1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ thất ngôn bá..

Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) hay nhất


- Nguyễn Khuyến có nhiều bài thơ viết về mùa thu. Chùm thơ thu nổi tiếng đã góp phần tôn vinh tên tuổi tác giả lên vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về quê hương làng cảnh Việt Nam. - Trong chùm thơ đó thì bài Thu vịnh tiêu biểu nhất, in đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khuyến.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

1. Mở bài

- Nguyễn Khuyến có nhiều bài thơ viết về mùa thu. Chùm thơ thu nổi tiếng đã góp phần tôn vinh tên tuổi tác giả lên vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về quê hương làng cảnh Việt Nam.

- Trong chùm thơ đó thì bài Thu vịnh tiêu biểu nhất, in đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khuyến.

2. Thân bài

+ Hai câu đề:

- Mở đầu là hình ảnh bầu trời mùa thu xanh ngắt và cao vời vợi. Xanh ngắt là xanh thăm thẳm một màu; mấy từng cao là tưởng như bầu trời có nhiều lớp, nhiều tầng.

- Nghệ thuật lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh trong câu thứ hai thường thấy trong thơ cổ điển, được Nguyễn Khuyến vận dụng rất tự nhiên và phù hợp. Cần trúc thanh mảnh khẽ đong đưa trước ngọn gió hắt hiu (gió nhẹ) càng tôn thêm vẻ mênh mông của bầu trời mùa thu.

+ Hai câu thực:

- Nước biếc là màu đặc trưng của nước mùa thu (trong xanh). Lúc sáng sớm và chiều tối, mặt ao hồ thường có sương, trông như tầng khói phủ. Cảnh vật quen thuộc, bình dị trở nên huyền ảo.

- Hình ảnh Song thưa để mặc bóng trăng vào có sự tương phản giữa cái hữu hạn (song thưa) và cái vô hạn (bóng trăng), do vậy mà tứ thơ rộng mở, mênh mông ý nghĩa.

- Cảnh vật trong bốn câu thơ trên được nhà thơ miêu tả ở những thời điểm khác nhau trong ngày, nhưng mối dây liên hệ giữa chúng lại là sự nhất quán trong cảm xúc của tác giả.

+ Hai câu luận:

- Tâm trạng hoài cổ chi phối cách nhìn, cách nghĩ của nhà thơ. Hoa năm nay mà nghĩ là hoa năm ngoái. Tiếng ngỗng trời kêu quen thuộc mỗi độ thu về khiến nhà thơ giật mình, băn khoăn tự hỏi ngỗng nước nào?

- Âm điệu câu thơ 4/1/2 như chứa chất bâng khuâng, suy tư. Nhà thơ quan sát cảnh vật với một nỗi niềm u uất.

+ Hai câu kết:

- Thi hứng dạt dào thôi thúc nhà thơ cầm bút, nhưng phần lý trí bừng thức khiến nhà thơ chợt thấy thẹn với ông Đào. (Tức Đào Tiềm, nhà thơ nổi tiếng đời Đường bên Trung Quốc).

- Nguyễn Khuyến thẹn về tài thơ thua kém hay thẹn vì không có được khí tiết cứng cỏi như ông Đào ? Nói vậy nhưng Nguyễn Khuyến vẫn sáng tác nên bài Thu vịnh để đời.

- Câu thơ cuối bỏ lửng khơi gợi suy ngẫm của người đọc.

3. Kết bài

- Thu vịnh là một bài thơ hay, góp phần khẳng định tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước trong thơ Nguyễn Khuyến

- Trình độ nghệ thuật của bài thơ đã đạt tới mức điêu luyện, khó ai sánh kịp.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Trong thơ ca trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến là một trong những tác giả tiêu biểu viết về đề tài thiên nhiên, đặc biệt là mùa thu. Bài thơ “Thu vịnh” không chỉ khắc họa một bức tranh thu đẹp mà còn gửi gắm tâm trạng sâu kín của một nhà nho trước thời cuộc. Qua vài nét chấm phá tinh tế, tác phẩm đã gợi lên một không gian thu vừa thanh sơ, vừa man mác buồn, đồng thời phản chiếu tâm hồn nhạy cảm và nỗi lòng thế sự của tác giả.

Trước hết, bức tranh mùa thu trong “Thu vịnh” hiện lên với vẻ đẹp rộng lớn, khoáng đạt nhưng cũng đầy tĩnh lặng. Không gian được mở ra từ bầu trời cao rộng với sắc xanh sâu thẳm, gợi cảm giác vừa trong trẻo vừa xa vắng. Trong không gian ấy, những hình ảnh nhỏ bé như cành trúc khẽ lay trong gió nhẹ càng làm nổi bật sự tĩnh lặng bao trùm. Thiên nhiên không rực rỡ mà mang nét đẹp trầm lắng, dịu nhẹ, rất đặc trưng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Đây không chỉ là sự quan sát tinh tế mà còn là cảm nhận giàu chất thơ của một tâm hồn gắn bó sâu sắc với quê hương.

Tiếp theo, bức tranh thu được mở rộng với những chi tiết giàu chất tạo hình như mặt nước mờ ảo hay ánh trăng len qua khung cửa thưa. Những hình ảnh ấy vừa cụ thể vừa gợi cảm, khiến cảnh vật như chìm trong một lớp sương mờ của thời gian. Đặc biệt, sự xuất hiện của ánh trăng trong không gian vắng người càng làm tăng cảm giác cô tịch. Thiên nhiên dường như vận động rất nhẹ, còn con người gần như vắng bóng, nhường chỗ cho sự lặng im bao trùm.

Không chỉ dừng lại ở việc tả cảnh, bài thơ còn gợi lên một chiều sâu tâm trạng. Những hình ảnh như hoa tàn, tiếng chim trời di cư… đều mang sắc thái hoài niệm, gợi sự trôi chảy của thời gian và những đổi thay không thể níu giữ. Trong cái tĩnh lặng của cảnh thu, người đọc cảm nhận được một nỗi buồn kín đáo, không ồn ào nhưng thấm sâu.

Đến cuối bài thơ, tâm trạng của tác giả được bộc lộ rõ hơn qua suy nghĩ về việc làm thơ và sự “thẹn” với bậc tiền nhân. Đó là sự tự ý thức về lý tưởng sống thanh cao, đồng thời cũng là nỗi day dứt của một con người từng gắn bó với chốn quan trường nhưng nay lui về ở ẩn. Qua đó, ta thấy được nhân cách và tâm hồn của Nguyễn Khuyến: thanh cao, sâu sắc nhưng luôn trăn trở trước thời thế.

Tóm lại, “Thu vịnh” là một thi phẩm đặc sắc, kết hợp hài hòa giữa cảnh và tình. Bài thơ không chỉ vẽ nên vẻ đẹp của mùa thu làng quê Việt Nam mà còn thể hiện tâm hồn tinh tế, giàu suy tư của Nguyễn Khuyến, để lại dư vị nhẹ nhàng mà sâu lắng trong lòng người đọc.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Trong thơ ca trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu viết về thiên nhiên làng quê, đặc biệt thành công ở đề tài mùa thu. Bài thơ “Thu vịnh” là một trong những tác phẩm đặc sắc, vừa vẽ nên bức tranh thu thanh bình, vừa gửi gắm tâm trạng u hoài của một nhà nho trước thời cuộc.

Ngay từ những câu thơ đầu, bức tranh mùa thu đã hiện lên với không gian rộng lớn và tĩnh lặng. Bầu trời mùa thu mang sắc xanh sâu thẳm, trải rộng nhiều tầng cao, gợi cảm giác bao la, xa vắng. Trong khung cảnh ấy, hình ảnh cành trúc mảnh mai khẽ lay trong làn gió nhẹ càng làm nổi bật sự yên tĩnh của thiên nhiên. Tất cả tạo nên một bức tranh thu vừa khoáng đạt vừa man mác buồn, đậm chất hồn quê Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở bầu trời và cành cây, bài thơ còn mở rộng không gian xuống mặt nước và ánh trăng. Mặt nước mùa thu hiện lên mờ ảo, như được phủ một lớp sương khói, khiến cảnh vật trở nên huyền hoặc. Ánh trăng len qua khung cửa thưa, nhẹ nhàng đi vào không gian tĩnh lặng, càng làm tăng cảm giác cô đơn, vắng vẻ. Thiên nhiên trong bài thơ không ồn ào mà lặng lẽ, như đang chìm trong một giấc ngủ dài.

Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên, bài thơ còn gợi ra một chiều sâu tâm trạng. Những hình ảnh như hoa tàn, tiếng chim trời di cư gợi cảm giác thời gian trôi đi, mang theo sự đổi thay và hoài niệm. Trong cái tĩnh của cảnh thu, người đọc cảm nhận được một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thấm sâu, như ẩn sau từng hình ảnh thiên nhiên.

Đặc biệt, hai câu kết thể hiện rõ tâm sự của tác giả. Nguyễn Khuyến từng có ý định làm thơ nhưng lại dừng lại vì cảm giác “thẹn” với tiền nhân – nhà thơ ẩn sĩ Đào Uyên Minh. Điều đó cho thấy ông là người có nhân cách thanh cao, luôn tự soi chiếu bản thân, đồng thời cũng bộc lộ nỗi day dứt trước thời thế. Dù lui về ở ẩn, ông vẫn mang trong mình tâm trạng ưu tư của một người yêu nước.

Tóm lại, “Thu vịnh” là một bài thơ giàu giá trị. Qua bức tranh mùa thu đẹp mà buồn, Nguyễn Khuyến không chỉ thể hiện tài năng tả cảnh mà còn gửi gắm tâm hồn sâu sắc, để lại dư âm nhẹ nhàng và đầy suy ngẫm trong lòng người đọc.’

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Nếu mùa xuân gợi sức sống, mùa hạ gợi sự sôi động thì mùa thu trong thơ ca trung đại thường mang vẻ đẹp trầm lắng và suy tư. Với Nguyễn Khuyến, mùa thu không chỉ là cảnh vật mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng. “Thu vịnh” là một bài thơ tiêu biểu, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật và tâm hồn của ông.

Bài thơ mở ra bằng một không gian rộng lớn của bầu trời thu. Sắc xanh thăm thẳm trải dài nhiều tầng cao tạo cảm giác bao la, tĩnh lặng. Trong không gian ấy, những chi tiết nhỏ như cành trúc rung nhẹ trong gió càng làm nổi bật sự yên ả của cảnh vật. Thiên nhiên không có sự ồn ào mà chỉ có những chuyển động rất khẽ, như đang giữ lại hơi thở của thời gian.

Tiếp theo, bức tranh thu được mở rộng với hình ảnh mặt nước và ánh trăng. Mặt nước không còn trong trẻo rõ ràng mà trở nên mờ ảo như có lớp khói phủ, tạo cảm giác huyền hoặc. Ánh trăng xuyên qua khung cửa thưa, lặng lẽ hiện diện trong không gian vắng người, khiến cảnh thu thêm phần cô tịch. Thiên nhiên trong bài thơ vừa đẹp vừa buồn, vừa thực vừa mơ.

Không chỉ tả cảnh, bài thơ còn gợi cảm giác thời gian đang trôi. Hình ảnh hoa tàn hay tiếng chim di cư vang lên giữa không trung gợi sự thay đổi, sự xa cách và hoài niệm. Những chi tiết ấy tuy nhỏ nhưng lại tạo nên chiều sâu cảm xúc cho toàn bài thơ, khiến cảnh thu không chỉ là cảnh mà còn là tâm trạng.

Ở phần cuối, tác giả bộc lộ suy nghĩ của mình một cách trực tiếp. Khi có hứng làm thơ, ông lại “thẹn” với Đào Uyên Minh – biểu tượng của lối sống ẩn sĩ thanh cao. Điều này cho thấy Nguyễn Khuyến là người có nhân cách lớn, luôn tự đánh giá bản thân và hướng đến lý tưởng sống cao đẹp, dù trong lòng còn nhiều trăn trở trước thời cuộc.

Như vậy, “Thu vịnh” không chỉ là một bức tranh mùa thu đặc sắc mà còn là bức chân dung tâm hồn Nguyễn Khuyến: tinh tế, sâu sắc và giàu suy tư. Bài thơ để lại ấn tượng nhẹ nhàng nhưng bền lâu trong lòng người đọc.


Bài tham khảo Mẫu 1

Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quý quê hương đất nước của mình.

