rung động. Những câu thơ mở ra một khung cảnh đêm khuya vắng lặng, sóng nước mênh mang như hòa cùng nỗi buồn chất chứa trong tâm hồn người thiếu nữ. Nỗi nhớ Vân Tiên không chỉ là niềm thương yêu của đôi lứa mà còn là sự trân trọng ân nghĩa sâu nặng. Câu nói “Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng” vang lên như lời thề sắt son, khẳng định tấm lòng thủy chung son đỏ trước mọi biến cố. Chọn cái chết để bảo toàn nhân phẩm và nghĩa tình, Nguyệt Nga đã làm sáng ngời vẻ đẹp của người phụ nữ giàu đức hạnh, trọng ân tình hơn cả sinh mệnh. Đặc sắc của đoạn trích còn được tạo nên bởi nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế, bút pháp tả cảnh ngụ tình giàu sức gợi và ngôn ngữ mộc mạc, đậm màu sắc dân gian. Từ đó, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc sâu trong lòng người đọc hình tượng Kiều Nguyệt Nga như biểu tượng của lòng chung thủy, nghĩa tình và phẩm giá cao đẹp.
Bài tham khảo Mẫu 1
Đoạn trích tái hiện cảnh Kiều Nguyệt Nga tự vẫn tại ải Đồng trong Truyện Lục Vân Tiên là một nốt lặng đầy đau xót, ngợi ca vẻ đẹp tiết hạnh và lòng thủy chung son sắt của người phụ nữ. Giữa không gian biển khơi “mênh mông đùng đùng sóng xao” và đêm trăng cô tịch, hình ảnh nàng Nguyệt Nga hiện lên đầy cô đơn, trơ trọi trước cõi lòng đang dậy sóng. Cảnh vật trần gian tĩnh lặng như tờ càng làm nổi bật nỗi đau đớn tột cùng của một tâm hồn đang mang nặng bi kịch thề nguyền lỡ dở. Đứng trước ngưỡng cửa của sự tủi nhục khi bị ép đi cống giặc, nàng đã chọn cách đối diện với định mệnh bằng một tấm lòng kiên trinh, thuần khiết. Trong lén lút và đơn độc, nàng mượn vầng trăng thanh làm chứng nhân cho lời thề nguyền trung trinh với người yêu dấu. Tiếng gọi “Vân Tiên anh hỡi có hay” cất lên tha thiết, vừa là lời vĩnh biệt trần thế, vừa là lời khẳng định ý chí giữ trọn đạo nghĩa của một người con gái chính chuyên. Hành động ôm bức tượng Vân Tiên nhảy xuống dòng nước xiết chính là đỉnh điểm của lòng chung thủy, sự phản kháng mạnh mẽ trước số phận bất công để bảo toàn danh tiết. Bằng thể thơ lục bát nhịp nhàng kết hợp bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ khắc họa thành công một bức tượng đài về lòng chung thủy mà còn khơi dậy trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc trước số phận người phụ nữ xưa.
Bài tham khảo Mẫu 2
Giữa cõi thơ đượm vị phong trần của Nguyễn Đình Chiểu, đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” rớt vào lòng em như một nốt trầm rớm lệ, ngân vang khúc ca thanh cao về lòng son sắt vô bờ. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa, cụ Đồ Chiểu đã mượn không gian rợn ngợp của ải Đồng với tiếng sóng “đùng đùng xao” để soi thấu bóng hình cô độc cùng nỗi đau bẽ bàng của người thiếu nữ trước bão tố cuộc đời. Giữa nghịch cảnh éo le, Nguyệt Nga không hề khuất phục; nàng lén ra mở rèm châu, mượn vầng trăng vằng vặc làm chứng nhân cho lời thề nguyện sắt đá “Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng”. Tiếng gọi hoài vọng “Vân Tiên anh hỡi có hay?” vang lên giữa đêm tịch mịch bỗng trở thành điểm tựa tinh thần thiêng liêng, khẳng định tình yêu vượt qua cả ranh giới âm dương. Đỉnh điểm của xúc cảm được đẩy lên cao trào khi nàng ôm chặt bức tượng người thương, dứt khoát “vội vàng nhảy ngay” xuống dòng nước xiết. Bi kịch trầm mình này hoàn toàn không phải sự đầu hàng bất lực, trái lại, đó là lời phản kháng kiêu hãnh của một bậc liệt nữ nhằm bảo toàn thiên tính nữ sạch trong trước bạo tàn cường quyền. Dòng sông lạnh năm ấy dẫu chảy xiết đến đâu cũng chẳng thể nhấn chìm được hương thơm danh tiết của nàng, để lại trong tâm hồn thế hệ học sinh hôm nay một khoảng lặng đầy tôn kính, tự hào về một nhân cách ngời sáng dẫu thác vẫn vẹn nghĩa trọn tình.
