1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện ngắn

"M. Gorki khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Từ câu nói của M.Gorki và truyện ngắn Sạ của Nguyễn Huy Thiệp, anh/chị hãy viết bài văn nghị l


- Dẫn dắt: Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu đời sống mà còn là tiếng gọi đánh thức những phần sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Như M. Gorki từng khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. - Vấn đề nghị luận: Vai trò của văn học trong việc khơi dậy khát vọng sống, khát vọng tự khẳng định mình thông qua hình tượng nhân vật Sạ trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Dẫn dắt: Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu đời sống mà còn là tiếng gọi đánh thức những phần sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Như M. Gorki từng khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”.

- Vấn đề nghị luận: Vai trò của văn học trong việc khơi dậy khát vọng sống, khát vọng tự khẳng định mình thông qua hình tượng nhân vật Sạ trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp.

II. Thân bài

1. Giải thích ý kiến của M. Gorki

- Hiểu được bản thân: Văn học là chiếc gương soi giúp con người nhìn thấu những góc khuất, ưu điểm và cả những yếu nhược của chính mình.

- Nâng cao niềm tin: Văn chương tiếp thêm sức mạnh, giúp con người tin vào giá trị tự thân và khả năng vượt qua nghịch cảnh.

- Khát vọng vươn tới chân lý: Đây là đích đến cao nhất. Chân lý không chỉ là lẽ phải khách quan mà còn là giá trị thực của đời sống, là khát khao sống một cuộc đời ý nghĩa, có ích.

=> Tóm lại: Nhận định đề cao chức năng giáo dục và nhận thức của văn học: hướng con người đến cái Chân - Thiện - Mỹ.

2. Phân tích, chứng minh qua truyện ngắn "Sạ" (Nguyễn Huy Thiệp)

a. Khát vọng tự khẳng định và làm nên "sự tích phi thường"

- Nhu cầu khẳng định cái tôi: Sạ sở hữu những năng lực vượt trội (uống rượu, săn bắn, thổi khèn, chinh phục phụ nữ). Chàng không muốn hòa tan vào đám đông, không chấp nhận nếp sống tẻ nhạt của bản làng.

- Hành động phi thường (trong mắt Sạ): Sạ sẵn sàng nhảy vào lửa vì lời thách đố, lật thuyền cá để "phóng thích" sự tự do. Đó là biểu hiện của một khát vọng mãnh liệt muốn bứt phá khỏi những quy chuẩn thông thường.

- Bi kịch: Vì quá khác biệt, Sạ bị gọi là "Thằng Điên", "Kẻ Khùng". Cộng đồng cô lập chàng, không ai tin tưởng hay giao phó việc gì. Nỗi cô đơn khủng khiếp này chính là động lực đẩy Sạ rời bản ra đi năm 30 tuổi để tìm kiếm "sự tích phi thường" ở những chân trời xa lạ (Cần Vương, đi sứ, đi đày).

b. Khát vọng sống một cuộc đời ý nghĩa (Hành trình nhận thức chân lý)

- Sự nhận thức về giá trị thực: Sau những thăng trầm oanh liệt nơi đất khách, Sạ trở về trong dáng vẻ lụ khụ, chân cụt, mắt mờ. Tuy nhiên, đây là lúc tâm hồn chàng "hoàn nguyên" và kỳ diệu nhất.

- Chân lý cuối đời: Câu nói của Sạ trước khi mất là điểm sáng nhất của tác phẩm: "Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát... mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được".

- Khát vọng cuối đời: Sạ nhận ra rằng phi thường không nằm ở những điều viển vông, xa xôi hay những chiến tích lẫy lừng mà nằm ở việc biết sống một cuộc đời bình thường nhưng trọn vẹn, có trách nhiệm với gia đình và gắn bó với quê hương. Đó mới chính là chân lý sống đích thực mà văn học muốn hướng con người tới.

c. Giá trị khát vọng của con người 

- Khát vọng là linh hồn của sự sống: Khi Sạ ra đi, bản Hua Tát trở nên buồn tẻ, nụ cười ít đi, chim chóc uể oải. Điều này khẳng định: Một con người có khát vọng (dù bị coi là điên rồ) vẫn là nguồn cảm hứng, là sức sống cho cộng đồng.

- Khát vọng của Sạ giúp độc giả “hiểu về bản thân”: ta luôn có khát khao được khẳng định giá trị của mình; cũng có những ước mơ và bất chấp tất cả để đạt được nó; cũng có những lúc cô đơn trên hành trình của mình

- Khát vọng của nhân vật giúp ta “nâng cao niềm tin vào bản thân”, “làm nảy nở khát vọng hướng tới chân lí”: dù có trải qua những ngã rẽ sai, lạc hướng thì sớm muộn ta cũng tìm được đích đến mà mình theo đuổi; chân lí: cuộc đời có ý nghĩa khi được sống là chính mình, ở bên những người yêu ta và ta yêu.

3. Đánh giá về nghệ thuật thể hiện của Nguyễn Huy Thiệp

- Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn bên ngoài

- Giọng văn: Lạnh lùng, khách quan nhưng ẩn chứa cái nhìn nhân đạo sâu.