Nguyễn Khuỵến nổi tiếng với chùm thơ ba bài viết về mùa thu Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Có lẽ Nguyễn Khuyến đã viết theo lối “chùm ba” của Đỗ Phủ - đại thi hào Trung Quốc này nổi tiếng với “Tam biệt”, “Tam lại”...). Theo nhận xét của Xuân Diệu thì trong ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyên, bài thơ Thu vịnh mang cái hồn cua cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Thu vịnh mang cái thần của cảnh mùa thu xứ Bắc và cả tâm sự u uấn của thi nhân:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao.

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tảng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Bức tranh vẽ mùa thu được tác giả phác họa với không gian thoáng đãng. Nến trời chấm phá một nét nhẹ, mềm của cảnh trúc:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Mùa thu của xứ Bắc có bầu trời cao xanh trong đã hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến là “trời thu xanh ngắt”. Màu sắc ấy là màu của trời thu mà cũng là cái tình tha thiết của thi nhân đối với mùa thu, đối với quê hương lang cảnh. Không gian mở ra thăm thẳm “mấy tầng cao”, một cần trúc (trúc chứ không phải là tre) vươn lên trên nền trời thu “xanh ngắt”. Nét cong mềm của “cần trúc” vươn lên một cách thanh cao, không ủy mị như rặng liễu đìu hiu buông xuống trong thơ mùa thu của Xuân Diệu. Từ láy “lơ phơ” gợi tả vẻ thưa thớt của những lá trúc lay động bởi gió heo may mùa thu. Từ láy "hát hiu” gợi được sự rung động của cành trúc, hay là sự rung động của tâm hồn thi nhân trước cảnh thu, trời thu đượm buồn?

Bức tranh mùa thu trong Thu vịnh cứ được thêm hòa sắc mới, đường nét, hình ảnh mới:

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Hình ảnh mùa thu được pha thêm màu “nước biếc", thêm một sắc xanh tha thiết nữa, màu của áo thu trong xanh, với “khói phủ” nhạt nhòa. “Khói” dãy gợi nhứ “khói sóng" trong thơ Thối Hiệu “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai . Cảnh đêm thu thật là huyền diệu. Lại thêm có trăng. Thi nhân mở ra đón trăng “Song thưa để mặc bóng trăng vào". Trong đêm thu thanh tĩnh, trăng là người bạn tri kỉ của thi nhân. Có ánh trăng thu, bức tranh mùa thu trong thơ thêm sáng. Mọi vật trong đêm thu được pha thêm ánh trăng huyền ảo, mộng mơ.

Cảnh thu thêm huyền hoặc, từ màu hoa cho đến tiếng chim:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Hoa mùa thu không đổi, không có sắc màu vì khói phủ nhạt nhòa hay nhà thơ mất hết ý niệm về thời gian? “Mấy chùm trước giậu" làm sao biết được đó là hoa gì, màu sắc như thế nào. Chỉ biết đó là “hoa năm ngoái”. Tứ thơ của Nguyễn Khuyến còn trừu tượng hơn, ở đây chẳng có hoa đào, hoa cúc gì cả. Hình ảnh “hoa năm ngoái” thể hiện thời gian ngưng đọng, tâm trạng bất biến của thi nhân. Câu thơ thể hiện một nỗi buồn man mác. Âm thanh mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ “ngỗng nước nào”. Tiếng ngỗng trời lạnh cả không gian mùa thu đã làm thổn thức nỗi lòng của thi nhân.

Đêm thu huyền diệu dã gợi cảm hứng cho nhà thơ. Thi hứng cũng chợt đến trong nỗi niềm u uẩn của thi nhân:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút.

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Trước cảnh thu huyền diệu, nhà thơ đã bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của mình. Theo quan điểm của Nguyễn Khuyến mà cũng là quan điểm của các nhà thơ chân chính, thơ gắn liền với nhân cách, nhân cách lớn thì thơ lớn.

Rung động trước mùa thu, cất bút định làm thơ, Nguyễn Khuyến cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Ông Đào ở đây tức là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), một nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc thời Lục Triều. Ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, rồi chán ghét cảnh quan trường thối nát đã treo ấn từ quan, lui về ẩn dật và có bài Qui khứ lai từ rất nổi tiếng. Sao cụ Nguyễn lại “thẹn” với ông Đào? Thái độ này chưa từng thấy đối với các thi nhân cổ kim. về khoa bảng, ông Đào đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn cũng đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn lại còn có Tam Nguyên, người đời gọi cụ là Tam Nguyên Yên Đổ. Về tài học, thơ của Nguyễn Khuyến kém gì thơ Đào Uyên Minh? Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của nước nhà được Xuân Diệu phong là “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam" và hết lời ngợi ca. Có lẽ cụ Nguyễn “thẹn với ông Đào'' là về khí tiết. Cụ Nguyễn thiếu cái dũng khí của ông Đào, người đã tư quan một cách dứt khoát, trở thành một nhân vật lừng danh về khí tiết trong giới quan trường Trung Hoa. Còn Nguyễn Khuyến thì lúng túng khi ra làm quan (thời đó ra làm quan tránh sao khỏi là tay sai của giặc Pháp) và lừng khừng khi đồng cảm của người đời. Đã về ẩn dật rồi, cụ Nguyễn vẫn còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy chính quyền thối nát tàn bạo thời bấy giờ. Câu thơ của một tấm lòng chân thực là nỗi niềm u uẩn của một nhân cách lớn, của một nhà thơ lớn.

Thu vịnh là một bài thơ hay viết về mùa thu cua Nguyễn Khuyến. Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh  vật huyền ảo dưới ánh nắng trắng trong thể hiện nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu. Nhà thơ cũng bộc bạch tâm sự sâu kín, chân thật của mình hết sức cảm động.

Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quý quê hương đất nước của mình.

Bài tham khảo Mẫu 2

Mùa thu từ xưa tới nay luôn là nguồn cảm hứng dồi dào trong các tác phẩm thi ca nhạc họa, bởi mùa thu mang một cái vẻ đẹp tinh tế, uyển chuyển, có lúc mơ màng, có lúc lại buồn man mác, khơi gợi nên nhiều cảm xúc vi diệu trong tâm tưởng con người. Và Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ, với chùm thơ về mùa thu rất nổi tiếng ấy là Thu điếu, Thu vịnh và Thu ẩm, nói về ba thú vui nhân mùa thu tới. Trong đó Thu vịnh được xem là bài thơ mang nhiều nét thi vị đậm đà về cảnh sắc mùa thu nơi làng quê, thôn dã đầy giản dị và hồn hậu.

Thu vịnh có nghĩa là ngâm vịnh, ca tụng về mùa thu, tuy có một số quan niệm cho rằng nên hiểu là tác giả đang trầm ngâm ngắm mùa thu mà làm thơ nhưng nếu như thế thì chưa chính xác lắm. Cả bài là những vần thơ bay bổng, mới nghe mới đọc thì tưởng chừng chỉ đơn giản là tả về mùa thu, nhưng nếu đọc mà trầm ngâm thêm chút nữa mới biết nó cũng chứa nhiều nỗi niềm tâm sự của một con người yêu nước, thương dân.

Mở ra cảnh sắc mùa thu là hai câu thơ:

"Trời thu xanh ngắt mấy từng cao.

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu."

Khung cảnh mùa thu hiện ra thật trong trẻo, khoáng đạt với hình ảnh bầu trời mang một màu mây xanh ngắt, cao vời vợi, tô điểm cho khung cảnh trống trải ấy, thi nhân vẽ vào một cần trúc "lơ phơ", mềm mại, uyển chuyển trong cái gió se se lạnh "hắt hiu". "Trời thu xanh ngắt" như chính thứ tình cảm sâu đậm của nhà thơ dành cho mùa thu nơi quê hương, một mùa thu của xứ Bắc, với nét riêng biệt ấy là "cần trúc lơ phơ" vẫn mang chút mềm mại, nhưng lại chẳng yếu đuối, lả lướt như liễu. Giọng thơ chậm rãi nhẹ nhàng, vương một chút buồn man mác nơi hai chữ "hắt hiu", phải chăng thi nhân có điều chi phiền lòng?

"Nước biếc trông như tảng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào"

Trên đã có "trời xanh" dưới lại có "nước biếc", cả hai thứ ấy đều mang một màu xanh trong trẻo, dịu dàng, liệu còn có phong cảnh nào xinh đẹp hơn thế nữa? Đôi khi người đọc vì không nắm rõ nghệ thuật "đảo trang" trong thơ ca(nghệ thuật đổi âm vận sao cho câu thơ được vần) mà thường hiểu lầm hoặc hiểu không rõ nghĩa của câu thơ này. Ở đây, ý thơ có nghĩa là làn sương tựa như khói đang là đà phủ trên mặt nước biếc. Chữ "biếc" ở đây không hẳn là nước có màu ấy thật, mà cũng có khi nhà thơ tưởng tượng ra rồi viết vào cho bay bổng lại tiệp vần với nhau. Tương tự, ở câu dưới chữ "thưa" cũng được đưa vào nhằm mục đích này. Ta chợt nhận ra cảnh mùa thu trong bài được tác giả tinh tế lướt qua hai khoảng thời gian sáng và tối, ban ngày thì thấy trời xanh, nước biếc, ban đêm thì lại ngó thấy cảnh ánh trăng vàng, dịu nhẹ len lỏi từng song cửa. Trăng với mùa thu là hai thực thể rất hay song hành cùng nhau trong những bài thơ, bài văn nói về mùa thu và hơn thế nữa trăng còn là người bạn tri kỷ của thi nhân, đêm khuya thanh vắng, thi nhân chẳng có ai bầu bạn, đành làm bạn với trăng sáng, âu ngắm trăng làm thơ cũng là một thú vui tao nhã. Và cũng nhờ có ánh trăng này mùa thu trong thơ của Nguyễn Khuyến có thêm chút gì đó mộng mơ, lãng mạn hơn cũng vừa thanh tao, nhã nhặn.

"Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?"

Cụm từ "hoa năm ngoái" có lẽ chúng ta không nên hiểu là hoa đã nở từ năm ngoái mà đây hẳn là tâm trạng của tác giả đang hoài niệm quá khứ, một cái quá khứ nào đó còn kéo dài trong tâm hồn của thi nhân đến ngày hôm nay, mang đến trong điệu thơ những nỗi u hoài, trầm buồn của tác giả. Hẳn rằng ấy là một ký ức ngọt ngào tựa như những đóa hoa trước giậu, khiến tác giả bỗng ngậm ngùi khi nhớ về. Trong cái không gian vốn trầm tĩnh, lắng đọng ấy bỗng nhiên bị xáo động bởi tiếng ngỗng trời, làm bừng tỉnh tâm hồn người thi sĩ, bừng tỉnh cả không gian mùa thu vốn thanh bình yên ắng, đem lại chút âm điệu đơn bạc, giải đi nỗi vắng lặng, tịch liêu.

Ở hai câu thơ cuối tâm trạng cảu nhà thơ được bộc lộ rõ hơn:

"Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào"

Giữa khung cảnh trời thu đẹp và lãng mạn đến thế, thử hỏi liệu có thi nhân nào không rung động, vừa nhìn là muốn động bút làm một mạch mấy bài thơ, bài vịnh cho thỏa hứng. Nhưng chợt Nguyễn Khuyến xuất hiện một suy nghĩ rất lạ "thẹn với ông Đào", "Đào" ở đây là Đào Tiềm (tên khác là Đào Uyên Minh), vốn là một nhà thơ nhà thơ rất nổi tiếng thời Lục Triều (Trung Quốc), ông là người tài giỏi, từng đỗ tiến sĩ rồi ra làm quan, nhưng chán ghét chốn quan trường bẩn thỉu, nhũng nhiễu mà lui về ở ẩn. Vậy cớ gì mà Nguyễn Khuyến "thẹn", khi mà tính ra ông cũng chẳng thua kém gì về học thức và tài năng. Câu trả lời ấy là Nguyễn Khuyến thấy hổ thẹn khi thua ở cái khí tiết của một bậc quân tử phải có, Đào Tiềm sẵn sàng từ quan khi chán ghét, cũng chẳng màng đến thế sự, cứ ung dung làm thơ, sống thanh tao ẩn dật. Còn Nguyễn Khuyến ông, lại vẫn không thể từ bỏ công danh mà ra làm quan dưới thời Pháp thuộc, khi từ quan rồi cũng chẳng thôi được cái mối ân hận khi làm quan buổi rối ren, đầy nhục nhã, ấy chính là căn nguyên của chữ "thẹn" nơi cuối bài. Nhưng cũng chính những câu thơ tỏ lòng như thế ta mới thấy được một nhân cách cao cả, một tấm lòng đầy chân thành của người quân tử, không trốn tránh sự thật mà sẵn sàng thừa nhận, nhận để biết mà không thôi tự vấn và tha thứ cho lỗi lầm xưa cũ, người như thế thật đáng trân trọng biết bao.