Bài tham khảo Mẫu 3
Trong dòng chảy của truyện thơ Lục Vân Tiên, đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” đã khắc họa xúc động vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga qua tình huống bi thương và quyết liệt. Giữa hành trình bị ép đem cống cho giặc, nàng hiện lên với nỗi cô đơn, đau đớn đến tận cùng. Không gian biển đêm mênh mang với “biển rộng đùng đùng sóng xao”, “bóng trăng vàng vặc bóng sao mờ mờ” vừa gợi sự lạnh lẽo, hoang vắng, vừa phản chiếu tâm trạng bơ vơ, tuyệt vọng của người thiếu nữ lưu lạc. Trong khung cảnh ấy, nỗi nhớ thương và lòng thủy chung son sắt dành cho Lục Vân Tiên càng trở nên tha thiết. Những lời độc thoại đầy nghẹn ngào: “Vân Tiên anh hỡi có hay? / Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng” đã bộc lộ tấm lòng nghĩa tình, trước sau như một của Nguyệt Nga. Đặc biệt, hành động ôm tượng Vân Tiên rồi gieo mình xuống dòng nước dữ thể hiện sự lựa chọn đầy bi tráng: thà hi sinh tính mạng còn hơn đánh mất danh tiết và phụ nghĩa ân nhân. Thành công của đoạn trích còn được tạo nên từ nghệ thuật miêu tả cảnh ngụ tình đặc sắc, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự, trữ tình và độc thoại nội tâm. Bởi thế, hình tượng Kiều Nguyệt Nga hiện lên như biểu tượng đẹp đẽ của lòng thủy chung, đức hi sinh và phẩm giá cao quý của người phụ nữ Việt Nam trong quan niệm đạo đức truyền thống.
Bài tham khảo Mẫu 4
Những vần thơ trong đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” từ lâu đã trở thành khúc ca thanh cao mà đầy bi tráng về tiết hạnh của người phụ nữ trước giông bão cuộc đời. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình kết hợp hài hòa với chất tự sự đặc trưng, Nguyễn Đình Chiểu mở ra một không gian ải Đồng rợn ngợp với sóng gió “đùng đùng xao” và ánh trăng “vàng vặc” cô liêu, phản chiếu trọn vẹn nỗi niềm cô độc, ngổn ngang của nàng Nguyệt Nga. Giữa lằn ranh của số phận nghiệt ngã, tiếng gọi hoài vọng “Vân Tiên anh hỡi có hay?” cất lên lay động tâm can, biến đêm đen thành thánh đường của tình yêu và lòng thủy chung son sắt. Hành động dứt khoát ôm chặt bức tượng người thương, “nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay” không thuần túy là sự đầu hàng số phận; đó là một sự phản kháng đầy kiêu hãnh để bảo toàn thiên tính nữ sạch trong trước bạo tàn cường quyền. Điệu lục bát uyển chuyển dồn dập về cuối đoạn kết hợp với ngôn ngữ mộc mạc, đậm đà phong vị Nam Bộ đã tạc vào tâm khảm người đọc hình tượng một bậc liệt nữ thanh cao, để lại dư âm kính phục xen lẫn xót thương suốt hàng thế kỷ.