- Kết cấu: Theo dòng thời gian tuyến tính, mang phong vị huyền thoại, cổ tích nhưng đầy tính triết lý hiện đại.

- Xây dựng nhân vật qua hành động: Sạ là hình tượng điển hình cho con người mang khát vọng sống mãnh liệt, luôn trăn trở về ý nghĩa sự tồn tại.

4. Bàn luận mở rộng 

- Đối với nhà văn: Cần có cái nhìn thấu thị, biết trân trọng và phát hiện những khát vọng cao đẹp của con người ngay cả trong những hình hài "điên rồ" hay cảnh ngộ bi kịch.

- Đối với người đọc: Văn học là nhịp cầu để ta tự đối thoại với chính mình. Đọc "Sạ", ta không chỉ thấy một câu chuyện bản mường mà thấy chính khát vọng được khẳng định mình và sống một cuộc đời ý nghĩa.

III. Kết bài

- Khẳng định lại tính đúng đắn của nhận định M. Gorki.

- Truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp là minh chứng cho sức mạnh của văn chương: thắp sáng ngọn lửa khát vọng và dẫn dắt con người tìm về với chân lý giản đơn mà vĩ đại của kiếp nhân sinh.

- Liên hệ bản thân: Cần nuôi dưỡng khát vọng và nhìn nhận cuộc sống qua lăng kính nhân văn của nghệ thuật.


Bài siêu ngắn

Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu đời sống mà còn là tiếng gọi đánh thức những phần sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Như M. Gorki từng khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Qua truyện ngắn “Sạ” của Nguyễn Huy Thiệp, ta càng thấy rõ vai trò của văn chương trong việc khơi dậy khát vọng sống và khát vọng tự khẳng định mình của mỗi cá nhân.

Lời nhận định của M. Gorki đã đề cao chức năng giáo dục và nhận thức của văn học. Văn chương là chiếc gương soi giúp ta thấu hiểu ưu điểm và cả những góc khuất yếu nhược của bản thân. Từ đó, nó tiếp thêm sức mạnh để ta tin vào giá trị tự thân, vượt qua nghịch cảnh và thôi thúc con người vươn tới “chân lý” – chính là giá trị thực của một cuộc đời ý nghĩa, có ích.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật Sạ là hiện thân của khát vọng tự khẳng định mãnh liệt. Với năng lực vượt trội, Sạ không chấp nhận nếp sống tẻ nhạt mà luôn khao khát làm nên “sự tích phi thường” qua những hành động bứt phá quy chuẩn. Dù bị cộng đồng cô lập bằng cái danh “thằng điên” và phải trải qua hành trình đơn độc nơi đất khách, Sạ đã tìm thấy chân lý thực sự khi trở về. Chàng nhận ra “sự tích phi thường” nhất chính là được sống một cuộc đời bình thường nhưng trọn vẹn, trách nhiệm bên gia đình và quê hương. Khát vọng của Sạ không chỉ là linh hồn khiến bản Hua Tát bớt buồn tẻ mà còn giúp độc giả hiểu về khao khát khẳng định mình, nâng cao niềm tin rằng dù lạc lối, ta vẫn có thể tìm thấy đích đến ý nghĩa.

Bằng ngôi kể thứ ba khách quan cùng giọng văn lạnh lùng đầy triết lý, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng một hình tượng điển hình cho con người luôn trăn trở về sự tồn tại. Tác phẩm nhắc nhở nhà văn cần có cái nhìn thấu thị để trân trọng những khát vọng cao đẹp, đồng thời giúp người đọc tự đối thoại với chính mình.

Tóm lại, nhận định của M. Gorki hoàn toàn đúng đắn. Truyện ngắn “Sạ” đã thắp sáng ngọn lửa khát vọng, dẫn dắt con người tìm về chân lý giản đơn mà vĩ đại. Mỗi chúng ta cần nhìn nhận cuộc sống qua lăng kính nhân văn của nghệ thuật để nuôi dưỡng những ước vọng sống cao đẹp hơn.

Bài tham khảo Mẫu 1

"Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng", lời khẳng định ấy của Hoài Thanh đã tạc khắc vào tâm trí người đọc về sức mạnh phản chiếu kỳ diệu của nghệ thuật. Văn học không chỉ đơn thuần là những dòng chữ trên trang giấy, mà nó là tiếng gọi từ trái tim nhà văn đánh thức những phần sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Đứng trước sức mạnh ấy, M. Gorki đã có một nhận định đầy xác đáng: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Thông qua truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp, ta càng thấy rõ vai trò của văn học trong việc khơi dậy khát vọng sống và khát vọng tự khẳng định mình của con người giữa cuộc đời đầy biến động.