Thu vịnh là bài thơ hay và đặc sắc, có mùi vị mùa thu miền quê Việt Nam thật rõ ràng và chân thực. Những câu thơ với nhịp điệu chậm rãi, mang chút suy tư, có chỗ hơi lạ lùng và khó hiểu đã mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về một mùa thu trong tâm hồn người thi sĩ. Đặc biệt qua những câu thơ bộc bạch ấy ta còn thấu hiểu hơn về nỗi lòng của tác giả, nỗi hổ thẹn cũng là niềm yêu nước, thương dân ẩn sâu trong tâm hồn của nhà thơ.

Bài tham khảo Mẫu 3

Nguyễn Khuyến- một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, những khung cảnh, đời sống của làng quê được ngòi bút tinh tế của ông khắc lên vừa có hồn lại vừa vẻ nên được những bức ảnh làng quê vô cùng lãng mạn, trữ tình. Bằng ngòi bút tả cảnh ngụ tình đã khiến cho biết bao tác phẩm của ông đi vào lòng người. Đặc biệt là chùm thơ thu, với Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm và đi vào lòng người bằng những hình ảnh, những nét đặc trưng tiêu biểu của mùa thu. Và với bài thơ Thu vịnh, Nguyễn Khuyến cho thấy một tâm sự u hoài, một tấm lòng xót xa trước cảnh, kín đáo, bày tỏ một tình cảm yêu nước chân thành.

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Ở đây, khác hẳn với những trời thu trong “Thu điếu” và “Thu ẩm”, trời thu của Thu vịnh được mở đầu là một khung cảnh cao vút và thăm thẳm của trời thu, và xen vào đó là cái se se lạnh của mùa thu. Với cái nền là bầu trời bao la “xanh ngắt”, “ mấy tầng cao” nổi bật lên hình ảnh thanh tú của cần trúc đang đong đưa khe khẽ trước gió thu. Và hình ảnh động của gió hắt hiu như chứa chất tâm trạng bên trong. Mở đầu như vậy khiến cho người đọc có thể phần nào thấy được một nỗi lòng đầy lo âu.  Sự lay động rất nhẹ của cần trúc càng làm tăng thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời. Hai câu đề  chấm phá hai nét phong cảnh đơn sợ, thanh thoát nhưng hoà điệu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả. Nhà thơ đã vẽ lên một khung cảnh trời thu vừa có cảnh thực là vừa có hồn thu ở trong cảnh. 

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu khi khí trời bắt đầu se lạnh. Sáng sớm và chiều tối, trên mặt ao, mặt hồ có một lớp sương mỏng trông như khói phủ làm cho người đọc có cảm giác cảnh mùa thu được chen lẫn với màu khói. Và chính cái cảnh mặt nước khói sương bình thường ấy qua con mắt và tâm hồn thi sĩ đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh. Tầng khói phủ khác làn khói phụ vì sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, độ sâu, như chất chứa cái gì đó ở bên trong. Chỉ bằng vài nét chấm phá nho nhỏ của mùa thu đã khiến cho mùa thu như có hồn và sự hòa quyện giữa cảnh thu và lòng người đi vào trong lòng người đọc Hình ảnh song thưa gợi ý thanh thoát, cởi mở, két hợp với hình ảnh ánh trăng- hình ảnh quên thuộc đều có ở mỗi làng quê, góp phần vừa tạo nên cảm giác gần gũi, vừa tạo cho người đọc có được có cảm giác thiên nhiên luôn luôn hài hòa và gần gũi với nhau.  Nếu ở câu trên là một trạng thái có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này lại là một trạng thái mở ra thành một bề rộng, giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa mà vẫn cứ mênh mông ở ý nghĩa bên trong, ở tinh thần và âm điệu, nhưng trạng thái nào thì cũng đều tĩnh mịch và chất chứa suy tư. 

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?

Nếu như cảnh vật ở 4 câu thơ trên được miêu tả qua con mắt nhìn có vẻ khách quan, đầy cảm xúc của trái tim. Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật hình ảnh “mấy chùm” hoa và “một tiếng” ngỗng. Hình ảnh “hoa năm ngoái” có sức gợi tả mạnh; “hoa năm ngoái” có nghĩa là hoa vẫn là hoa y như năm ngoái mà nước hôm nay thì đã trở thành “nước nào”. Và tiếng ngỗng ở đây, về nghệ thuật, là lấy cái động để diễn tả cái tĩnh. Cảm giác khi nghe tiếng ngỗng trên không văng vẳng mà giật mình băn khoăn tự hỏi: ngỗng nước nào? Mặc dù âm thanh ấy đã quá quen thuộc mỗi độ thu về. Và nếu như 4 câu thơ trên sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người có sự kết hợp hài hòa thì đến 2 câu thơ này, là một nỗi u uất của lòng người trước cảnh vật thiên nhiên, là nỗi niềm xót xa, nẫu ruột, chết lòng.

Và rồi đến 2 câu thơ kết của của bài thơ là cảm hứng và nỗi thẹn của nhà thơ

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

“Nhân hứng” ở đây chính là hứng làm thơ trước cảnh mùa thu, “toan cất bút” định không viết nhưng trước cảnh đẹp thì lại tạo được hứng khởi để viết. “Nghĩ ra” tức là ý thức, là lý trí, là tỉnh. Nguyễn Khuyến rất say mà rất tỉnh. Ông say trước cảnh đẹp của mùa thu, nhưng ông vẫn tỉnh trước lương tâm của mình. Cho nên, ông nói được là thẹn. Nhưng thẹn với ai? Có lẽ thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa có được nhân cách trong sáng và khí phách cứng cỏi như Đào Tiềm? Với hướng văn đi từ cảnh đến tình, từ tình đến người và rồi là cái kết có chút lẳng lơ nhưng mà lại vô cùng kín đáo ẩn chứa rất nhiều suy tư của người đọc

Bài tham khảo Mẫu 4

Nguyễn Khuyến có nhiều bài thơ viết về mùa thu bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thu vịnh là một trong ba bài thơ Nôm nổi tiếng: Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh. Chùm thơ này đã tôn vinh Nguyễn Khuyến lện vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về mùa thu của quê hương, làng cảnh Việt Nam.

Đáng lưu ý là các chi tiết trong bài thơ này đều rút ra từ cảnh vật thân quen của quê hương tác giả. Vùng đồng chiêm trũng Bình Lục một năm chỉ cấy được một mùa, còn toàn là ngập nước. Trong làng có vô số ao chuôm với những bờ tre quanh co bao bọc những mái tranh nghèo.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh bầu trời bao la, bát ngát:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Xanh ngắt là xanh thăm thẳm, mấy từng cao là rất cao, tưởng như có nhiều lớp, nhiều tầng. Trên cái nền là bầu trời bao la nổi bật lên hình ảnh thanh tú của cần trúc (cây trúc non dáng cong cong như chiếc cần câu) đang đong đưa khe khẽ trước gió thu. Giô hắt hiu là gió rất nhẹ và như chứa chất tâm trạng bên trong. Tất cả dường như có một mối cảm thông thầm lặng, sâu kín, tinh tế và khó nắm bắt.,. Sự lay động rất nhẹ của cần trúc càng làm tăng thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời. Bầu trời lại như dồn hết cái sâu lắng vào bên trong cần trúc, để cho nó vừa như đong đưa mà cũng vừa như đứng yên. Đó là nét động và nét tĩnh của cảnh thu.

Hai câu đề  chấm phá hai nét phong cảnh đơn sợ, thanh thoát nhưng hoà điệu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả. Trong đó, mọi chi tiết, sắc màu, đường nét, cử động đều rất hài hoà. Nhà thơ mới nói đến trời thu nhưng ta đã thấy cả hồn thu trong đó.
Hai câu luận:

Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu khi khí trời bắt đầu se lạnh. Sáng sớm và chiều tối, trên mặt ao, mặt hồ có một lớp sương mỏng trông như khói phủ. Cảnh mặt nước khói sương bình thường ấy qua con mắt và tâm hồn thi sĩ đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh. Tầng khói phủ khác làn khói phụ vì sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, độ sâu, như chất chứa cái gì đó ở bên trong. Nước biếc cỏ tầng khói phủ thì màu nước không còn biếc nữa mà lãn vào làn khói lam mờ, hoá mông lung, huyền ảo. Đó là dáng thu dưới mặt đất, sau dáng thu trên bầu trời.

Hình ảnh song thưa gợi ý thanh thoát, cởi mở. Bóng trăng vào qua song thưa để ngỏ thì bóng trăng trở nên mênh mông hơn, lặng lẽ hơn. Nếu ở câu trên là một trạng thái có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này lại là một trạng thái mở ra thành một bề rộng, mặc dù bj giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa mà vẫn cứ mênh mông ở ý nghĩa bên trong, ở tinh thần và âm điệu,., nhưng trạng thái nào thì cũng đều tĩnh mịch và chất chứa suy tư.

Cảnh vật trong bốn câu thơ đầu được miêu tả ở những thời điểm khác nhau. Nhìn thấy màu trời xanh ngắt; cần trúc lơphơìà lúc đang trưa. Mặt nước biếc trông như tầng khói phủ là lúc hoàng hôn và bóng trăng tràn qua song thưa là lúc trời đã vào đêm… Mỗi cảnh một vẻ đẹp khác nhau, nhưng mối dây liên kết giữa chúng lại chính là sự nhất quán trong tâm tư tác giả.

Ngòi bút cũng theo diễn biến tâm tư mà chọn ra mấy nét điển hình kia. Tuy khác nhau nhựng dường như các hình ảnh trên đều cùng gợi lên trạng thái íặng yên, ẩn giấu sự cảm thông, giao hoà giữa tâm hồn tác giả và hồn thu.

Tâm trạng chủ đạo ấy chi phối cách nhìn, cách nghĩ của Nguyễn Khuyến:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?

Sau khi nhìn mặt nước khói phủ, ngắm ánh trăng tràn qua song thưa, nhà thơ trông ra bờ giậu ngoài sân, ở đó, nở mấy chùm hoa. Điều lạ là bỗng dưng, nhà thơ cảm thấy đó là hoa năm ngoái.

Ở trên, cảnh vật được miêu tả qua con mắt nhìn có vẻ khách quan, đến đây cảm xúc của trái tim đã khoác lên cảnh vật màu sắc chủ quan. Hoa nở trước mắt hẳn hoi mà cảm thấy là hoa năm ngoái. Điều gì đã xảy ra trong lòng người? Con người đang ở trong hiện tại mà như lùi về quá khử hay bóng dáng quá khứ hiện về trong thực tại?

Âm điệu câu thơ theo nhịp 4/1/2: Từ Mấy chùm trước giậu đến hoa năm ngoái có một đoạn suy tư, ngẫm nghĩ và sau đó đột nhiên xuất hiện cảm giác lạ lùng là hoa năm ngoái chú không phải hoa năm nay. Cảm giác ấy khiến nhà thơ nghe tiếng ngỗng trên không văng vẳng mà giật mình băn khoăn tự hỏi: ngỗng nước nào ? Mặc dù âm thanh ấy đã quá quen thuộc mỗi độ thu về.

Nếu như tròng bốn câu thơ trên, cảnh vật hài hoà, giao cảm với nhau thì đến đây, con người hoà hợp với cảnh vật trong một nỗi niềm u uất. Cảnh vật thể hiện tâm tư con người và tâm tư con người thể hiện qua cách nhìn cảnh vật. Như vậy, cảnh vật được miêu tả qua đôi mắt và trái tim rung cảm của nhà thơ. Mùa thu tới, nhà thơ nhìn hoa trước sân, nghe tiếng chim kêu trên trời vẳng xuống mà trỗi dậy cả một niềm xót xa, lặng lẽ mà như nẫu ruột, chết lòng. Chiều sâu của tâm hồn thi sĩ lắng đọng vào chiều sâu của câu thơ là vậy.