Bài tham khảo Mẫu 5
Giữa những trang thơ thấm đẫm tinh thần nhân nghĩa của Lục Vân Tiên, đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” để lại trong lòng người đọc niềm xúc động sâu xa bởi bi kịch đau thương cùng vẻ đẹp tâm hồn rạng ngời của người thiếu nữ tài sắc. Trên hành trình lưu lạc, Nguyệt Nga phải đối diện với nghịch cảnh nghiệt ngã nhất của cuộc đời. Không gian biển đêm hiện lên vừa rộng lớn vừa lạnh vắng: “biển rộng đùng đùng sóng xao”, “trăng vàng vặc”, “sao mờ mờ”, “chân trời lặng lẽ như tờ”. Cảnh vật tưởng như vô tri lại mang nặng nỗi niềm, trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng cô đơn, hoang mang và đau đớn của người con gái đang đứng trước ranh giới sinh tử. Giữa khoảnh khắc chỉ còn một mình đối diện với biển cả bao la, trái tim Nguyệt Nga vẫn hướng trọn về người đã cứu mình năm nào. Tiếng gọi “Vân Tiên anh hỡi có hay?” vang lên tha thiết như một lời gửi gắm cuối cùng, chứa đựng cả tình yêu, lòng biết ơn và đức thủy chung son sắt. Cao đẹp hơn cả là quyết định gieo mình xuống dòng nước dữ. Đó không phải hành động của sự yếu đuối, mà là sự lựa chọn đầy khí tiết của một con người quyết giữ trọn nghĩa tình và phẩm giá. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, nghệ thuật độc thoại nội tâm giàu cảm xúc cùng ngôn ngữ thơ bình dị mà lay động lòng người, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên bức chân dung Kiều Nguyệt Nga vừa dịu dàng, đằm thắm, vừa kiên cường, cao quý. Hình ảnh ấy tỏa sáng như một đóa hoa nhân nghĩa giữa phong ba cuộc đời, khiến người đọc thêm trân trọng vẻ đẹp của lòng chung thủy và đức hi sinh trong tâm hồn con người.
Bài tham khảo Mẫu 6
Đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” đã tạc vào dòng thời gian một bức tượng đài nghệ thuật bất tử về lòng thủy chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Dưới ngòi bút tả cảnh ngụ tình uyển chuyển của Nguyễn Đình Chiểu, không gian ải Đồng rợn ngợp với sóng gió “đùng đùng xao” bỗng trở thành tấm gương soi chiếu nỗi cô đơn cùng cực và giông bão trong lòng người thiếu nữ. Đứng trước lằn ranh số phận, Kiều Nguyệt Nga không hề khuất phục; nàng chọn đối thoại với vầng trăng thanh để gửi gắm lời thề nguyện sắt đá "Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng". Hình ảnh nàng ôm chặt bức tượng người yêu rồi "vội vàng nhảy ngay" xuống dòng nước xiết chính là đỉnh điểm của bi kịch, đồng thời cũng là một sự phản kháng đầy kiêu hãnh nhằm bảo toàn thiên tính nữ sạch trong trước bạo tàn cường quyền. Bằng thể thơ lục bát đậm đà phong vị Nam Bộ kết hợp nhịp điệu dồn dập ở những câu cuối, tác giả đã biến cái chết thanh cao của Nguyệt Nga thành một khúc ca bi tráng, gieo vào tâm khảm người đọc niềm kính phục và xót thương sâu sắc cho một kiếp hồng nhan vẹn nghĩa trọn tình.