Trước hết, ý kiến của M. Gorki đã đề cao một cách toàn diện chức năng giáo dục và nhận thức của văn học. Khi nói văn học giúp con người hiểu được bản thân, ta hiểu rằng tác phẩm nghệ thuật giống như một chiếc gương soi thần kỳ. Ở đó, người đọc có thể nhìn thấu những góc khuất, những ưu điểm lẫn những yếu nhược, sai lầm của chính mình mà đời thường ta đôi khi cố tình lãng quên. Không dừng lại ở việc soi chiếu, văn chương còn nâng cao niềm tin, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để con người tin vào giá trị tự thân, tin vào khả năng vượt qua nghịch cảnh để vươn lên. Đích đến cuối cùng và cao nhất mà nghệ thuật hướng tới là làm nảy nở khát vọng vươn tới chân lý. Chân lý ở đây không chỉ là những lẽ phải khách quan khô khan, mà là giá trị thực chất của đời sống, là khát khao được sống một cuộc đời ý nghĩa, có ích, hướng con người tới cái Chân - Thiện - Mỹ vẹn toàn.

Truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp chính là một minh chứng sống động cho nhận định trên, bắt đầu từ khát vọng tự khẳng định và làm nên sự tích phi thường của nhân vật chính. Sạ không phải là một người bình thường theo tiêu chuẩn của bản Hua Tát. Chàng sở hữu những năng lực vượt trội từ việc uống rượu, săn bắn đến thổi khèn và chinh phục phụ nữ. Nhu cầu khẳng định cái tôi trong Sạ vô cùng mãnh liệt, chàng không muốn hòa tan vào đám đông hay chấp nhận nếp sống tẻ nhạt, quanh quẩn của bản làng. Trong mắt Sạ, những hành động như nhảy vào lửa vì lời thách đố hay lật thuyền cá để phóng thích sự tự do chính là biểu hiện của một khát khao bứt phá khỏi những quy chuẩn chật hẹp. Tuy nhiên, bi kịch ập đến khi chính sự dị biệt ấy khiến chàng bị cộng đồng gọi là thằng điên, kẻ khùng. Sự cô lập và ghẻ lạnh của dân bản đã trở thành động lực cay đắng đẩy Sạ ra đi năm ba mươi tuổi để tìm kiếm sự tích phi thường nơi phương trời xa lạ qua các cuộc phiêu lưu từ Cần Vương đến đi sứ, đi đày.

Hành trình của Sạ thực chất là một cuộc hành trình nhận thức chân lý để sống một cuộc đời ý nghĩa hơn. Sau những thăng trầm oanh liệt nơi đất khách, Sạ trở về trong dáng vẻ một ông lão lụ khụ, chân cụt, mắt mờ. Thế nhưng, đây lại là lúc tâm hồn chàng trở nên hoàn nguyên và kỳ diệu nhất. Điểm sáng nhất của tác phẩm nằm ở câu nói của Sạ trước khi mất: "Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời, mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được". Khát vọng cuối đời của Sạ đã có sự chuyển biến sâu sắc. Chàng nhận ra chân lý rằng sự phi thường không nằm ở những chiến tích lẫy lừng viễn vông, mà nằm ở việc biết sống một cuộc đời bình thường nhưng trọn vẹn, biết gắn bó và có trách nhiệm với gia đình, quê hương. Đó chính là đích đến chân thực mà văn học muốn hướng con người tới.

Giá trị khát vọng con người trong tác phẩm còn được thể hiện qua sự tác động của nó đối với cộng đồng và độc giả. Khi Sạ ra đi, bản Hua Tát trở nên buồn tẻ, nụ cười ít đi và cả thiên nhiên cũng như uể oải. Điều này khẳng định rằng một con người có khát vọng sống mạnh mẽ, dù bị coi là điên rồ, vẫn là nguồn cảm hứng và linh hồn cho cộng đồng. Qua hình tượng Sạ, văn học giúp độc giả hiểu về bản thân mình khi nhận ra ai cũng từng có khát khao khẳng định giá trị, từng có những lúc cô đơn trên hành trình thực hiện ước mơ. Đồng thời, nó nâng cao niềm tin cho mỗi người rằng dù có những ngã rẽ sai lầm, ta vẫn sẽ tìm được chân lý: cuộc đời chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta được là chính mình và sống trong tình yêu thương.

Về phương diện nghệ thuật, Nguyễn Huy Thiệp đã thể hiện một bút pháp bậc thầy. Với ngôi kể thứ ba và điểm nhìn bên ngoài, nhà văn tạo ra một khoảng cách cần thiết để quan sát nhân vật một cách khách quan. Giọng văn lạnh lùng, trung tính nhưng ẩn chứa bên dưới là một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đúng như Thạch Lam từng nói: "Thiên chức nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn". Kết cấu truyện mang phong vị huyền thoại nhưng chứa đựng triết lý hiện đại đã tạc khắc nên hình tượng Sạ - một con người mang khát vọng sống mãnh liệt, luôn trăn trở về ý nghĩa sự tồn tại.

Từ câu chuyện về cuộc đời Sạ, ta nhận thấy rằng đối với nhà văn, cần phải có một cái nhìn thấu thị để phát hiện những khát vọng cao đẹp khuất lấp sau những hình hài có vẻ điên rồ. Đối với người đọc, văn học chính là nhịp cầu để ta tự đối thoại với chính mình. Đọc "Sạ", ta không chỉ đọc một câu chuyện về bản mường xa xôi, mà là đọc về chính khát vọng được khẳng định và sống ý nghĩa của chính mình.

