1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ tự do Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mùa thu và mẹ (Lương Đình Khoa) hay nhất>
1. Mở bài - Giới thiệu tác giả Lương Đình Khoa và bài thơ "Mùa thu và mẹ". - Nêu cảm nhận chung về bài thơ.
Dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Lương Đình Khoa và bài thơ "Mùa thu và mẹ".
- Nêu cảm nhận chung về bài thơ.
2. Thân bài
a) Hình ảnh người mẹ tảo tần, hy sinh
- Mẹ rong ruổi trên nẻo đường bán những trái na, hồng, ổi, thị...
- Hình ảnh ẩn dụ "ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu" thể hiện sự hy sinh thầm lặng của mẹ.
b) Nỗi lòng của người con
- Thấu hiểu những vất vả của mẹ, thương cảm cho đôi vai gầy gò của mẹ.
- Hình ảnh "giọt mồ hôi rơi", "nắng mong manh", "đôi vai gầy nghiêng nghiêng" gợi tả sự vất vả, lam lũ của người mẹ.
c) Tình yêu thương vô bờ bến của mẹ
- Mẹ thao thức suốt đêm vì con.
- Hình ảnh "sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng" thể hiện sự xúc động, nghẹn ngào của người con.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
- Nêu cảm nhận về tình mẫu tử thiêng liêng.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Bài thơ "Mùa thu và mẹ" của Lương Đình Khoa là những nốt nhạc trầm lắng, thiết tha về tình mẫu tử giữa sắc thu se lạnh. Qua ngôn ngữ mộc mạc, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh người mẹ tảo tần và tấm lòng hiếu thảo của người con.
Mở đầu, hình ảnh mẹ hiện lên gắn liền với sự chắt chiu, nhọc nhằn. Các động từ “gom lại”, “rong ruổi” gợi lên dáng vẻ lam lũ của mẹ trên những nẻo đường mưu sinh lặng lẽ. Những trái na, trái hồng không chỉ là sản vật của vườn quê mà còn chứa đựng cả “ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu”. Đó là vị ngọt của tình yêu thương, của mồ hôi và nước mắt. Càng về sau, nỗi xót xa càng đậm nét qua hình ảnh “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” dưới làn nắng thu mỏng manh. Cái “nghiêng” ấy như đang gánh cả giông bão cuộc đời để giữ bình yên cho con. Khép lại bài thơ là không gian đêm thu đầy trăn trở, nơi con thức cùng tiếng ho của mẹ, nơi giọt sương vô tình hay chính là giọt nước mắt thương mẹ rưng rưng.
Với thể thơ tự do và nhịp điệu nhẹ nhàng, bài thơ không chỉ ca ngợi đức hy sinh cao cả mà còn nhắc nhở chúng ta hãy biết trân trọng mẹ khi còn có thể. Mẹ chính là mùa thu ấm áp và dịu dàng nhất trong cuộc đời mỗi con người.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Trong dòng chảy của thi ca, mùa thu thường hiện lên với lá vàng, heo may và nỗi sầu vô định. Nhưng với Lương Đình Khoa trong bài thơ "Mùa thu và mẹ", mùa thu lại là mùa của sự chắt chiu, là mùa của những nhọc nhằn in hằn trên dáng mẹ.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh mẹ gắn liền với khu vườn và những nẻo đường mưu sinh lặng lẽ. Các động từ “gom lại”, “rong ruổi” đã tạc nên bức chân dung về một người mẹ tần tảo, nâng niu từng thành quả lao động nhỏ bé để đổi lấy sự đủ đầy cho con. Những trái na, trái thị thơm hương không chỉ là quà tặng của thiên nhiên, mà đó là “ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu”. Chữ “ngọt” ấy được kết tinh từ những đắng cay, từ mồ hôi rơi trong những buổi chiều vất vả. Càng đi sâu vào bài thơ, người đọc càng xót xa trước sự đối lập giữa cái mênh mông của đất trời và sự gầy guộc của mẹ. Hình ảnh “Nắng mong manh... Đôi vai gầy nghiêng nghiêng” là một phát hiện nghệ thuật đầy tinh tế. Cái nắng thu vốn nhẹ nhàng là thế, vậy mà cũng đủ làm nghiêng đi đôi vai gầy của mẹ, hay chính gánh nặng cuộc đời đã khiến dáng mẹ chẳng thể đứng thẳng từ bao giờ? Đỉnh điểm của cảm xúc nằm ở khổ thơ cuối, khi không gian đêm thu trở nên tĩnh lặng và lạnh lẽo. Tiếng mẹ “trở mình trong tiếng ho thao thức” chính là tiếng lòng của thời gian, nhắc nhở rằng mẹ đã già đi theo năm tháng. Hình ảnh “sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng” thật đa nghĩa; đó có thể là sương đêm lạnh giá, nhưng cũng có thể là những giọt nước mắt xót xa của người con khi nhận ra sự hữu hạn của đời người và sự vô hạn của tình mẹ.