Bài tham khảo Mẫu 7
Giữa những lớp sóng dữ của biển khơi và những biến động khắc nghiệt của số phận, vẻ đẹp của con người thường bừng sáng hơn bao giờ hết. Đoạn trích Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua đã để lại trong lòng người đọc niềm thương cảm sâu sắc khi tái hiện bi kịch đau đớn của Kiều Nguyệt Nga, đồng thời làm ngời lên những phẩm chất cao đẹp trong tâm hồn nàng. Không gian biển đêm hiện lên rộng dài, lạnh vắng với tiếng sóng “đùng đùng sóng xao”, ánh trăng vàng trải khắp mặt nước và chân trời lặng im đến rợn ngợp. Bức tranh thiên nhiên ấy như mang hình hài của nỗi cô đơn, phản chiếu tâm trạng đau xót của người con gái đang bị đẩy đến bước đường cùng. Trước cảnh ngộ éo le, Nguyệt Nga vẫn đau đáu hướng về Lục Vân Tiên – người đã cứu nàng khỏi cơn hoạn nạn. Tiếng gọi “Vân Tiên anh hỡi có hay?” vang lên giữa biển trời mênh mông như một tiếng lòng tha thiết, kết tinh của tình yêu, lòng biết ơn và đức thủy chung son sắt. Đỉnh điểm của cảm xúc là hành động ôm tượng Vân Tiên rồi gieo mình xuống dòng nước dữ để bảo toàn danh tiết và trọn vẹn nghĩa tình. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình giàu sức gợi, ngôn ngữ mộc mạc mà thấm đẫm cảm xúc cùng cách khắc họa nội tâm tinh tế, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng thành công hình tượng Kiều Nguyệt Nga đẹp trong đau thương, cao cả trong nghịch cảnh. Khép lại những câu thơ ấy, dư âm còn đọng lại không phải là tiếng sóng giữa biển đêm, mà là ánh sáng của một tấm lòng thủy chung, nghĩa khí vẫn lấp lánh và lay động trái tim người đọc qua bao thế hệ.
Bài tham khảo Mẫu 8
Trong đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua”, Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên một khúc bi ca thấm đẫm nước mắt về số phận và phẩm giá của người phụ nữ. Giữa biển khơi mênh mang, tiếng sóng “đùng đùng” như dội vào lòng người nỗi bất an, tuyệt vọng. Không gian đêm khuya với ánh trăng vàng vặc, bầu trời sao nhạt nhòa và chân trời “lặng lẽ như tờ” trải rộng một màu cô quạnh, khiến nỗi nhớ thương trong lòng Nguyệt Nga càng thêm da diết. Đứng trước nghịch cảnh nghiệt ngã, nàng không chỉ đau vì thân phận lưu lạc mà còn khắc khoải hướng về người tri kỉ. Tiếng gọi “Vân Tiên anh hỡi có hay?” cất lên như tiếng lòng nghẹn ngào, chứa đựng biết bao yêu thương, biết ơn và son sắt. Trong khoảnh khắc cuối cùng của đời mình, Nguyệt Nga vẫn nguyện giữ trọn lời thề, quyết không để danh tiết và nghĩa tình bị hoen ố. Hành động ôm tượng Vân Tiên rồi gieo mình xuống dòng nước dữ đã làm bừng sáng vẻ đẹp của một tâm hồn thủy chung, trọng nghĩa hơn sinh mệnh. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức lay động cùng khả năng khắc họa nội tâm sâu sắc, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên hình tượng Kiều Nguyệt Nga như một đóa sen thanh khiết, càng tỏa hương ngát càng rực sáng giữa giông bão cuộc đời.
Bài tham khảo Mẫu 9
Có những trang thơ khiến người đọc không chỉ cảm nhận bằng lí trí mà còn rung lên bởi những nhịp đập sâu kín của trái tim. Đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua” là một trong những trang thơ như thế, nơi Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa cảm động vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga giữa thời khắc đau thương nhất của cuộc đời. Giữa biển trời mênh mông, tiếng sóng “đùng đùng” vang dội như những cơn bão đang cuộn lên trong lòng người thiếu nữ. Ánh trăng vàng vặc, bầu trời sao nhạt nhòa, chân trời lặng ngắt trải ra một không gian cô quạnh đến nao lòng, làm nổi bật nỗi nhớ thương và sự cô đơn của nàng. Trong giây phút đối diện với lựa chọn nghiệt ngã của số phận, trái tim Nguyệt Nga vẫn chỉ hướng về Lục Vân Tiên. Tiếng gọi “Vân Tiên anh hỡi có hay?” cất lên tha thiết như một lời từ biệt nghẹn ngào, chứa đựng cả tình yêu, lòng biết ơn và sự thủy chung son sắt. Hành động ôm tượng Vân Tiên rồi gieo mình xuống biển không chỉ là sự phản kháng trước hoàn cảnh éo le mà còn là minh chứng cho khí tiết cao đẹp của một con người trọng nghĩa tình hơn cả mạng sống. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế cùng ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại trong lòng người đọc niềm xúc động sâu xa về vẻ đẹp bất tử của lòng thủy chung và nhân cách con người. Dẫu thời gian có trôi xa, hình ảnh Kiều Nguyệt Nga vẫn lặng lẽ tỏa sáng như một vì sao của nghĩa tình, khiến mỗi chúng ta thêm trân trọng những giá trị cao quý làm nên vẻ đẹp của tâm hồn Việt Nam.