Nhận định của M. Gorki đã khẳng định một chân lý bất biến về giá trị của văn chương. Truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp chính là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh ấy, khi nó thắp sáng ngọn lửa khát vọng và dẫn dắt con người tìm về với những giá trị giản đơn nhưng vĩ đại của kiếp nhân sinh. Qua đó, mỗi chúng ta cần biết nuôi dưỡng những khát khao chân chính và nhìn nhận cuộc sống bằng một trái tim đầy nhân văn.


Bài tham khảo Mẫu 2

Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người.” Câu nói của Nguyễn Minh Châu đã khẳng định vị thế trung tâm của con người trong sáng tạo nghệ thuật. Để phản chiếu con người một cách sâu sắc nhất, văn học phải chạm đến những khát vọng thầm kín và mãnh liệt nhất của họ. Bàn về sức mạnh lay động này, danh hào M. Gorki từng khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Qua truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta sẽ thấy được cách mà văn chương khơi gợi những khát vọng tự khẳng định mình và hướng con người đến những giá trị sống đích thực.

Ý kiến của M. Gorki đã bao quát trọn vẹn thiên chức của văn học đối với đời sống con người. Văn học không chỉ là sự sao chép đời thực mà là một chiếc gương soi giúp con người hiểu được bản thân. Qua các nhân vật và tình huống, ta nhìn thấy những khao khát, nỗi sợ hãi hay cả những lầm lỗi của mình được tái hiện. Từ sự thấu hiểu đó, văn chương tiếp thêm niềm tin, khẳng định giá trị tự thân của mỗi cá nhân trước những sóng gió cuộc đời. Quan trọng hơn cả, nghệ thuật làm nảy nở khát vọng vươn tới chân lý. Chân lý ở đây chính là sự ăn năn về đạo đức, là sự thấu hiểu lẽ đời, là kh khao sống một cuộc đời có ý nghĩa và giá trị, giúp con người không ngừng hoàn thiện bản thân để hướng tới cái đẹp cao cả.

Trong truyện ngắn "Sạ", Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo để làm nổi bật khát vọng tự khẳng định của con người. Sạ xuất hiện với những năng lực vượt trội, từ khả năng uống rượu, săn bắn đến tài thổi khèn. Chàng mang trong mình nhu cầu khẳng định cái tôi vô cùng mạnh mẽ, không muốn chấp nhận một cuộc đời bằng phẳng, tẻ nhạt như bao người dân bản khác. Những hành động bị coi là điên rồ như nhảy vào lửa hay lật thuyền cá thực chất là cách Sạ phóng thích khát vọng tự do và khẳng định bản sắc cá nhân. Nhưng trớ trêu thay, chính khát vọng ấy đã dẫn đến bi kịch khi Sạ bị cộng đồng cô lập, bị gọi là thằng khùng. Sự cô đơn và khát khao được công nhận đã trở thành sức mạnh đẩy Sạ rời xa quê hương, dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đầy bất trắc suốt nhiều năm ròng để tìm kiếm cái gọi là sự tích phi thường.

Hơn hết, giá trị sâu sắc nhất mà tác phẩm mang lại chính là khát vọng sống một cuộc đời ý nghĩa thông qua hành trình nhận thức chân lý của Sạ. Sau bao năm bôn ba, Sạ trở về bản Hua Tát với hình hài tàn phế. Nhưng chính trong sự lụ khụ, chân cụt ấy, tâm hồn Sạ lại đạt đến độ hoàn nguyên đẹp đẽ nhất. Chân lý cuối đời mà Sạ đúc kết đã làm sáng bừng cả tác phẩm: "Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát... mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được". Khát vọng của Sạ lúc này đã không còn là những điều viển vông, xa lạ. Chàng nhận ra rằng sống có trách nhiệm với gia đình, gắn bó với bản làng mới thực sự là điều phi thường nhất. Đây chính là chân lý sống mà văn học muốn hướng con người tới: sự giản đơn nhưng tràn đầy tình thương và trách nhiệm.

Khát vọng của Sạ mang một giá trị nhân văn to lớn, nó chứng minh rằng khát vọng chính là linh hồn của sự sống. Khi vắng bóng Sạ, bản Hua Tát trở nên u sầu, thiếu vắng nụ cười, cho thấy vai trò của một cá nhân có khát vọng mạnh mẽ đối với sức sống của cộng đồng. Đồng thời, khát vọng của nhân vật còn giúp người đọc hiểu về chính mình. Chúng ta nhìn thấy trong Sạ bóng dáng của bản thân với những ước mơ cháy bỏng và cả những lúc cô đơn vì không được thấu hiểu. Từ đó, văn chương nâng cao niềm tin vào bản thân cho người đọc, nhắc nhở ta rằng dù có trải qua những ngã rẽ sai lầm, nếu kiên trì với chân lý sống đích thực là được là chính mình bên những người thân yêu, ta sẽ tìm thấy hạnh phúc.