Với thể thơ tự do phóng khoáng cùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, bài thơ đã chạm đến những rung động thiêng liêng nhất của tình mẫu tử. "Mùa thu và mẹ" không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo làm con: Hãy biết yêu thương và trân trọng mẹ, bởi mẹ chính là mùa thu ấm áp, che chở suốt cuộc đời ta.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Có những mùa thu đi qua để lại những vần thơ về lá vàng, về gió heo may, nhưng mùa thu trong thơ Lương Đình Khoa lại kết tinh thành dáng hình của mẹ - một dáng hình gầy guộc, tần tảo nhưng đầy ắp sự chở che. Bài thơ "Mùa thu và mẹ" chính là những lời tự sự chân thành, nơi mỗi câu chữ đều thấm đẫm lòng biết ơn và niềm xót xa sâu sắc.
Xuyên suốt bài thơ là sự đối lập đầy ám ảnh giữa cái "mong manh" của thiên nhiên và cái "vững bền" của tình mẹ. Hình ảnh mẹ "gom lại từng trái chín" rồi "rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ" gợi lên một cuộc đời âm thầm, lấy niềm vui của con làm đích đến. Những sản vật vườn nhà như na, hồng, ổi qua bàn tay mẹ đã không còn là hoa quả đơn thuần; chúng trở thành "vị ngọt năm tháng" – thứ vị ngọt được chắt chiu từ mồ hôi, từ những chiều nắng xế và từ cả những nỗi lo toan cơm áo gạo tiền. Người đọc không khỏi nghẹn ngào trước hình ảnh “đôi vai gầy nghiêng nghiêng”. Từ láy “nghiêng nghiêng” không chỉ tả thực dáng đi của mẹ dưới sức nặng gánh hàng, mà còn gợi lên một sự hy sinh không lời. Mẹ đã nghiêng cả đời mình về phía con, gánh lấy mọi bão giông để dành cho con phần nắng ấm. Để rồi khi đêm thu về, trong không gian "xao xác" gió heo may, tiếng mẹ "trở mình" và tiếng ho thao thức đã đánh thức nỗi đau đáu trong lòng người con. Chi tiết “sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng” là một hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp, nơi ranh giới giữa sương đêm và giọt nước mắt thương mẹ của người con đã hòa làm một.
Bằng ngôn ngữ giàu tính tự sự và hình ảnh giàu sức gợi, Lương Đình Khoa đã nhắc nhở chúng ta rằng: Mẹ chính là hiện thân của mùa thu – dịu dàng, bao dung và luôn sẵn sàng hy sinh tất thảy. Bài thơ khép lại nhưng dư âm về lòng hiếu thảo vẫn còn vang vọng, thôi thúc mỗi chúng ta hãy trân trọng từng phút giây còn được ở bên mẹ.
Bài tham khảo Mẫu 1
Mùa thu và mẹ là đề tài rất đỗi quen thuộc, đã có nhiều bài thơ viết rất hay về đề tài này, nhưng mỗi lần đọc lại bài thơ “Mùa thu và mẹ” của Lương Đình Khoa, bạn đọc không khỏi bồi hồi, rưng rưng một cảm xúc thương mẹ, yêu mùa thu bởi lẽ mẹ và mùa thu đã hoà quyện vào nhau, thăng hoa trong cảm xúc của Lương Đình Khoa. Để rồi bài thơ “Mùa thu và mẹ” ra đời góp cho thi đản những vần thơ giàu cảm xúc với nhiều sáng tạo mới mẻ trong cách thể hiện.
Nhà thơ Lương Đình Khoa là chàng trai trưởng thành từ những trang viết “Tuổi hồng” trên báo Thiếu niên tiền phong, Đọc thơ ông, ta bắt gặp một tâm hồn lãng mạn, đang hát những bài ca yêu thương giữa muôn nẻo đường đời. Bài thơ “Mùa thu và mẹ” được sáng tác khi tác giả xa nhà, xa mẹ, một chiều mùa thu, nỗi nhớ dâng trào, nhà thơ viết bài thơ này để gửi nỗi nhớ về người mẹ nhiều vất vả, tảo tần nhưng giàu đức hi sinh, giàu tình yêu thương của mình.