Trước cảnh thu và hồn thu khiến thi hứng dạt dào, nhà thơ toan cất bút, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, bỗng nhiên thấy thẹn với ông Đào nên đành thôi:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Nhà thơ thẹn nỗi gì vậy? Thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa có được nhân cách trong sáng và khí phách cứng cỏi như Đào Tiềm? Lôgic của bài thơ là từ cảnh đến tình, từ tình đến người. Lời thơ trong câu kết có cái gì đó lửng lơ mà kín đáo, do đó càng làm tăng thêm chất suy tư của cả bài thơ.

Nguyễn Khuyến miêu, tả cảnh thu ở quê hương mình, từ mày trời, ngọn trúc, mặt nước, ánh trăng đến chùm hoa trước giậu, tiếng ngỗng trên không… để dẫn đến cặm xúc đầy suy tư ẩn chứa trong cảnh vật. Thông qua đó, òng gửỉ gắm tâm trạng xót xa, tiếc nuối trước tình trạng đất nước rơi vào tay giặc ngoại xâm, quá khứ tốt lành không còn nữa mà mình thì lực bất tòng tâm.

Thu vịnh là một bài thơ hay, góp phần khẳng định tình yêu quê hương đất nước đằm thắm trong thơ Nguyễn Khuyến, thể hiện qua tình yêu thiên nhiên tha thiết. Trình độ nghệ thuật của bài thơ đã đạt đến mức điêu luyện, tinh tế, không dễ mấy ai sánh được.

Bài tham khảo Mẫu 5

Bằng những hành ảnh gần gũi thân thương của làng qua trong cảnh mùa thu từ mây, trời, ngọn trúc, mặt nước, ánh trăng, và những âm thâm quen thuộc của gió, tiếng ngỗng… Cũng chính vì vật mà bài thơ đã mang một nét riêng, một cảnh đẹp nhưng lại ẩn chứa những nỗi lòng khó có thể diễn tả hết được. Cũng chính qua bài thơ, góp phần nào khẳng định được tình yêu quê hương đất nước, tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ, và cái tình yêu đó được thể hiện hết sức tinh tế và uyên thâm không mấy ai có thể diễn tả được.

Như đã nói, Nguyễn Khuyến thường dành tình cảm đặc biệt cho quê hương làng cảnh Việt Nam. Ông có một chùm thơ nổi tiếng viết về mùa thu gồm có 3 bài Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm đều đặc tả phong cảnh làng quê. Phân tích Thu vịnh cũng như chùm thơ này sẽ thấy, Nguyễn Khuyến đã sáng tác theo lối “chùm ba” của đại thi hào Trung Quốc – Đỗ Phủ.

Đối với bài “Thu vịnh”, Xuân Diệu từng nhận xét rằng đây là bài thơ trong ba bài về mùa thu của Nguyễn Khuyến mang cái hồn, cái chất của mùa thu hơn cả. Qua “Thu vịnh”, mùa thu xử Bắc hiện lên rõ nét, tinh tế và cũng ẩn chưa những tâm sự sâu kín của người viết:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao.

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tảng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Mở đầu bài thơ, tác giả phác họa một bức tranh không gian thoáng đãng. Trên nền trời được chấm phá một nét mỏn, mềm của cành trúc:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

“Trời thu xanh ngắt” là điểm đặc trưng đầu tiên của mùa thu xứ Bắc. Nhưng màu xanh ấy không chỉ là màu của trời thu mà còn ẩn chứa tình yêu tha thiết của người viết đối với mùa thu cũng như làng cảnh quê hương.

Không gian ngày mùa thu còn mở ra thăm thẳm với “mấy tầng cao”. Giữa màn trời xanh ngắt, một cành trúc vươn lên thật thanh cao mà không đìu hiu như “rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” như trong thơ của Xuân Diệu. Từ láy “lơ phơ” khi tả cành trúc cũng thật gợi hình, nó gợi tả sự thưa thớt của lá trúc, nên trước gió mùa thu không ngừng lay động. Còn cơn gió “hắt hiu” là gió như thế nào? Đúng hơn, cái sự “hắt hiu” đó là những rung động, là nỗi buồn mơ hồ mà tâm hồn người thi nhân cảm thấy khi đứng trước cảnh thu đượm buồn.

Nhưng rồi bức tranh mùa thu trong “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến cho thêm sắc màu mới, đường nét và hình ảnh mới. Cái không khí mùa thu xứ Bắc vì thế thêm đa đa dạng hơn:

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Và mùa thu được pha thêm màu “nước biếc”, mùa thu được khoác lên chiếc áo mới với màu xanh tha thiết. Gợi hình, gợi cảm hơn nữa khi áo thu trong xanh hòa quyện cùng “khói phủ” nhạt nhòa. Như cảnh đêm thu còn huyền diệu hơn thế khi có thêm trăng.

Người thi nhân mở cửa để đón trăng “Song thưa để mặc bóng trăng vào”. Cũng như nhiều nhà thơ khác, trăng là người bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến. Và có lẽ, nếu không có sự hiện diện của trăng, bức tranh mùa thu sẽ thiếu đi nhiều sự thi vị. Cảnh vật trong đêm được bao trùm bởi ánh trăng sẽ trở nên huyền ảo, mộng mơ hơn.

Cảnh đêm thu ấy càng trở nên huyền hoặc hơn khi có sự góp mặt của tiếng chim, của “giậu hoa”;

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Hoa mùa thu vẫn thế, không có sắc màu, là bởi khói phủ nhạt nhòa hay người viết đã không còn ý niềm về dòng thời gian trôi. Nên chỉ biết là hoa năm ngoái, mà chẳng rõ “mấy chùm trước giậu” là hoa gì, có màu sắc ra sao. Điều này khiến tứ thơ của Nguyễn Khuyến thêm trừu tượng và dường như đó cũng là tâm trạng bất biến của người viết. “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”, câu thơ mang một nỗi buồn man mác, khi âm thanh của mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ, cái xa lạ khiến lòng người thi nhân thổn thức.

Nguyễn Khuyến viết bài thơ với cảm hứng từ một đêm thu huyền diệu, nhưng cũng chính trong đêm thu ấy mà niềm thi hứng lại mang nỗi niềm u uẩn.

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

Trước cảnh thu đẹp mà buồn man mác, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ nỗi lòng mình. Với Nguyễn Khuyến cũng như với các nhà thơ chân chính, thơ sẽ luôn gắn liền với nhân cách. Nhân cách lớn thì thơ lớn.

Khi rung động trước cảnh đêm thu, toan cất bút làm thơ, Nguyễn Khuyến lại cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Ông Đào Nguyễn Khuyến nhắc đến là Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc xưa kia. Ông thẹn bởi so với “ông Đào” vì cái khí tiết của ông trong giới quan trường Trung Hoa khi dứt khoát từ quan. Nghĩ về mình, Nguyễn Khuyến làm quan trong thời buổi khó tránh khỏi việc là tay sai của giặc Pháp. Bởi vậy, khi đã về quê sống ẩn dật, ông vẫn luôn ân hận về những năm làm việc trong bộ máy chính quyền thối nát tàn bạo thời ấy. Như vậy, phân tích Thu vịnh ta không chỉ thấy một bức tranh mùa thu đẹp huyền ảo mà còn thấy được tấm lòng chân thực cũng như niềm u uẩn một nhà thơ, một nhân cách lớn Nguyễn Khuyến.

Một lần nữa cần khẳng định rằng “Thu vịnh” là một bài thơ thơ viết về mùa thu. Qua bài thơ, bức tranh mùa thu hiện lên thật thanh đạm, uyển chuyển và cũng thật huyền ảo. Bên cạnh đó, “Thu vịnh” còn là nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Bởi vậy, phân tích Thu vịnh ta như thấy, Nguyễn Khuyến miêu tả vẻ đẹp của đêm mùa thu và cũng là bộc bạch những nỗi niềm sâu kín. Qua bài thơ “Thu vịnh” người đọc sẽ cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên của làng quê Việt Nam, từ đó càng thêm yêu quý quê hương mình.

Bài tham khảo Mẫu 6

Mùa thu từ xưa tới nay luôn là nguồn cảm hứng vô tận trong các tác phẩm thi ca, nhạc họa. Mùa thu mang vẻ đẹp tinh tế, uyển chuyển, lúc mơ màng, lúc lại buồn man mác, khơi gợi nhiều cảm xúc vi diệu trong tâm hồn con người. Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ, với chùm thơ về mùa thu rất nổi tiếng gồm "Thu điếu," "Thu vịnh," và "Thu ẩm," nói về ba thú vui khi mùa thu tới. Trong đó, "Thu vịnh" được xem là bài thơ mang nhiều nét thi vị đậm đà về cảnh sắc mùa thu nơi làng quê, thôn dã đầy giản dị và hồn hậu.

"Thu vịnh" có nghĩa là ngâm vịnh, ca tụng mùa thu. Tuy có quan niệm cho rằng nên hiểu là tác giả đang trầm ngâm ngắm mùa thu mà làm thơ, nhưng điều này chưa hoàn toàn chính xác. Bài thơ là những vần thơ bay bổng, mới nghe tưởng chừng chỉ đơn giản tả về mùa thu, nhưng đọc kỹ lại thấy nó chứa đựng nhiều nỗi niềm tâm sự của một con người yêu nước, thương dân.

Khung cảnh mùa thu mở ra qua hai câu thơ:

"Trời thu xanh ngắt mấy từng cao.

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu."

Mùa thu hiện ra trong trẻo, khoáng đạt với hình ảnh bầu trời xanh ngắt, cao vời vợi. Thi nhân vẽ vào đó một cần trúc "lơ phơ," mềm mại, uyển chuyển trong cái gió se lạnh "hắt hiu." "Trời thu xanh ngắt" như chính tình cảm sâu đậm của nhà thơ dành cho mùa thu quê hương, một mùa thu xứ Bắc với nét riêng là "cần trúc lơ phơ," mềm mại nhưng không yếu đuối như liễu. Giọng thơ nhẹ nhàng, vương chút buồn man mác ở hai chữ "hắt hiu," phải chăng thi nhân có điều gì phiền lòng?

"Nước biếc trông như tảng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào."

Trên đã có "trời xanh," dưới lại có "nước biếc," cả hai đều mang một màu xanh trong trẻo, dịu dàng. Đôi khi người đọc không nắm rõ nghệ thuật "đảo trang" trong thơ ca, dẫn đến hiểu lầm hoặc không rõ nghĩa câu thơ này. Ý thơ là làn sương tựa khói đang là đà phủ trên mặt nước biếc. Chữ "biếc" không hẳn chỉ màu nước thật, mà có thể là tưởng tượng của nhà thơ để tạo âm vần. Tương tự, chữ "thưa" cũng được dùng với mục đích này. Tác giả tinh tế lướt qua hai khoảng thời gian sáng và tối, ban ngày thấy trời xanh, nước biếc; ban đêm thấy cảnh ánh trăng dịu nhẹ len lỏi từng song cửa. Trăng và mùa thu thường song hành trong thơ ca, và trăng còn là bạn tri kỷ của thi nhân, đêm khuya thanh vắng làm bạn với trăng, ngắm trăng làm thơ là một thú vui tao nhã. Nhờ ánh trăng, mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến có thêm chút mộng mơ, lãng mạn, thanh tao, nhã nhặn.

"Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?"

Cụm từ "hoa năm ngoái" có lẽ không nên hiểu là hoa nở từ năm ngoái mà thể hiện tâm trạng hoài niệm quá khứ của tác giả. Quá khứ ngọt ngào như những đóa hoa trước giậu, khiến tác giả ngậm ngùi nhớ về. Không gian trầm tĩnh, lắng đọng bị xáo động bởi tiếng ngỗng trời, bừng tỉnh tâm hồn thi sĩ và không gian mùa thu thanh bình, mang lại chút âm điệu đơn bạc, giải tỏa nỗi vắng lặng, tịch liêu.

Hai câu cuối bộc lộ tâm trạng nhà thơ rõ hơn:

"Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào."