Để truyền tải những thông điệp sâu sắc đó, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng những hình thức nghệ thuật vô cùng độc đáo. Đúng như L.Leonop từng nói: “Mỗi tác phẩm phải là một khám phá về nội dung, một phát minh về hình thức”. Nhà văn sử dụng ngôi kể thứ ba với giọng văn lạnh lùng, khách quan, tạo nên một cái nhìn đa chiều về nhân vật. Kết cấu truyện theo dòng thời gian tuyến tính nhưng lại mang đậm màu sắc huyền thoại, khiến câu chuyện về Sạ vừa thực vừa hư, đầy tính triết lý. Nhân vật Sạ được xây dựng chủ yếu qua hành động, trở thành một hình tượng điển hình cho những con người luôn trăn trở về ý nghĩa thực sự của sự tồn tại giữa cõi nhân gian.

Qua việc phân tích khát vọng của Sạ, ta nhận thấy đối với người cầm bút, "Thiên chức của nhà văn là đi tìm cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới" như lời Thạch Lam. Nhà văn cần phải thấu hiểu những khát vọng cao đẹp ẩn sau vẻ ngoài dị biệt của con người. Đối với người đọc, văn chương không phải là sự thoát ly mà là nhịp cầu để ta đối diện với chính mình. Đọc "Sạ", ta nhận ra rằng khát vọng khẳng định bản thân và sống ý nghĩa luôn hiện hữu trong mỗi chúng ta.

Nhận định của M. Gorki mãi là một chân lý sáng ngời về vai trò của văn học. Truyện ngắn "Sạ" không chỉ kể về một cuộc đời, mà còn thắp sáng ngọn lửa khát vọng, dẫn dắt con người vượt qua những mê lầm để tìm thấy chân lý giản đơn mà vĩ đại. Đó là bài học quý giá nhất mà mỗi tác phẩm chân chính cần mang lại cho con người, để chúng ta biết sống sâu sắc và trân trọng từng phút giây của cuộc đời.


Bài tham khảo Mẫu 3

"Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi thế giới giả dối, tàn ác; vừa làm cho lòng người đọc trong sạch và phong phú hơn". Nhận định của Thạch Lam đã chỉ ra sức mạnh cải tạo tâm hồn kỳ diệu của nghệ thuật. Văn chương không đưa ta đến sự trốn chạy mà dẫn dắt ta trở về để đối diện và thấu hiểu chính mình. Bàn về sức mạnh này, M. Gorki đã khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Thông qua truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc sẽ cảm nhận được sâu sắc hành trình khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh để tìm thấy giá trị đích thực của bản thân.

Lời khẳng định của M. Gorki đã chỉ rõ chức năng nhân văn cao cả của văn chương. Văn học giúp con người hiểu được bản thân thông qua việc soi chiếu tâm hồn mình vào số phận của nhân vật. Khi đọc một tác phẩm, ta nhận ra những khao khát vươn lên hay cả những góc tối thầm kín đang hiện hữu trong mình. Từ đó, văn chương nâng cao niềm tin vào bản thân, khẳng định rằng mỗi cá nhân đều mang trong mình những giá trị riêng biệt cần được trân trọng. Quan trọng hơn, nó làm nảy nở khát vọng vươn tới chân lý. Chân lý mà văn học hướng tới không phải điều gì xa vời, mà là cái Chân - Thiện - Mỹ trong đời thực, là sự thấu hiểu lẽ sống và khao khát được cống hiến, được sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa.

Đến với truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp, ta bắt gặp một khát vọng tự khẳng định vô cùng mãnh liệt ở nhân vật chính. Sạ là một cá nhân mang trong mình những năng lực phi thường so với người dân bản Hua Tát. Chàng không cam tâm sống một đời tẻ nhạt mà luôn mang nhu cầu khẳng định cái tôi mạnh mẽ. Những hành động như lật thuyền cá hay nhảy vào lửa thực chất là những nỗ lực tuyệt vọng để Sạ chứng minh sự tồn tại độc bản của mình trước thế giới. Tuy nhiên, bi kịch đã xảy ra khi chính những khát vọng phi thường ấy lại bị cộng đồng coi là điên rồ, khùng điên. Nỗi cô đơn vì không được thấu hiểu đã trở thành luồng điện đẩy Sạ rời xa bản làng vào năm ba mươi tuổi, dấn thân vào những chân trời xa lạ với mong muốn lập nên sự tích phi thường để khẳng định giá trị của chính mình.

Thế nhưng, hành trình đi xa của Sạ cuối cùng lại dẫn chàng về với khát vọng sống một cuộc đời ý nghĩa hơn khi nhận thức được chân lý đích thực. Sau bao năm bôn ba nơi đất khách với đủ danh tiếng lẫn đắng cay, Sạ trở về quê hương với hình hài một ông lão tàn tật. Chính ở những giây phút cuối đời, tâm hồn Sạ mới thực sự đạt tới sự hoàn nguyên và minh triết nhất. Câu nói cuối đời của Sạ chính là chìa khóa mở ra chân lý cho toàn bộ tác phẩm: "Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát... mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được". Sạ nhận ra rằng khát vọng phi thường thực sự không phải là những chuyến phiêu lưu viễn vông mà là biết trân trọng cuộc sống bình thường, sống có trách nhiệm và tình yêu thương đối với gia đình, bản làng. Đó mới chính là chân lý sống mà văn chương muốn thắp sáng trong tâm hồn mỗi người.