“Mùa thu và mẹ” là những yêu thương, thấu cảm của nhà thơ về người mẹ nhiều vất vả, lo toan, vun vén trong cuộc sống mưu sinh và lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ dành cho mẹ kính yêu. Viết về mẹ khi xa mẹ, Lương Đình Khoa đã bày tỏ nỗi nhớ, niềm tri ân xúc động với người mẹ thân thương. Hình ảnh đầu tiên gợi ra trong tâm tưởng nhà thơ là hình ảnh mẹ “rong ruổi trên những nẻo đường lặng lẽ”. Cuộc sống mưu sinh, lo vun vén cho gia đình dường như đã lấy hết tuổi thanh xuân của mẹ.
Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ
Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị....
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu
Mẹ “rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ” – con đường đời nhiều chông gai, lắm gian truân để cho con cuộc sống êm đềm, bình yên. Mẹ âm thầm lo toan, vun vén cho gia đình, mẹ chắt chiu vị ngọt của cuộc đời để dành tất cả những yêu thương cho con và gia đình bé nhỏ. Phép liệt kê “những trái na, hồng, ổi, thị ....”, từ cảm thán “Ôi” cùng với từ láy “lặng lẽ, rong ruổi, ngọt ngào, chắt chiu...” gợi lên những món quả quê hương được chắt chiu từ bàn tay mẹ qua bao tháng năm. Vị ngọt ngào của những loại quả được kết tinh từ những giọt mồ hôi rơi, từ đôi bàn tay khéo léo, từ đức tảo tần hi sinh của mẹ. Cuộc sống dù vất vả, nhưng mẹ vẫn lặng lẽ gánh gồng, vẫn cần mẫn, chịu thương chịu khó bởi trong lòng mẹ con và gia đình là thứ quý giá nhất. Cuộc đời mẹ nhiều bươn chải, lo toan, vất vả, mẹ chịu thương, chịu khó, lặng lẽ âm thầm hi sinh, âm thầm mang đến cho con điều tốt đẹp. Mẹ không hề vỗ về, âu yếm con, không lời dạy bảo nhưng hình ảnh lam làm của mẹ đã tạo nên một không gian tình yêu dịu đảng và nhẹ nhàng để con được đắm chìm trong những kỷ niệm ngọt ngào bên mẹ, cảm nhận được sự dịu êm của tình mẫu tử. Mẹ giản dị, mộc mạc, chân chất, dịu dàng mà rất đỗi lớn lao vì lẽ đó mỗi khi nhớ mẹ, viết về mẹ cảm xúc trong nhà thơ như vỡ oà, vừa ngỡ ngàng, vừa thán phục xen lẫn niềm yêu kính mẹ.
Trong tâm thức con, mẹ là người chắt chiu, vun xới cho trái chín ngọt ngào, cho yêu thương mãi đong đầy, cho gia đình êm ấm bằng những lặng thầm vun vén thế nên con lắng tai nghe những chuyển biến của đất trời khi mùa thu sang và đó cũng là những suy ngẫm của lòng con dành cho mẹ:
Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ
Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!
Với con mắt quan sát tỉ mỉ, tinh tế và phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Nghe mùa thu vọng về những thương yêu” nhà thơ chợt nhận ra bao giọt mồ hôi của mẹ đã rơi, bao mùa thu đã đi qua đôi vai gầy của mẹ. Những miền kí ức vốn được cảm nhận bằng tâm tưởng, hồi tưởng nay lại được cảm nhận bằng cả thính giác và tâm thức, tình cảm để rồi bao yêu thương, trìu mến vọng về trong lòng nhà thơ. Mùa thu trong tâm tưởng nhà thơ không phải là hoa cúc, trời xanh, mây trắng nắng vàng, hay cái nắm tay thật chặt của mẹ khi dẫn con đến trường mà là hình ảnh mẹ với “giọt mồ hôi rơi”, với “đôi vai gầy nghiêng nghiêng”- dáng hình mẹ gầy gò, bao nỗi nhọc nhằn hằn in trên dáng mẹ khiến nhà thơ không khỏi chạnh lòng, rưng rưng nỗi niềm. Nhà thơ thấu hiểu hơn ai hết về “chiều của mẹ”, bóng chiều đã hắt sang cuộc đời mẹ, thời gian đã lấy đi tuổi tác của mẹ, sức khoẻ của mẹ, mẹ đã bước sang mùa thu của đời người. Những quan sát cùng suy ngẫm ấy của nhà thơ khiến ta rưng rưng một nỗi niềm bùi ngùi có chút xót xa về cuộc đời nhiều tảo tần của mẹ. Song, cao hơn cả là nhà thơ đã cảm thấu đến tận cùng đức hi sinh của mẹ là để tạo nên những “trái ngọt cho con”.
Nhớ về mẹ, thấu hiểu những vất vả của mẹ con không khỏi nghẹn ngào, thổn thức, không khỏi xót xa, chỉ biết tỏ lòng biết ơn, hiếu kính với mẹ.
Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im...
Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!
Thời gian trôi đi, không gian lặng im trong tâm tưởng con, mẹ chỉ còn là “nắng mong manh” của buổi xế chiều cùng “tiếng ho thao thức” khiến con xúc động, nghẹn ngào thương mẹ, yêu mẹ đến vô cùng mà chẳng thể chợp mắt để rồi tình thương ngưng đọng thành giọt nước mắt rưng rưng. Vẫn biết rằng thiên nhiên, vạn vật, vũ trụ vẫn luôn nằm trong vòng luân hồi sinh, trụ, dị, diệt. Sương gió của cuộc đời cũng vậy, là những tác động của ngoại cảnh, của dòng thời gian vô thủy vô chung, khiến mẹ già cỗi, hao gầy và một ngày mai mẹ sẽ không còn. Nhưng lòng con vẫn đau xót và thương mẹ vô hạn “chẳng thể chợp mắt”, đó là tấm lòng thành kính, biết ơn sâu sắc của con đối với mẹ. Cái “rưng rưng” trong mắt con phải chăng là những nỗi nhớ, niềm thương dành cho mẹ, những phút nhói lòng khi nhìn dáng hao gầy của mẹ và cả một chút xót xa, ân hận khi chưa làm được gì lớn lao để đền đáp công ơn trời biển của mẹ.
Bằng những tình cảm chân thành, cảm xúc thẳm sâu, người con đã thể hiện lòng kính yêu, biết ơn sâu nặng với người mẹ hiền đã vất vả cả đời vì con, lo cho con, cho gia đình. Bài thơ làm sáng tỏ sự đẹp đẽ của hình ảnh người mẹ, đó là người phụ nữ tảo tần, giàu đức hi sinh, cả đời mẹ dành tình yêu thương cho con, cho gia đình. Cuộc sống dù vất vả, nhưng mẹ vẫn lặng lẽ gánh gồng, âm thầm hi sinh, lo lắng, chắt chiu vun vén cho sự ấm êm của gia đình. Bài thơ gợi lên những vất và, cơ cực trong cuộc sống đời thường cũng như tình yêu thương con sâu nặng của người mẹ. Người mẹ trong bài thơ tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam mang phẩm chất truyền thống: chăm chỉ, tảo tần, nhân hậu, hết lòng hy sinh vì gia đình và tình yêu thương con tha thiết. Bài thơ đã chạm tới miền sâu thẳm trong trái tim mỗi người, nhắc nhở chúng ta cần phải trân trọng và sống xứng đáng với tình cảm của mẹ, với sự hi sinh lớn lao của mẹ. Tình yêu thương mẹ, biết ơn mẹ của nhà thơ Lương Đình Khoa trong “Mùa thu và mẹ” đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bởi những hình thức nghệ thuật đặc sắc. Thể thơ tự do với âm điệu nhẹ nhàng, tha thiết, sâu lắng. Ít gieo vần nhưng vẫn mượt mà, dung dị, đi vào lòng người góp phần diễn tả chân thực mà xúc động về tỉnh mẹ. Nhan đề đậm chất thơ và giàu ý nghĩa. Hình ảnh thơ gần gũi, mộc mạc nhưng có sức khái quát và mang tính biểu tượng cao (nẻo đường lặng lẽ, ngọt ngào năm tháng mẹ chất chiu, mùa thu vọng về thương yêu, nắng mong manh, sương vô tình, ...). Biện pháp tu từ liệt kê, nhân hoá, ẩn dụ và sử dụng các từ láy biểu cảm (rong ruổi, lặng lẽ, ngọt ngào, chắt chiu, mong manh, nghiêng nghiêng, thao thức, ...) làm tăng giá trị gợi hình, biểu cảm cho bài thơ. Những hình thức đặc sắc đã thể hiện cụ thể, sâu sắc hơn về hình ảnh người mẹ và góp phần thể hiện chủ đề của bài thơ làm xao xuyến trái tim bạn đọc.
Mẹ và mùa thu đã hoà quyện trong nhau, hài hoà trong nhau, mùa thu về trong vi ngọt ngào của quả chín, trong cái xao xác heo may, trong không gian im lặng cũng chính là những suy ngẫm của nhà thơ về cuộc đời mẹ, về năm tháng tảo tần của mẹ, Những yêu thương đong đầy mẹ dành cho con, những thổn thức, xót xa thương mẹ của nhà thơ đã nâng đỡ nhau để rồi “Mùa thu và mẹ” được Lương Đình Khoa chấp bút và trở thành bài thơ hay nhất viết về mẹ và mùa thu. Bài thơ đã neo đậu mãi trong lòng bao thế hệ bạn đọc về một mùa thu êm dịu và tình mẹ ấm áp, đượm nồng.