Giữa khung cảnh trời thu đẹp và lãng mạn, thi nhân nào cũng rung động, muốn cất bút làm thơ. Nhưng Nguyễn Khuyến lại "thẹn với ông Đào" - Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), nhà thơ nổi tiếng thời Lục Triều (Trung Quốc). Ông tài giỏi, đỗ tiến sĩ, ra làm quan nhưng chán ghét quan trường bẩn thỉu, nên lui về ẩn dật. Nguyễn Khuyến "thẹn" vì thiếu khí tiết của bậc quân tử như Đào Tiềm. Đào Tiềm từ quan dứt khoát, sống thanh tao, còn Nguyễn Khuyến không thể từ bỏ công danh, phải làm quan dưới thời Pháp thuộc. Khi từ quan, ông vẫn ân hận vì làm quan buổi rối ren, nhục nhã. Chính vì điều này mà chữ "thẹn" cuối bài trở nên sâu sắc. Nhưng cũng nhờ những câu thơ tỏ lòng này, ta mới thấy được nhân cách cao cả, tấm lòng chân thành của Nguyễn Khuyến - người không trốn tránh sự thật, sẵn sàng thừa nhận lỗi lầm để tự vấn và tha thứ cho mình, người đáng trân trọng biết bao.

"Thu vịnh" là bài thơ hay và đặc sắc, mang đậm hương vị mùa thu miền quê Việt Nam. Những câu thơ chậm rãi, suy tư, có chút lạ lùng và khó hiểu, mang đến cảm nhận mới về mùa thu trong tâm hồn thi sĩ. Qua những câu thơ bộc bạch, ta thấu hiểu hơn nỗi lòng của tác giả, nỗi hổ thẹn cũng là niềm yêu nước, thương dân ẩn sâu trong tâm hồn Nguyễn Khuyến.

Bài tham khảo Mẫu 7

Bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi của làng quê Việt Nam – từ làn mây, bầu trời, ngọn trúc, mặt nước, ánh trăng đến âm thanh nhẹ nhàng của gió, tiếng ngỗng – Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh mùa thu bình dị mà thấm đượm hồn quê. Chính nhờ sự kết hợp tinh tế giữa cảnh và tình ấy, bài thơ mang một vẻ đẹp riêng, một nỗi buồn sâu lắng khó có thể diễn tả trọn vẹn. Qua đó, ta càng cảm nhận rõ tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với quê hương, đất nước, và với thiên nhiên – một tình yêu chân thành, sâu sắc và tinh tế đến mức không phải ai cũng có thể thể hiện được.

Nguyễn Khuyến là người dành trọn tấm lòng cho làng cảnh Việt Nam. Ông nổi tiếng với chùm ba bài thơ thu: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm, mỗi bài là một góc nhìn riêng về mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Chùm thơ này cho thấy ảnh hưởng rõ nét của lối sáng tác “tam thu” trong thơ Đỗ Phủ – đại thi hào Trung Hoa – nhưng vẫn mang đậm phong vị Việt Nam. Trong đó, Thu vịnh được Xuân Diệu đánh giá là bài thơ “mang hồn thu, mang chất thu hơn cả” – nơi mùa thu xứ Bắc hiện lên tinh tế, trong trẻo và thấm đẫm tâm sự của thi nhân:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến gợi ra một không gian rộng mở, trong sáng và thanh khiết. Trên nền trời cao xanh vời vợi, hình ảnh “cần trúc lơ phơ” được vẽ bằng những nét bút mềm mại, nhẹ nhàng mà tinh tế. Cụm từ “trời thu xanh ngắt” không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn gợi lên tình yêu sâu nặng của thi nhân với quê hương. Màu xanh ấy là màu của sự thanh bình, nhưng ẩn chứa trong đó một nỗi buồn man mác – nỗi buồn của người từng trải, nhìn cảnh vật mà ngậm ngùi cho thế sự.

Cơn gió “hắt hiu” được cảm nhận không chỉ bằng giác quan mà bằng cả tâm hồn. “Hắt hiu” là cái se lạnh, là nỗi trống vắng, gợi cảm giác cô đơn của con người giữa không gian bao la. Trong từng hơi gió thu, người đọc cảm nhận được sự giao hòa giữa thiên nhiên và tâm trạng, giữa cảnh vật tĩnh lặng và tâm hồn thi sĩ đang xao động.

Ở hai câu tiếp, bức tranh thu được mở rộng với những gam màu và đường nét mới:

Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Màu “nước biếc” hòa với “khói phủ” khiến cảnh vật trở nên vừa thực vừa ảo, gợi cảm giác bảng lảng, mơ hồ như trong cõi mộng. Đặc biệt, hình ảnh “bóng trăng vào song thưa” mang vẻ đẹp thi vị, thể hiện tâm hồn nghệ sĩ tinh tế của Nguyễn Khuyến. Trăng là người bạn tri âm, tri kỷ của thi nhân xưa – vừa là biểu tượng của vẻ đẹp thuần khiết, vừa là nơi gửi gắm tâm tình. Nhờ ánh trăng ấy, bức tranh thu trở nên lung linh, huyền ảo và giàu sức gợi hơn bao giờ hết.

Đến hai câu sau, cảnh vật như được đan xen giữa hiện tại và quá khứ, giữa thực tại và hồi ức:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Cụm “hoa năm ngoái” gợi cảm giác thời gian trôi đi, gợi nỗi buồn man mác của sự đổi thay. Hoa vẫn nở, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng lòng người thì đã khác. Âm thanh “một tiếng ngỗng nước nào” vang lên như chạm vào nỗi cô đơn sâu thẳm của nhà thơ – tiếng gọi từ xa xăm, mơ hồ mà đầy ám ảnh. Đó là âm thanh của nỗi nhớ nước, nhớ quê, của một tâm hồn yêu nước nhưng đành ẩn mình trong lặng lẽ.

Hai câu cuối là lời tự bộc bạch đầy uẩn khúc:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

“Ông Đào” ở đây là Đào Tiềm – thi nhân Trung Hoa nổi tiếng thanh cao, liêm khiết. Nguyễn Khuyến “thẹn” bởi bản thân từng làm quan trong thời buổi nước mất, nhà tan, từng phải cúi mình trước cường quyền. Dù sau này cáo quan về ở ẩn, ông vẫn day dứt khôn nguôi. Cái “thẹn” ấy không phải của sự hổ thẹn tầm thường, mà là nỗi tự vấn của một nhân cách lớn, biết sống trung thực với lòng mình.

Như vậy, Thu vịnh không chỉ là bức tranh mùa thu tuyệt đẹp mà còn là tiếng lòng của một nhà nho yêu nước, mang nặng nỗi ưu thời mẫn thế. Qua từng hình ảnh, từng nhịp thơ, ta thấy rõ tấm lòng thanh cao, tâm hồn tinh tế và nhân cách trong sáng của Nguyễn Khuyến.

Tóm lại, Thu vịnh là bài thơ kết tinh vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn con người Việt Nam. Bằng ngòi bút tài hoa, Nguyễn Khuyến đã tạo nên một bức tranh thu mang sắc hương đồng nội, vừa giản dị vừa thâm trầm. Phân tích bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được cảnh sắc mùa thu thanh đạm mà còn thấy được một Nguyễn Khuyến yêu quê hương, yêu thiên nhiên và luôn trăn trở với vận mệnh dân tộc. Chính vì thế, Thu vịnh mãi là viên ngọc sáng trong kho tàng thơ ca Việt Nam, làm say lòng bao thế hệ độc giả.

Bài tham khảo Mẫu 8

Nguyễn Khuyến- một nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, những khung cảnh, đời sống của làng quê được ngòi bút tinh tế của ông khắc lên vừa có hồn lại vừa vẻ nên được những bức ảnh làng quê vô cùng lãng mạn, trữ tình. Bằng ngòi bút tả cảnh ngụ tình đã khiến cho biết bao tác phẩm của ông đi vào lòng người. Đặc biệt là chùm thơ thu, với Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm và đi vào lòng người bằng những hình ảnh, những nét đặc trưng tiêu biểu của mùa thu. Và với bài thơ Thu vịnh, Nguyễn Khuyến cho thấy một tâm sự u hoài, một tấm lòng xót xa trước cảnh, kín đáo, bày tỏ một tình cảm yêu nước chân thành.

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Ở đây, khác hẳn với những trời thu trong “Thu điếu” và “Thu ẩm”, trời thu của Thu vịnh được mở đầu là một khung cảnh cao vút và thăm thẳm của trời thu, và xen vào đó là cái se se lạnh của mùa thu. Với cái nền là bầu trời bao la “xanh ngắt”, “ mấy tầng cao” nổi bật lên hình ảnh thanh tú của cần trúc đang đong đưa khe khẽ trước gió thu. Và hình ảnh động của gió hắt hiu như chứa chất tâm trạng bên trong. Mở đầu như vậy khiến cho người đọc có thể phần nào thấy được một nỗi lòng đầy lo âu. Sự lay động rất nhẹ của cần trúc càng làm tăng thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời. Hai câu đề chấm phá hai nét phong cảnh đơn sợ, thanh thoát nhưng hoà điệu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả. Nhà thơ đã vẽ lên một khung cảnh trời thu vừa có cảnh thực là vừa có hồn thu ở trong cảnh.

Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu khi khí trời bắt đầu se lạnh. Sáng sớm và chiều tối, trên mặt ao, mặt hồ có một lớp sương mỏng trông như khói phủ làm cho người đọc có cảm giác cảnh mùa thu được chen lẫn với màu khói. Và chính cái cảnh mặt nước khói sương bình thường ấy qua con mắt và tâm hồn thi sĩ đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh. Tầng khói phủ khác làn khói phụ vì sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, độ sâu, như chất chứa cái gì đó ở bên trong. Chỉ bằng vài nét chấm phá nho nhỏ của mùa thu đã khiến cho mùa thu như có hồn và sự hòa quyện giữa cảnh thu và lòng người đi vào trong lòng người đọc Hình ảnh song thưa gợi ý thanh thoát, cởi mở, két hợp với hình ảnh ánh trăng- hình ảnh quen thuộc đều có ở mỗi làng quê, góp phần vừa tạo nên cảm giác gần gũi, vừa tạo cho người đọc có được có cảm giác thiên nhiên luôn luôn hài hòa và gần gũi với nhau. Nếu ở câu trên là một trạng thái có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này lại là một trạng thái mở ra thành một bề rộng, giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa mà vẫn cứ mênh mông ở ý nghĩa bên trong, ở tinh thần và âm điệu, nhưng trạng thái nào thì cũng đều tĩnh mịch và chất chứa suy tư.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không, ngỗng nước nào?

Nếu như cảnh vật ở 4 câu thơ trên được miêu tả qua con mắt nhìn có vẻ khách quan, đầy cảm xúc của trái tim. Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật hình ảnh “mấy chùm” hoa và “một tiếng” ngỗng. Hình ảnh “hoa năm ngoái” có sức gợi tả mạnh; “hoa năm ngoái” có nghĩa là hoa vẫn là hoa y như năm ngoái mà nước hôm nay thì đã trở thành “nước nào”. Và tiếng ngỗng ở đây, về nghệ thuật, là lấy cái động để diễn tả cái tĩnh. Cảm giác khi nghe tiếng ngỗng trên không văng vẳng mà giật mình băn khoăn tự hỏi: ngỗng nước nào? Mặc dù âm thanh ấy đã quá quen thuộc mỗi độ thu về. Và nếu như 4 câu thơ trên sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người có sự kết hợp hài hòa thì đến 2 câu thơ này, là một nỗi u uất của lòng người trước cảnh vật thiên nhiên, là nỗi niềm xót xa, nẫu ruột, chết lòng.

Và rồi đến 2 câu thơ kết của của bài thơ là cảm hứng và nỗi thẹn của nhà thơ

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

“Nhân hứng” ở đây chính là hứng làm thơ trước cảnh mùa thu, “toan cất bút” định không viết nhưng trước cảnh đẹp thì lại tạo được hứng khởi để viết. “Nghĩ ra” tức là ý thức, là lý trí, là tỉnh. Nguyễn Khuyến rất say mà rất tỉnh. Ông say trước cảnh đẹp của mùa thu, nhưng ông vẫn tỉnh trước lương tâm của mình. Cho nên, ông nói được là thẹn. Nhưng thẹn với ai? Có lẽ thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa có được nhân cách trong sáng và khí phách cứng cỏi như Đào Tiềm? Với hướng văn đi từ cảnh đến tình, từ tình đến người và rồi là cái kết có chút lẳng lơ nhưng mà lại vô cùng kín đáo ẩn chứa rất nhiều suy tư của người đọc

Bài tham khảo Mẫu 9

Mùa thu từ xưa tới nay luôn là nguồn cảm hứng dồi dào trong các tác phẩm thi ca nhạc họa, bởi mùa thu mang một cái vẻ đẹp tinh tế, uyển chuyển, có lúc mơ màng, có lúc lại buồn man mác, khơi gợi nên nhiều cảm xúc vi diệu trong tâm tưởng con người. Và Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ, với chùm thơ về mùa thu rất nổi tiếng ấy là Thu điếu, Thu vịnh và Thu ẩm, nói về ba thú vui nhân mùa thu tới. Trong đó Thu vịnh được xem là bài thơ mang nhiều nét thi vị đậm đà về cảnh sắc mùa thu nơi làng quê, thôn dã đầy giản dị và hồn hậu.