Giá trị khát vọng con người trong tác phẩm "Sạ" còn mang ý nghĩa thức tỉnh sâu sắc đối với cộng đồng và độc giả. Sự ra đi của Sạ khiến bản làng trở nên u sầu, chứng minh rằng những cá nhân mang khát vọng sống mãnh liệt luôn là nguồn năng lượng duy trì sức sống cho tập thể. Qua cuộc đời Sạ, văn học giúp người đọc hiểu về bản thân mình, nhận ra ai cũng từng có những ước mơ khao khát được khẳng định nhưng cũng có lúc cô đơn vì không được sẻ chia. Hình ảnh Sạ giúp ta nâng cao niềm tin vào bản thân, hiểu rằng dù ta có từng lầm lạc hay chọn sai đường, thì chân lý cuối cùng vẫn luôn chờ đợi nếu ta biết quay về với bản chất lương thiện và tình yêu thương. Cuộc đời ý nghĩa nhất là khi ta được là chính mình bên cạnh những người thân yêu.

Về nghệ thuật, Nguyễn Huy Thiệp đã chứng minh nhận định của Nguyễn Minh Châu: "Tình huống truyện như một lát cắt trên thân cây cổ thụ mà qua từng đường vân thớ gỗ, ta có thể thấy được trăm năm của một đời thảo mộc". Nhà văn sử dụng ngôi kể thứ ba khách quan, tạo nên một giọng văn lạnh lùng nhưng đầy chiều sâu nhân đạo. Kết cấu truyện theo dòng thời gian tuyến tính mang màu sắc cổ tích hiện đại đã khắc họa thành công hình tượng Sạ - con người đại diện cho những khát vọng sống mãnh liệt và những trăn trở khôn nguôi về ý nghĩa tồn tại. Nhân vật được xây dựng qua hành động đã tạo nên một sức lôi cuốn đặc biệt đối với người tiếp nhận.

Qua nhân vật Sạ, ta thấy rằng nhà văn cần phải “mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người” (theo lời Nguyễn Minh Châu) để có thể phát hiện ra vẻ đẹp khát vọng ẩn giấu trong những cảnh ngộ bi kịch. Đối với độc giả, văn học chính là nhịp cầu để ta tự đối thoại với tâm hồn mình. Đọc "Sạ", ta nhận ra khát vọng được khẳng định và sống ý nghĩa luôn cháy bỏng trong mỗi trái tim con người.

Nhận định của M. Gorki đã khẳng định giá trị trường tồn của văn chương đối với nhân sinh. Truyện ngắn "Sạ" không chỉ là câu chuyện về một cá nhân dị biệt, mà là minh chứng cho sức mạnh khơi gợi khát vọng và dẫn lối con người tìm về chân lý của văn học. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta hãy luôn nuôi dưỡng những khát vọng chân chính để sống một cuộc đời sâu sắc và trọn vẹn hơn.


Bài tham khảo Mẫu 4

"Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại", lời khẳng định của Balzac đã chỉ ra trách nhiệm của người cầm bút trong việc ghi lại những biến động của đời sống. Thế nhưng, văn học không chỉ ghi chép bề nổi mà còn phải đi sâu vào tâm mạch của con người để khơi dậy những khát vọng cao đẹp nhất. Bàn về vai trò này, M. Gorki đã đưa ra một quan điểm đầy tính triết lý: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Qua truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp, ta sẽ cùng khám phá hành trình khát vọng khẳng định cái tôi và sự tìm về với những giá trị đích thực của con người thông qua lăng kính nghệ thuật.

Nhận định của M. Gorki đã đề cập đến ba tầng nấc giá trị của văn chương đối với tâm hồn nhân loại. Trước hết, văn học giúp con người hiểu được bản thân. Qua những trang văn, ta được soi chiếu mình vào những số phận khác nhau, từ đó nhận ra những khát khao, nỗi đau và cả những tiềm năng còn ẩn giấu. Thứ hai, văn chương nâng cao niềm tin vào bản thân, giúp con người có thêm ý chí để đối diện với nghịch cảnh và tin vào phẩm giá của chính mình. Sau cùng, văn học làm nảy nở khát vọng vươn tới chân lý. Chân lý ở đây chính là sự cao cả của tâm hồn, là cái Đẹp, là khát khao sống một cuộc đời trọn vẹn, có ý nghĩa và đóng góp những giá trị tốt đẹp cho thế giới. Tóm lại, văn chương hướng con người tới sự hoàn thiện về nhận thức và nhân cách theo trục giá trị Chân - Thiện - Mỹ.