Bài tham khảo Mẫu 2
Lương Đình Khoa là một nhà thơ trẻ tài năng của nền văn học Việt Nam. Từng câu thơ trong sáng tác của Lương Đình Khoa đểu ẩn chứa một tâm hồn trong sáng và tràn đầy yêu thương. Trong đó, có bài thơ “Mùa thu và mẹ” là một trong những tác phẩm mang lại cho độc giả nhiều suy ngẫm về tình mẫu tử thiêng liêng. Mùa thu là một mùa gợi cho ta nhiều cảm xúc và với Lương Đình Khoa, mùa thu còn gắn liền với hình ảnh người mẹ hiền dịu, tảo tần. Tác giả đã vẽ nên một bức tranh chân thực về mẹ với hình ảnh người mẹ tảo tần, giàu tình yêu thương và luôn hết lòng hy sinh cho các con và gia đình.
Mở đầu bài thơ, tác giả miêu tả về một không gian mùa thu yên bình. Tác giả nhớ về người mẹ yêu thương, người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ con cái. Người mẹ được tác giả miêu tả như một người phụ nữ hiền lành, dịu dàng và đầy tình yêu thương con:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ
Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị....
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu!”
Người mẹ gom lại những loại quả chín mùa thu rồi lặng lẽ gánh hàng “rong ruổi trên mọi nẻo đường” bán hàng để nuôi con, dù có vất vả, mẹ cũng chẳng phàn nàn tất cả chỉ vì con. Nhà thơ sử dựng biện pháp liệt kê “những trái na, hồng, ổi, thị…” để nhấn mạnh đó là những món quà quê hương được chắt chiu từ bàn tay mẹ qua bao tháng năm. Hình ảnh ẩn dụ “ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu” là những tháng ngày vất vả của người mẹ, luôn dành dụm, lặng lẽ vun vén cho gia đình, cho các con. Vị “ngọt ngào” mà được tác giả cảm nhận tạo cũng chính là vị ngọt từ những loại quả được chăm sóc từ những giọt mồ hôi, từ bàn tay khéo léo và sự tảo tần, chắt chiu của người mẹ.
Khổ thơ thứ hai là sự đồng cảm, thấu hiểu của người con với những vất vả, sự hy sinh cao cả của người mẹ. Mẹ là người đã luôn thầm lặng dành dụm cho con tất cả mọi điều tốt đẹp nhất, từng giọt mồ hôi, từng tia nắng mẹ cũng đều gánh vác vì con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ
Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Hình ảnh “giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”, “nắng mong manh đậu bên thật khẽ” là những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đầy sáng tạo, nhấn mạnh sự quan tâm, chăm sóc chu đáo của người mẹ dành cho con. Nắng chiều mùa thu vốn dịu dàng, mà sao trên trán mẹ vẫn lấm tấm mồ hôi, đôi vai gầy gò vì nặng gánh mà “nghiêng nghiêng”. Câu thơ cuối đã gợi lên trong lòng người đọc một niềm thương cảm sâu sắc, nỗi xót xa dành cho sự vất vả của người mẹ.
Khổ thơ cuối miêu tả cảnh đêm khuya khi mẹ ho thao thức. Mẹ lo toan, vất vả, nhưng chưa bao giờ mẹ than phiền với con. Nỗi lòng mẹ chỉ cất giấu trong những đêm dài thao thức, tiếng ho xen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…
Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
Những hình ảnh “heo may”, “không gian lặng im” gợi tả sự hiu quạnh, cô đơn và nỗi lo lắng của con khi thấy người mẹ ho thao thức suốt đêm. Hình ảnh “mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”, một lần nữa khẳng định sự hy sinh thầm lặng của người mẹ và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con. Ở câu thơ cuối dùng “sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng” là sự xúc động, nghẹn ngào của con khi đã thấu hiểu được những vất vả mà người mẹ phải trải qua. Hạt "sương vô tình đậu trên mắt", là mồ hôi hay nước mắt, chẳng biết là của con hay của mẹ. Chỉ với vài dòng thơ, tác giả đã vẽ nên một bức tranh đầy xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng. Qua đó, ta cảm nhận được sự hy sinh thầm lặng và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con, không chỉ vậy ta còn thấy được tình cảm của người con dành cho người mẹ.
Bài thơ “Mùa thu và mẹ” của Lương Đình Khoa là một tác phẩm đầy cảm xúc, sâu lắng và ý nghĩa về tình yêu thương và sự hi sinh của người mẹ dành cho người con. Bài thơ sử dụng nhiều ngôn ngữ giàu hình ảnh kết hợp với những hình ảnh ẩn dụ sáng tạo làm cho những câu thơ trở nên hấp dẫn, sinh động hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm.