Thu vịnh có nghĩa là ngâm vịnh, ca tụng về mùa thu, tuy có một số quan niệm cho rằng nên hiểu là tác giả đang trầm ngâm ngắm mùa thu mà làm thơ nhưng nếu như thế thì chưa chính xác lắm. Cả bài là những vần thơ bay bổng, mới nghe mới đọc thì tưởng chừng chỉ đơn giản là tả về mùa thu, nhưng nếu đọc mà trầm ngâm thêm chút nữa mới biết nó cũng chứa nhiều nỗi niềm tâm sự của một con người yêu nước, thương dân.

Mở ra cảnh sắc mùa thu là hai câu thơ:

"Trời thu xanh ngắt mấy từng cao.
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu."

Khung cảnh mùa thu hiện ra thật trong trẻo, khoáng đạt với hình ảnh bầu trời mang một màu mây xanh ngắt, cao vời vợi, tô điểm cho khung cảnh trống trải ấy, thi nhân vẽ vào một cần trúc "lơ phơ", mềm mại, uyển chuyển trong cái gió se se lạnh "hắt hiu". "Trời thu xanh ngắt" như chính thứ tình cảm sâu đậm của nhà thơ dành cho mùa thu nơi quê hương, một mùa thu của xứ Bắc, với nét riêng biệt ấy là "cần trúc lơ phơ" vẫn mang chút mềm mại, nhưng lại chẳng yếu đuối, lả lướt như liễu. Giọng thơ chậm rãi nhẹ nhàng, vương một chút buồn man mác nơi hai chữ "hắt hiu", phải chăng thi nhân có điều chi phiền lòng?

"Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào"

Trên đã có "trời xanh" dưới lại có "nước biếc", cả hai thứ ấy đều mang một màu xanh trong trẻo, dịu dàng, liệu còn có phong cảnh nào xinh đẹp hơn thế nữa? Đôi khi người đọc vì không nắm rõ nghệ thuật "đảo trang" trong thơ ca(nghệ thuật đổi âm vận sao cho câu thơ được vần) mà thường hiểu lầm hoặc hiểu không rõ nghĩa của câu thơ này. Ở đây, ý thơ có nghĩa là làn sương tựa như khói đang là đà phủ trên mặt nước biếc. Chữ "biếc" ở đây không hẳn là nước có màu ấy thật, mà cũng có khi nhà thơ tưởng tượng ra rồi viết vào cho bay bổng lại tiệp vần với nhau. Tương tự, ở câu dưới chữ "thưa" cũng được đưa vào nhằm mục đích này. Ta chợt nhận ra cảnh mùa thu trong bài được tác giả tinh tế lướt qua hai khoảng thời gian sáng và tối, ban ngày thì thấy trời xanh, nước biếc, ban đêm thì lại ngó thấy cảnh ánh trăng vàng, dịu nhẹ len lỏi từng song cửa. Trăng với mùa thu là hai thực thể rất hay song hành cùng nhau trong những bài thơ, bài văn nói về mùa thu và hơn thế nữa trăng còn là người bạn tri kỷ của thi nhân, đêm khuya thanh vắng, thi nhân chẳng có ai bầu bạn, đành làm bạn với trăng sáng, âu ngắm trăng làm thơ cũng là một thú vui tao nhã. Và cũng nhờ có ánh trăng này mùa thu trong thơ của Nguyễn Khuyến có thêm chút gì đó mộng mơ, lãng mạn hơn cũng vừa thanh tao, nhã nhặn.

"Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?"

Cụm từ "hoa năm ngoái" có lẽ chúng ta không nên hiểu là hoa đã nở từ năm ngoái mà đây hẳn là tâm trạng của tác giả đang hoài niệm quá khứ, một cái quá khứ nào đó còn kéo dài trong tâm hồn của thi nhân đến ngày hôm nay, mang đến trong điệu thơ những nỗi u hoài, trầm buồn của tác giả. Hẳn rằng ấy là một ký ức ngọt ngào tựa như những đóa hoa trước giậu, khiến tác giả bỗng ngậm ngùi khi nhớ về. Trong cái không gian vốn trầm tĩnh, lắng đọng ấy bỗng nhiên bị xáo động bởi tiếng ngỗng trời, làm bừng tỉnh tâm hồn người thi sĩ, bừng tỉnh cả không gian mùa thu vốn thanh bình yên ắng, đem lại chút âm điệu đơn bạc, giải đi nỗi vắng lặng, tịch liêu.

Ở hai câu thơ cuối tâm trạng của nhà thơ được bộc lộ rõ hơn:

"Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào"

Giữa khung cảnh trời thu đẹp và lãng mạn đến thế, thử hỏi liệu có thi nhân nào không rung động, vừa nhìn là muốn động bút làm một mạch mấy bài thơ, bài vịnh cho thỏa hứng. Nhưng chợt Nguyễn Khuyến xuất hiện một suy nghĩ rất lạ "thẹn với ông Đào", "Đào" ở đây là Đào Tiềm (tên khác là Đào Uyên Minh), vốn là một nhà thơ nhà thơ rất nổi tiếng thời Lục Triều (Trung Quốc), ông là người tài giỏi, từng đỗ tiến sĩ rồi ra làm quan, nhưng chán ghét chốn quan trường bẩn thỉu, nhũng nhiễu mà lui về ở ẩn. Vậy cớ gì mà Nguyễn Khuyến "thẹn", khi mà tính ra ông cũng chẳng thua kém gì về học thức và tài năng. Câu trả lời ấy là Nguyễn Khuyến thấy hổ thẹn khi thua ở cái khí tiết của một bậc quân tử phải có, Đào Tiềm sẵn sàng từ quan khi chán ghét, cũng chẳng màng đến thế sự, cứ ung dung làm thơ, sống thanh tao ẩn dật. Còn Nguyễn Khuyến ông, lại vẫn không thể từ bỏ công danh mà ra làm quan dưới thời Pháp thuộc, khi từ quan rồi cũng chẳng thôi được cái mối ân hận khi làm quan buổi rối ren, đầy nhục nhã, ấy chính là căn nguyên của chữ "thẹn" nơi cuối bài. Nhưng cũng chính những câu thơ tỏ lòng như thế ta mới thấy được một nhân cách cao cả, một tấm lòng đầy chân thành của người quân tử, không trốn tránh sự thật mà sẵn sàng thừa nhận, nhận để biết mà không thôi tự vấn và tha thứ cho lỗi lầm xưa cũ, người như thế thật đáng trân trọng biết bao.

Thu vịnh là bài thơ hay và đặc sắc, có mùi vị mùa thu miền quê Việt Nam thật rõ ràng và chân thực. Những câu thơ với nhịp điệu chậm rãi, mang chút suy tư, có chỗ hơi lạ lùng và khó hiểu đã mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về một mùa thu trong tâm hồn người thi sĩ. Đặc biệt qua những câu thơ bộc bạch ấy ta còn thấu hiểu hơn về nỗi lòng của tác giả, nỗi hổ thẹn cũng là niềm yêu nước, thương dân ẩn sâu trong tâm hồn của nhà thơ.

Bài tham khảo Mẫu 10

Nhắc đến thơ viết về đề tài tình yêu không thể không nhắc đến Xuân Diệu; nhắc đến thơ ca cách mạng không thể không nhắc đến Tố Hữu; còn nếu nhắc đến thơ viết về mùa thu, chúng ta không thể nào không nhắc tới cái tên Nguyễn Khuyến! Ông có cả một chùm thơ hay viết về mùa thu gồm 3 bài: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm.

Cả ba bài trong chùm thơ thu đều lấy bối cảnh là làng cảnh quê hương tác giả. Đó là vùng đồng chiêm trũng Bình Lục một năm chỉ cấy được một mùa, còn lại toàn là ngập nước. Làng quê Bình Lục ấy cũng bình dị như biết bao làng quê thân thuộc khác, có vô số ao chuôm với những bờ tre quanh co bao bọc những mái tranh nghèo.

Nếu như trong Thu điếu bức tranh mùa thu được cảm nhận theo chiều không gian từ gần rồi đến cao, xa thì ở Thu vịnh, nhà thơ thưởng thức bức tranh thu bắt đầu từ cao xuống thấp. Mở đầu bài thơ là hình ảnh bầu trời bao la, bát ngát, xanh trong rất điển hình của mùa thu nơi thôn dã:

“Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

“Xanh ngắt” có nghĩa là xanh thăm thẳm, dường như trời thu trong thơ Nguyễn Khuyến luôn được bao phủ bởi sắc màu “xanh ngắt” ấy. Ví dụ như trong Thu ẩm ông viết:

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”

Hay ở Thu điếu:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”

Xanh ngắt là sắc xanh trong, mở ra một không gian rất rộng, rất cao. Đặc biệt, khi kết hợp với “mấy từng cao” càng làm không gian thêm bao la, thăm thẳm. Mấy từng cao gợi cho chúng ra cảm giác là rất cao, tưởng như có nhiều lớp, nhiều tầng. Trên cái nền là bầu trời bao la nổi bật lên hình ảnh thanh tú của cần trúc. Không phải là “khóm trúc” mà là “cần trúc”, là cây trúc non dáng cong cong như chiếc cần câu đang đong đưa khe khẽ trước gió thu “hắt hiu” thổi. Gió hắt hiu là gió rất nhẹ, gió thổi không vội vàng cũng nhưng cũng không lưu luyến, gợi lên chút cảm giác hững hờ. Đến cả gió thu cũng đậm chất thu, phảng phất buồn như chứa chất tâm trạng bên trong.

Tất cả dường như có một mối cảm thông thầm lặng, sâu kín, tinh tế và khó nắm bắt. Giữa cái nền “xanh ngắt”, sự lay động rất nhẹ của cần trúc càng làm tăng thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời. Bầu trời lại như dồn hết cái sâu lắng vào bên trong cần trúc, để cho nó vừa như đong đưa mà cũng vừa như đứng yên. Đó là nét động và nét tĩnh của cảnh thu, cũng chính là biệt tài trong dụng nghệ lấy động tả tĩnh của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Thông qua hai câu đề này, nhà thơ đã chấm phá hai nét phong cảnh đơn sơ, thanh thoát nhưng hoà điệu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả. Trong đó, mọi chi tiết, sắc màu, đường nét, cử động đều rất hài hoà. Nhà thơ mới chỉ nói đến trời thu nhưng ta đã thấy cả hồn thu trong đó vậy!

“Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Hai câu luận tiếp tục phác thảo rõ nét hơn cảnh sắc của mùa thu. Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu khi khí trời bắt đầu se lạnh. “Biếc” ở đây chỉ sắc xanh của nước: vừa xanh, vừa trong; còn gợi lên hình ảnh vừa tĩnh lặng vừa như sáng lấp lánh. Mùa thu, vào sáng sớm và chiều tối, trên mặt ao, mặt hồ có một lớp sương mỏng trông như khói phủ. Cảnh mặt nước khói sương bình thường ấy qua con mắt và tâm hồn thi sĩ đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh. Cách sử dụng “tầng khói phủ” cũng đem lại hiệu ứng gợi hình, gợi cảm hơn hẳn. Không phải “làn” mà lại là “tầng”. Tầng khói phủ khác làn khói phủ vì sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, độ sâu, như chất chứa cái gì đó ở bên trong. Nước biếc cỏ tầng khói phủ thì màu nước không còn biếc nữa mà hoà lẫn vào làn khói lam mờ, trở nên mông lung, huyền ảo. Cách so sánh này thấy sự rất độc đáo, rất thơ!