Đến với truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc bị ấn tượng mạnh mẽ bởi khát vọng tự khẳng định và khát khao làm nên sự tích phi thường của nhân vật Sạ. Sạ sở hữu những năng lực vượt trội khiến người khác phải nể phục nhưng cũng chính điều đó khiến chàng không thể chấp nhận một cuộc đời mờ nhạt nơi bản nhỏ. Nhu cầu khẳng định cái tôi trong Sạ vô cùng cháy bỏng. Những hành động "điên rồ" như nhảy vào lửa hay phóng thích đàn cá thực chất là tiếng thét của một cá nhân muốn khẳng định bản sắc độc đáo của mình trước một cộng đồng còn nhiều định kiến. Bi kịch của Sạ chính là sự khác biệt ấy đã khiến chàng bị ghẻ lạnh, bị coi là kẻ khùng. Chính nỗi cô đơn cùng cực vì không tìm được sự đồng điệu đã thôi thúc Sạ ra đi tìm kiếm một không gian rộng lớn hơn để lập nên sự tích phi thường, khẳng định giá trị bản thân nơi đất khách quê người.

Tuy nhiên, khát vọng sâu sắc nhất mà Nguyễn Huy Thiệp muốn gửi gắm lại nằm ở hành trình nhận thức chân lý để sống một cuộc đời ý nghĩa. Sau bao năm phiêu bạt với những vinh quang và cay đắng, Sạ trở về quê hương trong dáng vẻ của một người tàn tật. Nhưng chính trong sự lụ khụ ấy, Sạ đã đạt đến đỉnh cao của sự minh triết. Câu nói của chàng trước khi qua đời là một bài học đắt giá về nhân sinh: "Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát... mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được". Chân lý mà Sạ tìm thấy chính là sự gắn bó với nguồn cội, là trách nhiệm với gia đình và việc tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị nhất. Sạ đã hiểu rằng khát vọng phi thường thực sự không phải là những điều xa xôi, mà là sống một cuộc đời bình thường một cách trọn vẹn và sâu sắc nhất.

Giá trị khát vọng con người trong tác phẩm "Sạ" đã khẳng định rằng khát vọng chính là động lực duy trì sự sống. Bản Hua Tát vắng Sạ trở nên thiếu sức sống, chứng tỏ tầm quan trọng của những cá nhân dám ước mơ đối với sự phát triển của cộng đồng. Qua hình tượng Sạ, văn học giúp mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân, nhận ra rằng ai cũng mang trong mình những khát khao khẳng định giá trị riêng biệt. Đồng thời, tác phẩm nâng cao niềm tin vào bản thân cho người đọc, khẳng định rằng dù hành trình đi tìm chính mình có thể đầy rẫy sai lầm, nhưng cuối cùng ta sẽ tìm thấy chân lý nếu biết hướng về tình yêu thương và sự lương thiện. Cuộc sống ý nghĩa nhất khi ta được sống là chính mình và được yêu thương.

Nguyễn Huy Thiệp đã thể hiện tài năng bậc thầy qua các phương thức nghệ thuật đặc sắc. Đúng như nhận định của Nguyễn Minh Châu: “Chỉ cần một số ít trang văn xuôi mà họ có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người”. Nhà văn sử dụng ngôi kể thứ ba với điểm nhìn khách quan kết hợp cùng giọng văn lạnh lùng nhưng chứa đựng lòng trắc ẩn. Kết cấu truyện mang màu sắc huyền thoại kết hợp triết lý hiện đại đã khắc họa thành công hình tượng Sạ - con người của những khát vọng sống mãnh liệt. Nhân vật được xây dựng qua những hành động quyết liệt, tạo nên ấn tượng sâu đậm về một hành trình đi tìm ý nghĩa tồn tại đầy gian nan nhưng cũng thật đẹp đẽ.

Hành trình của Sạ cho thấy đối với nhà văn, thiên chức cao quý là phải "nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn" như lời Thạch Lam. Người cầm bút cần phát hiện vẻ đẹp khát vọng đằng sau những cảnh ngộ có vẻ dị biệt. Đối với độc giả, văn học chính là nhịp cầu tự đối thoại, giúp ta nhận ra khát vọng được sống ý nghĩa luôn hiện hữu trong mỗi chúng ta.

Tóm lại, nhận định của M. Gorki đã chỉ ra đúng đắn cốt lõi giá trị của văn chương. Truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp là minh chứng cho sức mạnh khơi dậy khát vọng và dẫn dắt con người về với chân lý giản đơn nhưng cao quý của kiếp nhân sinh. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn giữ vững niềm tin và khát vọng sống chân chính để làm phong phú thêm tâm hồn mình giữa cuộc đời này.


Bài tham khảo Mẫu 5

"Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên", nhận định của Thạch Lam đã khẳng định vai trò dấn thân của văn học vào cuộc đời. Văn học sinh ra là để con người đối diện với chính mình, để hiểu và yêu cuộc sống này hơn. Bàn về sức mạnh giáo hóa và đánh thức tâm hồn của nghệ thuật, M. Gorki khẳng định: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý”. Thông qua hình tượng nhân vật Sạ trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp, ta sẽ thấy được cách mà văn chương khơi dậy khát vọng khẳng định bản thân và dẫn lối con người tìm về với những giá trị đích thực.