Bài tham khảo Mẫu 10
Bước qua những trang thơ đẫm lệ của Nguyễn Đình Chiểu trong đoạn trích “Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua”, lòng em cứ nhói lên niềm xót thương khôn nguôi trước bóng hình một người con gái thủy chung son sắt giữa giông bão cuộc đời. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa, nhà thơ mượn không gian ải Đồng rợn ngợp cùng tiếng sóng “đùng đùng xao” để lột tả trọn vẹn nỗi cô đơn tột cùng và những ngổn ngang trong lòng Nguyệt Nga. Dẫu bị đẩy vào cảnh ngộ bẽ bàng, trái tim người con gái ấy chưa một khắc nguôi quên lời thề ước năm xưa. Tiếng gọi tha thiết “Vân Tiên anh hỡi có hay?” hòa vào bóng trăng thanh vắng lặng bỗng trở thành khúc ca bất tử của một tình yêu kiên định, vẹn tròn. Để rồi, hành động ôm chặt bức tượng người thương, dứt khoát “vội vàng nhảy ngay” xuống dòng nước xiết đã đẩy cảm xúc người đọc lên cao trào của sự nghẹn ngào. Cái chết ấy không phải là sự buông xuôi, mà là cách nàng dùng chính mạng sống để bảo toàn danh tiết thanh cao, dập tắt mọi âm mưu của cường quyền bạo ngược. Khép lại đoạn trích, hình bóng kiều nữ trầm mình nơi dòng sông lạnh không làm không gian tăm tối đi, ngược lại, nó thắp sáng trong tâm hồn thế hệ học sinh chúng em lòng kính phục sâu sắc về một nhân cách sáng trong như ngọc, dẫu thác vẫn vẹn nghĩa trọn tình.
- Top 45 Đoạn văn nêu cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều qua đoạn trích sau:“Ôm lòng đòi đoạn xa gần…Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” hay nhất
- Top 45 Đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu) phân tích nội dung và nghệ thuật 4 câu thơ cuối trong đoạn trích:"Ngọn đèn khi tỏ khi mờ…Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày."(Truyện Kiều) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu) phân tích nội dung và nghệ thuật 4 câu thơ cuối trong đoạn trích:"Ngọn đèn khi tỏ khi mờ…Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.“ (Truyện Kiều) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn (khoảng 8 - 10 câu) phân tích nét tính cách mà em yêu thích ở nhân vật Ngư ông trong đoạn trích:" Đêm khuya trong vời Hàn Giang" (Lục Vân Tiên và những vấn đề của Nguyễn Đình Chiểu) hay nhất
- Top 45 đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong đoạn trích ""Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa ... Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?"" (Truyện Kiều - Nguyễn Du) hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm từ một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THCS, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Thơ là sứ giả của tình yêu” (Nguyễn Hữu Quý) hay nhất
- Top 45 bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài thơ Lời của chim hải âu của Nguyễn Đình Tâm. Từ đó, bàn luận về ý kiến sau: "Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính
- Top 45 Bài văn trình bày cảm nhận về những biểu hiện của tình yêu nước qua một số tác phẩm thơ yêu thích hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm Khi con tu hú, hãy viết bài văn với chủ đề: “Khúc tự tình về quê hương đất nước trong tác phẩm văn chương” hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách nhữ




Danh sách bình luận