Từ bầu trời nhìn xuống mặt nước, rồi lại từ mặt ngước lên bầu trời. Tuy nhiên, khung cảnh thu càng làm nên thơ mộng khi được dát lên mình màu trắng bạc của ánh trăng. Hình ảnh song thưa gợi ý thanh thoát, cởi mở. Bóng trăng vào qua song thưa để ngỏ thì bóng trăng trở nên mênh mông hơn, lặng lẽ hơn. Nếu ở câu trên là một trạng thái có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này lại là một trạng thái mở ra thành một bề rộng, mặc dù bị giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa mà vẫn cứ mênh mông ở ý nghĩa bên trong, ở tinh thần và âm điệu, những trạng thái nào thì cũng đều tĩnh mịch và chất chứa suy tư.

Cảnh thu trong bốn câu thơ đầu được miêu tả ở những thời điểm khác nhau. Nhìn thấy màu trời xanh ngắt; cần trúc là lúc đang trưa; mặt nước biếc trông như tầng khói phủ là lúc hoàng hôn và bóng trăng tràn qua song thưa là lúc trời đã vào đêm... Cảnh sắc chuyển biến theo thời gian, nhưng lại nhất quán trong ý thơ, trong tâm tư của hồn thi sĩ.

Đến hai câu thơ trong thực, tác giả viết:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không, ngỗng nước nào”

Sau khi nhìn mặt nước khói phủ lại đến ngắm ánh trăng tràn qua song thưa; lúc này nhà thơ trông ra bờ giậu ngoài sân thấy mấy chùm hoa đã nở. Hoa nở thì đâu có gì lạ? Điều lạ là bỗng dưng, nhà thơ cảm thấy đó là hoa năm ngoái. Nếu như ở 4 câu trên, cảnh vật được miêu tả qua con mắt nhìn có vẻ khách quan, thì đến đây cảm xúc của trái tim đã khoác lên cảnh vật màu sắc chủ quan. Rõ ràng là thấy hoa nở ngay trước mắt, nhưng nhà thơ lại cảm thấy đó là hoa nở từ năm ngoái. Phải chăng con người đang ở hiện tại mà như lùi về quá khứ? Hay quá khứ đang tìm về với thực tại mới đúng đây?

Ở hai câu thơ này, âm điệu theo nhịp 4/1/2. Từ “Mấy chùm trước giậu đến hoa năm ngoái” có một đoạn suy tư, ngẫm nghĩ và sau đó đột nhiên xuất hiện cảm giác lạ lùng là hoa năm ngoái chứ không phải hoa năm nay. Cảm giác ấy khiến nhà thơ nghe tiếng ngỗng trên không văng vẳng mà giật mình băn khoăn tự hỏi: ngỗng nước nào?

Nếu như bốn câu đầu, cảnh vật hài hoà, giao cảm với nhau thì đến đây, con người hoà hợp với cảnh vật trong một nỗi niềm u uất. Cảnh vật thể hiện tâm tư con người và tâm tư con người thể hiện qua cách nhìn cảnh vật. Như vậy, cảnh vật được miêu tả qua đôi mắt và trái tim rung cảm của nhà thơ. Mùa thu tới, nhà thơ nhìn hoa trước sân, nghe tiếng chim kêu trên trời vẳng xuống mà trỗi dậy cả một niềm xót xa, lặng lẽ mà như nẫu ruột, chết lòng. Chiều sâu của tâm hồn thi sĩ lắng đọng vào chiều sâu của câu thơ là vậy. Quả ứng với câu:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Đứng trước cảnh thu, cảm nhận hồn thu khiến cảm hứng làm thơ của thi sĩ bỗng dạt dào. Ông toan cất bút nhưng rồi lại ngập ngừng:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”

Nhà thơ thẹn với ông Đào, là thẹn điều gì? Thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa có được nhân cách trong sáng và khí phách cứng cỏi như Đào Tiềm? Câu hỏi ấy còn lửng lơ bỏ ngỏ. Một chữ “thẹn” vừa khiến nhịp thơ chùng xuống, vừa thấy được sự kính trọng, sùng bái của nhà thơ với người thi sĩ nhà Đường không màng danh lợi. Lời thơ trong câu kết có cái gì đó lửng lơ mà kín đáo, do đó càng làm tăng thêm chất suy tư của cả bài thơ.

Không thể phủ nhận Thu vịnh là một trong những bài thơ đỉnh cao viết về đề tài mùa thu, về làng cảnh trong nền văn học Việt Nam. Bài thơ không chỉ khắc họa bức tranh mùa thu thôn dã đẹp bình dị, mộc mạc mà gần gũi, qua đó còn thể hiện cái tâm của người thi sĩ yêu làng quê, đất nước; người thi sĩ có tâm hồn cũng trong sáng, mộc mạc như chính cảnh sắc thu quê.

Bài tham khảo Mẫu 11

Trong dòng thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, chùm thơ thu là một đỉnh cao đặc sắc, vừa giàu chất họa vừa thấm đượm tâm trạng u hoài của một nhà nho ẩn dật. “Thu vịnh” là một trong những bài thơ tiêu biểu, thể hiện rõ nhất vẻ đẹp mùa thu đồng bằng Bắc Bộ đồng thời gửi gắm tâm sự của một con người yêu nước thầm lặng trong cảnh đời nhiều biến động. Bài thơ không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên tinh tế mà còn phản chiếu tâm hồn nhạy cảm, thanh cao của tác giả.

Ngay từ hai câu đề, không gian mùa thu đã mở ra với những nét chấm phá nhẹ nhàng mà gợi cảm:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

Bầu trời “xanh ngắt” được đẩy lên thành nhiều tầng cao, gợi cảm giác vừa trong trẻo vừa sâu thẳm, như mở ra một không gian vô tận. Trong không gian ấy, hình ảnh “cần trúc” mảnh mai, nghiêng nhẹ trong “gió hắt hiu” tạo nên sự hài hòa giữa tĩnh và động. Cảnh thu không rực rỡ mà mang vẻ đẹp thanh sơ, tĩnh lặng, rất đặc trưng của làng quê Bắc Bộ. Đồng thời, cái “hắt hiu” của gió cũng như thấm vào lòng người, gợi một nỗi buồn nhẹ nhàng, khó gọi tên.

Nếu hai câu đề gợi cảnh rộng thì hai câu thực lại đi vào những chi tiết gần gũi, quen thuộc:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Mặt nước “biếc” không chỉ mang màu sắc mà còn gợi chiều sâu không gian, khi được so sánh với “tầng khói phủ” tạo nên cảm giác mờ ảo, bảng lảng. Câu thơ vừa tả thực vừa mang tính tạo hình rất cao. Đặc biệt, hình ảnh “song thưa” và “bóng trăng” gợi một không gian tĩnh lặng tuyệt đối: ánh trăng len qua khung cửa, lặng lẽ hiện diện trong căn nhà vắng. Con người dường như đứng ngoài cảnh vật, chỉ còn lại thiên nhiên tự vận động trong sự im ắng của buổi thu.

Đến hai câu luận, bức tranh thu được mở rộng hơn nhưng vẫn giữ nét trầm lắng:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào”

Hình ảnh “hoa năm ngoái” gợi sự tàn phai, gợi thời gian trôi qua và sự đổi thay. Cái đẹp không còn nguyên vẹn mà đã nhuốm màu hoài niệm. Trong không gian ấy, “tiếng ngỗng trên không” vang lên đột ngột, phá vỡ sự tĩnh lặng nhưng lại càng làm nổi bật cái vắng vẻ của cảnh thu. Tiếng chim di trú gợi cảm giác xa xăm, lạnh lẽo, như đánh thức trong lòng người nỗi cô đơn và sự suy tư về kiếp người, thời thế.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một cảm xúc lặng sâu:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”

Tác giả muốn viết thơ khi cảm hứng dâng lên, nhưng rồi lại “thẹn” với Đào Uyên Minh – nhà thơ ẩn sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Sự “thẹn” ấy không phải mặc cảm mà là sự tự ý thức về cái chưa đạt tới lý tưởng thanh cao của bậc tiền nhân. Qua đó, Nguyễn Khuyến bộc lộ tâm thế của một nhà nho ẩn dật: rời bỏ chốn quan trường nhưng lòng vẫn canh cánh nỗi niềm thời thế. Niềm vui thú điền viên vì thế không hoàn toàn trọn vẹn, mà ẩn chứa một nỗi buồn kín đáo.

Về nghệ thuật, “Thu vịnh” tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Khuyến. Ngôn ngữ Nôm giản dị nhưng giàu sức gợi, hình ảnh chọn lọc tinh tế, đặc biệt là nghệ thuật lấy động tả tĩnh và sử dụng các chi tiết nhỏ để gợi không gian rộng lớn. Cảnh vật hiện lên vừa thực vừa mơ, vừa đẹp vừa buồn.

Tóm lại, “Thu vịnh” không chỉ là bức tranh mùa thu đặc sắc của làng quê Việt Nam mà còn là bức chân dung tâm hồn Nguyễn Khuyến: một con người yêu thiên nhiên, gắn bó với quê hương nhưng mang trong mình nỗi ưu thời mẫn thế sâu kín. Chính sự hòa quyện giữa cảnh và tình đã làm nên giá trị bền vững cho thi phẩm này.

Bài tham khảo Mẫu 12

Trong thơ ca trung đại Việt Nam, mùa thu là một đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ. Mỗi thi nhân khi viết về mùa thu đều gửi vào đó một cách nhìn riêng, một nỗi niềm riêng. Nếu Xuân Diệu sau này nhìn thu bằng cảm giác vội vã, xao xuyến của cái “hôm nay”, thì Nguyễn Khuyến lại tìm đến mùa thu bằng cái nhìn tĩnh lặng, sâu xa của một tâm hồn ẩn sĩ nhiều suy tư. “Thu vịnh” không chỉ là bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà còn là tiếng lòng kín đáo của một nhà nho trước thời cuộc đổi thay.

Ngay từ hai câu thơ đầu, không gian nghệ thuật đã được mở ra với chiều sâu rộng lớn:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

Bầu trời mùa thu hiện lên với sắc “xanh ngắt”, không phải màu xanh tươi sáng mà là màu xanh thăm thẳm, lạnh và sâu, gợi cảm giác xa vắng. Cụm từ “mấy tầng cao” không chỉ miêu tả độ cao mà còn mở ra cảm giác không gian đa tầng, rộng lớn đến vô tận. Trong khung cảnh ấy, hình ảnh “cần trúc” mảnh mai, đơn độc rung nhẹ trong làn gió “hắt hiu” tạo nên sự đối lập giữa cái rộng lớn của trời đất và cái nhỏ bé, yếu ớt của sự vật. Sự đối lập ấy không chỉ tạo nên bức tranh đẹp mà còn gợi một nỗi buồn man mác, thấm sâu.

Hai câu thực tiếp tục mở rộng không gian nhưng đồng thời làm đậm thêm chất tĩnh:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Mặt nước “biếc” không chỉ mang màu sắc mà còn mang chiều sâu không gian. Hình ảnh so sánh “như tầng khói phủ” khiến cảnh vật trở nên mờ ảo, như thực như mơ. Đặc biệt, “song thưa” và “bóng trăng” tạo nên một khung cảnh rất thơ: ánh trăng lặng lẽ xuyên qua khung cửa, tự do hiện diện trong không gian vắng người. Con người dường như biến mất, chỉ còn thiên nhiên tồn tại trong sự im lặng tuyệt đối. Chính sự vắng bóng con người ấy lại làm nổi bật cái cô tịch của cảnh thu.

Đến hai câu luận, bức tranh thu có thêm một điểm nhấn về thời gian và âm thanh:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào”

“Hoa năm ngoái” không chỉ là hình ảnh tả thực mà còn là dấu hiệu của sự tàn phai, của thời gian đã trôi qua. Nó gợi cảm giác tiếc nuối, hoài niệm về cái đẹp không còn nguyên vẹn. Trong khi đó, “một tiếng trên không ngỗng nước nào” là âm thanh hiếm hoi xuất hiện trong toàn bài thơ. Tiếng ngỗng trời di cư vang lên giữa không gian tĩnh lặng càng làm nổi bật sự vắng vẻ. Nó không phá vỡ sự yên tĩnh mà trái lại, làm sự yên tĩnh trở nên rõ rệt hơn, sâu hơn và buồn hơn.