Nhận định của M. Gorki đã chỉ ra ba chức năng cốt yếu của văn học đối với đời sống tinh thần. Thứ nhất, văn học là gương soi giúp con người hiểu được bản thân, nhận ra những khát khao, thế mạnh cũng như những khiếm khuyết của mình. Thứ hai, văn chương tiếp thêm sức mạnh, nâng cao niềm tin vào bản thân để con người đủ dũng cảm đối mặt với bão giông cuộc đời. Cuối cùng, đỉnh cao của văn học chính là làm nảy nở khát vọng vươn tới chân lý. Chân lý ở đây không phải điều gì cao siêu thoát tục, mà chính là sự hiểu biết sâu sắc về lẽ sống, là khao khát sống một cuộc đời có giá trị, có đạo đức và tình thương, hướng con người tới cái Đẹp cao cả của tâm hồn như Nguyễn Đình Thi từng nói: “Nói nghệ thuật tức là nói đến sự cao cả của tâm hồn”.

Trong truyện ngắn "Sạ", Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa khát vọng tự khẳng định và làm nên sự tích phi thường của nhân vật chính vô cùng ấn tượng. Sạ không cam chịu sống một cuộc đời tẻ nhạt nơi bản làng Hua Tát. Chàng sở hữu những tài năng vượt bậc và mang nhu cầu khẳng định cái tôi vô cùng mạnh mẽ. Những hành động tưởng chừng điên rồ như thách đố nhảy vào lửa hay giải phóng đàn cá chính là cách Sạ khẳng định sự tồn tại đầy bản sắc của mình. Tuy nhiên, sự dị biệt ấy đã mang lại bi kịch khi cộng đồng ghẻ lạnh và cô lập chàng. Nỗi cô đơn vì không tìm được sự đồng cảm chính là động lực đẩy Sạ đi xa, dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đầy sóng gió để tìm kiếm sự tích phi thường, khẳng định giá trị bản thân ở những chân trời mới lạ.

Tuy nhiên, giá trị sâu sắc nhất của tác phẩm chính là hành trình nhận thức chân lý để sống một cuộc đời ý nghĩa của nhân vật. Sau bao năm bôn ba, Sạ trở về bản làng khi đã là một ông lão tàn phế, nhưng đó lại là lúc tâm hồn chàng sáng suốt nhất. Chân lý mà Sạ tìm thấy ở cuối cuộc đời đã làm rúng động lòng người: "Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát... mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được". Sạ nhận ra rằng phi thường không phải là những chuyến đi xa xôi, mà là biết trân trọng và sống hết mình trong sự bình thường, gắn bó với gia đình, quê hương. Đây chính là chân lý sống đích thực mà văn học muốn hướng con người tới: tìm thấy cái cao cả trong những điều bình dị, tìm thấy hạnh phúc trong trách nhiệm và tình yêu thương.

Khát vọng của Sạ mang một giá trị nhân bản to lớn, nó chứng minh rằng khát vọng là linh hồn nuôi dưỡng sự sống của cả một cộng đồng. Bản Hua Tát vắng Sạ đã trở nên buồn bã, nụ cười héo hắt, khẳng định vai trò của những cá nhân dám sống và dám khát vọng. Qua cuộc đời Sạ, văn học giúp mỗi độc giả hiểu rõ hơn về chính mình, nhận ra ai cũng có lúc cô đơn trên hành trình thực hiện ước mơ. Đồng thời, tác phẩm nâng cao niềm tin vào bản thân cho người đọc, nhắc nhở ta rằng dù có những lúc lạc lối, chỉ cần ta giữ vững khát vọng hướng tới chân lý - được sống là chính mình và cống hiến tình thương - thì ta sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực của đời mình.

Nguyễn Huy Thiệp đã thành công trong việc xây dựng hình tượng Sạ bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo. Ông sử dụng ngôi kể thứ ba với điểm nhìn khách quan, giọng văn lạnh lùng nhưng ẩn chứa lòng nhân trắc ẩn sâu xa. Kết cấu truyện mang phong vị huyền thoại kết hợp với triết lý hiện đại đã khắc họa thành công một con người mang khát vọng sống mãnh liệt. Nhân vật được xây dựng qua những hành động quyết đoán, trở thành hình ảnh điển hình cho hành trình đi tìm ý nghĩa tồn tại của con người. Điều này đúng với ý kiến của Lê Ngọc Trà: "Văn học không phải đạo đức mà là sự ăn năn về đạo đức", nó giúp ta nhìn nhận lại cuộc đời mình một cách nghiêm túc và nhân văn hơn.

Từ hành trình của Sạ, ta thấy rằng nhà văn cần có cái nhìn thấu thị để phát hiện những khát vọng cao đẹp ẩn sau những hình hài bi kịch. Đối với người đọc, văn chương chính là nhịp cầu để ta đối thoại với tâm hồn mình, thấu hiểu khát vọng khẳng định và sống ý nghĩa luôn cháy bỏng trong mỗi cá nhân.

Tóm lại, nhận định của M. Gorki đã khẳng định giá trị vĩnh cửu của văn học đối với đời sống con người. Truyện ngắn "Sạ" của Nguyễn Huy Thiệp là minh chứng sáng rõ cho sức mạnh khơi dậy khát vọng và dẫn dắt con người về với chân lý. Mỗi tác phẩm chân chính đều là một lời nhắc nhở chúng ta hãy luôn sống với khát khao và niềm tin để cuộc đời mình trở nên phong phú và trọn vẹn hơn.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...