Qua bài thơ này, tác giả đã cho ta thấy được sự hy sinh lớn lao của người phụ nữ trong gia đình, đồng thời nhà thơ cũng muốn gửi gắm cho độc giả một thông điệp ý nghĩa về tình mẫu tử, đó là sự trân trọng và biết ơn đối với người mẹ, vì người mẹ luôn là người chăm sóc, quan tâm tới con cái và luôn hy sinh thầm lặng vì gia đình vô điều kiện. Hình ảnh người mẹ gầy gò, vai nặng gánh, cùng “tiếng ho thao thức trong đêm” có lẽ sẽ mãi in sâu vào trong tâm trí của mỗi độc giả, đó như một lời nhắc nhở về công ơn sinh thành và nuôi dưỡng của người mẹ.
Bài tham khảo Mẫu 3
Trong mạch nguồn thơ viết về tình mẫu tử, “Mùa thu và mẹ” của Lương Đình Khoa là một bài thơ giàu cảm xúc, để lại nhiều dư âm sâu lắng trong lòng người đọc. Không dùng những hình ảnh quá cầu kỳ hay giọng điệu bi lụy, tác giả lựa chọn cách thể hiện nhẹ nhàng, tinh tế, lấy bức tranh mùa thu làm phông nền để tôn lên vẻ đẹp của người mẹ và tình mẹ bao la. Qua đó, bài thơ không chỉ khơi gợi tình cảm gia đình thiêng liêng mà còn nhắc nhở mỗi người biết trân trọng những yêu thương bình dị trong cuộc sống.
Trước hết, bài thơ gây ấn tượng bởi sự kết hợp hài hòa giữa hai hình tượng trung tâm: mùa thu và mẹ. Mùa thu trong thơ hiện lên với những nét đặc trưng quen thuộc: không khí dịu nhẹ, sắc trời trong veo, những dấu hiệu chuyển mùa man mác. Đó là một mùa thu không ồn ào mà lặng lẽ, sâu lắng. Chính sắc thái ấy rất phù hợp để làm nền cho dòng cảm xúc về mẹ. Nếu mùa xuân thường gợi sức sống tươi mới, mùa hạ gợi sự rực rỡ, thì mùa thu lại gợi suy tư và hoài niệm. Lương Đình Khoa đã rất tinh tế khi chọn mùa thu làm không gian nghệ thuật để nói về tình mẹ – thứ tình cảm bền bỉ, lặng thầm theo năm tháng.
Hình ảnh người mẹ trong bài thơ hiện lên bình dị mà xúc động. Mẹ không được miêu tả bằng những lời ca ngợi trực tiếp mà chủ yếu qua những chi tiết đời thường: dáng mẹ, công việc của mẹ, sự chăm lo âm thầm dành cho con. Qua từng câu thơ, ta cảm nhận được mẹ là người tảo tần, giàu đức hi sinh và luôn hướng về con. Tác giả dường như muốn khẳng định rằng vẻ đẹp của mẹ nằm ở chính sự bình dị ấy. Đây cũng là nét đặc trưng trong thơ viết về mẹ của văn học Việt Nam: càng giản dị càng thấm sâu.
Một điểm nổi bật của bài thơ là nghệ thuật đối sánh giữa thiên nhiên mùa thu và hình ảnh người mẹ. Mùa thu dịu dàng bao nhiêu thì tình mẹ cũng êm đềm bấy nhiêu; mùa thu có nét man mác buồn thì trong đó cũng thấp thoáng nỗi vất vả của mẹ. Sự hòa quyện giữa cảnh và tình khiến cảm xúc bài thơ trở nên sâu lắng. Thiên nhiên không chỉ là bối cảnh mà còn là tấm gương phản chiếu tâm trạng. Nhờ đó, hình tượng người mẹ hiện lên vừa cụ thể vừa giàu chất biểu tượng.
Bài thơ còn thể hiện rõ dòng hồi tưởng của nhân vật trữ tình. Người con nhìn mùa thu và nhớ về mẹ, từ đó nhận ra những hi sinh thầm lặng mà trước đây có thể chưa kịp thấu hiểu. Đây là một bước chuyển cảm xúc rất tinh tế: từ cảm nhận thiên nhiên đến nhận thức về tình mẹ. Qua dòng hồi tưởng ấy, người đọc nhận ra quy luật quen thuộc của đời sống tình cảm: khi còn nhỏ, ta thường vô tư trước sự hi sinh của mẹ; chỉ khi trưởng thành mới thấm thía và xúc động. Chính chiều sâu nhận thức này làm cho bài thơ vượt lên khỏi một bức tranh thu đơn thuần để trở thành lời tri ân đầy ý nghĩa.