Hai câu kết là nơi cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”

Nguyễn Khuyến có ý định làm thơ khi cảm hứng đến, nhưng rồi lại dừng lại vì cảm giác “thẹn” với Đào Uyên Minh – một nhà thơ ẩn sĩ nổi tiếng của Trung Hoa. Cái “thẹn” ấy thể hiện sự tự ý thức sâu sắc về nhân cách và lý tưởng sống. Dù đã lui về ở ẩn, ông vẫn cảm thấy mình chưa đạt đến sự thanh cao tuyệt đối như bậc tiền nhân. Qua đó, bài thơ không chỉ là tả cảnh mà còn là sự tự vấn về con đường sống, về nhân cách kẻ sĩ trong thời buổi rối ren.

Như vậy, “Thu vịnh” là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh và tình. Cảnh thu đẹp nhưng buồn, tĩnh nhưng sâu; tình thu kín đáo nhưng day dứt, thanh cao mà uẩn khúc. Tất cả đã làm nên một trong những bài thơ thu hay nhất của văn học trung đại Việt Nam.

Bài tham khảo Mẫu 13

Nếu coi thơ ca là nơi lưu giữ những khoảnh khắc tinh tế nhất của tâm hồn con người, thì “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến chính là một “bức ảnh tâm trạng” đặc biệt về mùa thu. Bài thơ không đi theo lối kể hay miêu tả đơn thuần, mà giống như một hành trình cảm nhận: từ cảnh sắc thiên nhiên đến chiều sâu nội tâm của thi nhân.

Câu thơ mở đầu đã dựng lên một không gian rộng lớn và đầy ấn tượng:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”

Không gian được mở ra theo chiều thẳng đứng, từ mặt đất hướng lên bầu trời nhiều tầng lớp. Sắc “xanh ngắt” không chỉ là màu sắc mà còn là cảm giác: lạnh, sâu, tĩnh và gần như bất động. Đây là một bầu trời không có sự náo động, không có dấu hiệu của con người, chỉ còn sự bao la đến trống trải.

Trong không gian ấy, sự xuất hiện của “cần trúc” càng làm nổi bật cái tĩnh:

“Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

Hình ảnh cây trúc vốn đã mảnh mai, nay lại “lơ phơ” trong gió “hắt hiu” càng gợi sự yếu ớt, cô đơn. Gió không mạnh nhưng đủ làm lay động, như chính những tác động nhẹ của ngoại cảnh lên tâm hồn con người. Cảnh vật vì thế mang màu sắc buồn kín đáo.

Hai câu thực mở rộng không gian theo chiều sâu:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Mặt nước không còn rõ ràng mà trở nên mờ ảo như “khói phủ”, tạo cảm giác huyền hoặc. Không gian dường như bị phủ một lớp sương của thời gian. Trong khi đó, ánh trăng xuyên qua “song thưa” mang lại một vẻ đẹp rất tĩnh: trăng không bị cản trở, không bị chi phối, tự nhiên hiện diện trong căn nhà vắng người. Đây là một không gian gần như tuyệt đối tĩnh lặng.

Hai câu luận đưa vào yếu tố thời gian và âm thanh, làm cảnh thu thêm phần sâu sắc:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào”

“Hoa năm ngoái” gợi sự tàn phai, khiến cảnh vật không còn nguyên vẹn mà mang dấu vết của quá khứ. Tiếng ngỗng trời vang lên giữa không trung là âm thanh duy nhất, càng làm nổi bật sự cô đơn của không gian. Âm thanh ấy vừa xa vừa lạnh, như kéo theo cả một vùng trời di cư, chia ly.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng chiều sâu nội tâm:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”

Tác giả định làm thơ nhưng lại dừng lại trong một cảm giác đặc biệt: “thẹn”. Đó là sự tự so sánh với Đào Uyên Minh – người đã chọn lối sống ẩn dật thanh cao. Cái thẹn không phải tự ti mà là sự tự nhận thức về lý tưởng sống chưa đạt tới mức tuyệt đối. Qua đó, ta thấy được tâm thế của Nguyễn Khuyến: một nhà nho rút lui khỏi quan trường nhưng vẫn mang nặng nỗi niềm thời thế.

Tóm lại, “Thu vịnh” không chỉ là bức tranh mùa thu đẹp mà còn là bức chân dung tâm hồn Nguyễn Khuyến: tinh tế, sâu lắng và chất chứa suy tư về con người, thời cuộc và lý tưởng sống.

Bài tham khảo Mẫu 14

Trong văn học trung đại Việt Nam, mùa thu không chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà còn trở thành “không gian nghệ thuật” để thi nhân gửi gắm tâm sự. Nếu trong thơ Đường Trung Quốc, thu thường gắn với nỗi buồn ly biệt, thì trong thơ Nôm Việt Nam, đặc biệt ở Nguyễn Khuyến, mùa thu lại mang vẻ đẹp rất riêng: vừa thanh sơ, tĩnh lặng, vừa thấm đẫm nỗi cô đơn của con người trước thời cuộc. “Thu vịnh” là một thi phẩm tiêu biểu, kết tinh tài năng tả cảnh và chiều sâu tâm trạng của nhà thơ.

Ngay từ hai câu đề, bức tranh mùa thu đã được mở ra với không gian rộng lớn, khoáng đạt nhưng cũng đầy tĩnh lặng:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

Câu thơ đầu tiên dựng lên một bầu trời thu “xanh ngắt” – không phải xanh non tươi sáng mà là màu xanh sâu thẳm, như kéo dài đến vô tận. Cụm từ “mấy tầng cao” không chỉ gợi độ cao mà còn gợi cảm giác nhiều lớp không gian chồng lên nhau, làm cho bầu trời trở nên mênh mông và xa vắng. Trong không gian ấy, hình ảnh “cần trúc” hiện lên nhỏ bé, mảnh mai, “lơ phơ” trong gió “hắt hiu”. Cái động rất nhẹ của cành trúc càng làm nổi bật cái tĩnh của không gian. Đồng thời, từ “hắt hiu” không chỉ tả gió mà còn gợi cảm xúc: một nỗi buồn nhẹ, lan tỏa, khó gọi tên.

Hai câu thực tiếp tục mở rộng bức tranh nhưng vẫn giữ mạch tĩnh lặng ấy:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Mặt nước mùa thu không được nhìn trực tiếp mà được cảm nhận qua liên tưởng “như tầng khói phủ”, khiến cảnh vật trở nên mờ ảo, bảng lảng, như thực như mơ. Không gian như bị phủ một lớp sương của thời gian, làm tăng chất trầm lắng. Đặc biệt, hình ảnh “song thưa để mặc bóng trăng vào” mang vẻ đẹp vừa hiện thực vừa giàu chất thơ. Ánh trăng không bị cản trở mà tự do đi vào không gian sống, gợi một sự hòa hợp tuyệt đối giữa thiên nhiên và con người. Tuy nhiên, sự xuất hiện của trăng trong không gian vắng người lại càng nhấn mạnh sự cô tịch.

Hai câu luận mở ra một chiều kích khác của bức tranh thu: thời gian và ký ức:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào”

“Hoa năm ngoái” là một hình ảnh giàu sức gợi. Nó không chỉ là hoa của quá khứ mà còn là dấu hiệu của sự tàn phai, của thời gian trôi chảy không thể níu giữ. Cảnh vật vì thế mang màu hoài niệm, gợi cảm giác mất mát nhẹ nhàng. Trong khi đó, “một tiếng trên không ngỗng nước nào” là âm thanh hiếm hoi phá vỡ sự tĩnh lặng tuyệt đối của bài thơ. Tiếng ngỗng trời di cư vang lên giữa không gian rộng lớn càng làm nổi bật sự vắng vẻ, lạnh lẽo. Âm thanh ấy không làm cảnh sống động hơn mà trái lại, khiến sự cô đơn trở nên rõ rệt hơn.

Hai câu kết là nơi nhà thơ bộc lộ trực tiếp tâm trạng và nhân cách:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”

Nguyễn Khuyến có hứng làm thơ, nhưng rồi lại dừng lại vì cảm giác “thẹn” với Đào Uyên Minh – nhà thơ ẩn sĩ nổi tiếng Trung Hoa. Cái “thẹn” này không phải sự tự ti đơn thuần mà là sự tự soi chiếu vào lý tưởng sống thanh cao. Dù đã lui về ở ẩn, ông vẫn cảm thấy mình chưa đạt tới sự thanh khiết tuyệt đối như bậc tiền nhân. Qua đó, ta thấy rõ tâm thế của một nhà nho yêu nước: rời bỏ quan trường nhưng lòng vẫn mang nặng nỗi niềm thế sự.

Về nghệ thuật, “Thu vịnh” tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Ngôn ngữ Nôm giản dị mà tinh luyện, hình ảnh chọn lọc, giàu sức gợi. Cảnh thu được xây dựng theo trục không gian mở rộng dần, từ trời cao đến mặt nước, từ cảnh vật đến âm thanh, rồi cuối cùng đi vào chiều sâu tâm trạng. Sự kết hợp giữa tả cảnh và biểu cảm đã tạo nên một thi phẩm vừa đẹp vừa buồn, vừa tĩnh vừa sâu.

Tóm lại, “Thu vịnh” không chỉ là bức tranh mùa thu đặc sắc của văn học trung đại mà còn là bức chân dung tâm hồn Nguyễn Khuyến: một con người tinh tế, thanh cao, giàu tình cảm và luôn trăn trở trước thời cuộc. Chính sự hòa quyện giữa cảnh và tình đã làm nên giá trị bền vững cho bài thơ.

Bài tham khảo Mẫu 15

Nếu phải chọn một bài thơ tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp mùa thu trong thơ Nôm Việt Nam, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến. Bài thơ không chỉ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà còn mở ra một không gian nội tâm đầy suy tư. Đọc bài thơ, ta như bước vào một thế giới tĩnh lặng, nơi mỗi chi tiết đều mang sức gợi sâu xa về thời gian, con người và tâm trạng.

Câu thơ mở đầu đã dựng lên một không gian rộng lớn đến choáng ngợp:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”

Không gian được mở theo chiều thẳng đứng, từ mặt đất lên bầu trời nhiều tầng lớp. Sắc “xanh ngắt” không phải màu xanh vui tươi mà là màu xanh sâu, lạnh và tĩnh. Nó gợi cảm giác vừa khoáng đạt vừa xa vắng, như một khoảng không không có điểm dừng. Đây là kiểu không gian đặc trưng của thơ Nguyễn Khuyến: rộng nhưng không ấm, đẹp nhưng không vui.

Trong không gian ấy, hình ảnh nhỏ bé của “cần trúc” càng làm nổi bật sự cô đơn:

“Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

Cây trúc vốn thanh mảnh, nay lại “lơ phơ” trong gió nhẹ. Từ “hắt hiu” không chỉ tả gió mà còn gợi tâm trạng. Cảnh vật vì thế mang màu sắc buồn kín đáo, không bi lụy mà lặng sâu.

Hai câu thực tiếp tục mở rộng bức tranh:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Mặt nước không còn rõ nét mà trở nên mờ ảo như “khói phủ”, tạo cảm giác như không gian bị thời gian làm nhòe đi. Trong khi đó, ánh trăng len qua “song thưa” tạo nên một khung cảnh rất yên bình nhưng cũng rất vắng lặng. Trăng đẹp nhưng không làm cảnh vui lên, trái lại càng làm nổi bật sự tĩnh mịch.

Hai câu luận đưa vào yếu tố thời gian và âm thanh:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào”

“Hoa năm ngoái” gợi sự tàn phai và ký ức, khiến cảnh vật mang màu hoài niệm. Tiếng ngỗng trời vang lên giữa không trung là âm thanh duy nhất trong bài thơ, nhưng chính nó lại làm cho không gian càng thêm rộng và lạnh. Đây là nghệ thuật lấy động tả tĩnh rất đặc sắc.

Hai câu kết là điểm dừng của cảm xúc:

“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”

Nhà thơ định làm thơ nhưng lại dừng lại vì cảm giác “thẹn”. Đó là sự tự đối chiếu với Đào Uyên Minh – biểu tượng của lối sống ẩn sĩ thanh cao. Qua đó, Nguyễn Khuyến bộc lộ một tâm thế đặc biệt: ông chọn ẩn dật nhưng vẫn day dứt trước thời thế, vẫn tự vấn về lý tưởng sống của mình.

Tổng thể, “Thu vịnh” là sự hòa quyện giữa cảnh thu đẹp và tâm trạng buồn kín đáo. Bài thơ không chỉ ghi lại vẻ đẹp thiên nhiên mà còn ghi lại một tâm hồn lớn đang lặng lẽ suy tư trước cuộc đời.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...