Về nghệ thuật ngôn từ, thơ Lương Đình Khoa trong bài này mang giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi nhưng không cầu kỳ. Ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc, phù hợp với mạch cảm xúc gia đình. Nhịp thơ chậm rãi, êm đềm như nhịp trôi của mùa thu, giúp cảm xúc lan tỏa tự nhiên. Đặc biệt, việc lặp lại hoặc nhấn mạnh những chi tiết về mẹ đã tạo nên điểm rơi cảm xúc, khiến người đọc dễ rung động.
Một giá trị đáng quý của bài thơ là tính nhân văn sâu sắc. Tác phẩm không chỉ ca ngợi mẹ mà còn nhắc nhở con người về đạo lý uống nước nhớ nguồn. Trong nhịp sống hiện đại bận rộn, nhiều người dễ vô tình quên đi những hi sinh âm thầm của cha mẹ. “Mùa thu và mẹ” giống như một lời nhắc nhẹ nhàng nhưng thấm thía: hãy biết yêu thương khi còn có thể, bởi thời gian trôi qua sẽ không trở lại. Thông điệp này đặc biệt có ý nghĩa với bạn đọc trẻ.
Ngoài ra, bài thơ còn thành công ở khả năng gợi cảm xúc phổ quát. Hầu như ai cũng có mẹ, cũng có những ký ức gắn với một mùa nào đó trong năm. Vì thế, khi đọc bài thơ, người đọc dễ dàng tìm thấy chính mình trong đó. Hình ảnh mùa thu không chỉ là mùa thu của riêng tác giả mà trở thành mùa thu của ký ức chung, còn hình ảnh người mẹ trở thành biểu tượng của tình mẫu tử muôn đời.
Tuy không dài và không sử dụng nhiều thủ pháp phức tạp, bài thơ vẫn có sức lay động bền lâu. Điều làm nên giá trị của tác phẩm chính là sự chân thành trong cảm xúc. Lương Đình Khoa không cố gắng gây xúc động bằng bi kịch mà bằng sự lắng sâu của tình cảm. Đây là vẻ đẹp bền vững của thơ ca chân chính.
Tóm lại, “Mùa thu và mẹ” là một bài thơ giàu chất trữ tình và đậm giá trị nhân văn. Qua bức tranh mùa thu dịu nhẹ và hình ảnh người mẹ tảo tần, Lương Đình Khoa đã thể hiện thành công tình mẫu tử thiêng liêng cùng nỗi biết ơn sâu sắc của người con. Với giọng thơ êm đềm, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, bài thơ để lại dư âm lắng đọng trong lòng người đọc, nhắc mỗi chúng ta biết trân trọng mẹ và những yêu thương bình dị của cuộc đời.
Bài tham khảo Mẫu 4
Bài thơ Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một bài thơ giàu cảm xúc viết về mẹ trong những ngày mùa thu. Qua những hình ảnh quen thuộc, giản dị, tác giả đã khắc họa chân thực sự tần tảo, hi sinh và tình yêu thương lặng thầm của mẹ. Bài thơ không chỉ gợi lên vẻ đẹp của mùa thu mà còn làm nổi bật hình ảnh người mẹ nghèo lam lũ, khiến người đọc xúc động và biết yêu thương, trân trọng mẹ hơn.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh mẹ gắn với công việc thường ngày:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã gợi ra bóng dáng người mẹ tảo tần, chăm chỉ. Động từ “gom lại” cho thấy sự chắt chiu, nâng niu từng thành quả nhỏ bé của mẹ. Còn từ “rong ruổi” lại gợi sự vất vả, bươn chải, ngược xuôi của mẹ trên những con đường mưu sinh. Mẹ hiện lên thật lặng lẽ, âm thầm, không một lời than thở. Những trái cây như “na, hồng, ổi, thị” không chỉ là sản vật của khu vườn mà còn chứa đựng biết bao công sức, tình yêu và tháng năm nhọc nhằn của mẹ. Câu thơ:“Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”đã khái quát thật đẹp ý nghĩa của những trái chín ấy. Đó không chỉ là vị ngọt của quả mà còn là vị ngọt của tình mẹ, của sự hi sinh bền bỉ theo năm tháng.
Sang khổ thơ thứ hai, hình ảnh mẹ được cảm nhận qua cái nhìn yêu thương của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Mùa thu trong bài thơ không chỉ có gió, có nắng mà còn có cả tình thương và nỗi nhọc nhằn của mẹ. Câu thơ “Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ” khiến người đọc hình dung rõ hơn sự vất vả của mẹ giữa cuộc đời. Đó là giọt mồ hôi của lao động, của hi sinh, của một đời vì con.
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Hình ảnh rất giàu sức gợi. Ánh nắng thu vốn nhẹ, mỏng, dịu dàng càng làm nổi bật đôi vai gầy guộc, yếu mảnh của mẹ. Từ láy “nghiêng nghiêng” khiến hình ảnh ấy như chao đi, như chất chứa cả gánh nặng cuộc đời. Qua đó, ta càng thấy thương hơn thân hình gầy yếu nhưng bền bỉ của mẹ.
Khổ thơ cuối là nỗi lo lắng, xót thương sâu sắc của người con dành cho mẹ:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…
Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
Không gian đêm thu hiện lên lạnh lẽo, yên ắng, gợi cảm giác buồn và cô quạnh. Trong khung cảnh ấy, người con không ngủ được vì nghe tiếng mẹ ho, tiếng mẹ trở mình thao thức. Tiếng ho ấy không chỉ cho thấy mẹ đã mệt mỏi, yếu hơn theo thời gian mà còn khiến lòng con quặn thắt. Hình ảnh “Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng” là một hình ảnh thơ đẹp và xúc động. Giọt sương hay cũng chính là giọt nước mắt, là nỗi thương mẹ nghẹn ngào trong lòng người con. Câu thơ đã diễn tả thật tinh tế tình cảm yêu thương, lo âu và xót xa của con trước mẹ.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu nhẹ nhàng, tha thiết. Hình ảnh thơ gần gũi, chân thực mà giàu sức gợi. Ngôn ngữ mộc mạc nhưng giàu cảm xúc, kết hợp với giọng điệu trầm lắng đã làm nổi bật tình mẹ con sâu nặng.
Tóm lại, Mùa thu và mẹ là bài thơ giàu giá trị nhân văn, ca ngợi vẻ đẹp tần tảo và đức hi sinh của người mẹ. Qua bài thơ, tác giả đã nhắc nhở mỗi người con phải biết yêu thương, biết ơn và trân trọng mẹ khi còn có thể. Đọc bài thơ, em càng thấm thía rằng mẹ chính là mùa thương yêu dịu dàng nhất trong cuộc đời mỗi con người.
Bài tham khảo Mẫu 5
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, mẹ luôn là điểm tựa dịu dàng mà bền bỉ nhất. Có những bài thơ viết về mẹ không cần đến những lời lẽ lớn lao mà vẫn khiến lòng người rung động bởi chính sự chân thật, lặng sâu của cảm xúc. Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một bài thơ như thế. Qua bức tranh mùa thu thấm đẫm nỗi niềm, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh người mẹ tảo tần, giàu đức hi sinh và gửi gắm tình thương yêu, xót xa vô hạn của người con dành cho mẹ.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh mẹ gắn liền với công việc thường nhật:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Chỉ hai câu thơ thôi nhưng đã gợi ra cả một dáng hình lam lũ. Động từ “gom lại” không chỉ diễn tả hành động thu hái, gìn giữ mà còn gợi sự chắt chiu, nâng niu những thành quả nhỏ bé của cuộc đời. Từ “từng” khiến người đọc cảm nhận được sự tỉ mỉ, nhẫn nại của mẹ. Sau đó, hình ảnh mẹ lại tiếp tục hiện lên qua từ “rong ruổi” — một từ ngữ gợi sự bôn ba, nhọc nhằn, ngược xuôi không ngừng nghỉ. Mẹ đi qua những “nẻo đường lặng lẽ”, nghĩa là cả sự hi sinh cũng âm thầm, không phô bày, không đòi hỏi được thấu hiểu.
Những câu thơ tiếp theo như làm đầy hơn bức tranh đời sống ấy:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Những hình ảnh “na, hồng, ổi, thị” đều là những trái cây dân dã của làng quê Việt Nam. Chúng mang hương vị của khu vườn, của mùa màng, của cuộc sống bình dị. Nhưng điều xúc động hơn cả là câu thơ sau: vị ngọt của trái chín không chỉ là vị ngọt của thiên nhiên mà còn là vị ngọt của “năm tháng mẹ chắt chiu”. Câu thơ đã nâng hình ảnh đời thường thành một ý nghĩa nhân văn sâu sắc: phía sau những điều bình dị con nhận được luôn là bóng dáng của sự hi sinh và nhẫn nại của mẹ.
Đến khổ thơ thứ hai, cảm xúc trữ tình được đẩy lên rõ hơn qua cái nhìn của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Từ “nghe” được dùng rất tinh tế. Mùa thu không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn được cảm bằng tâm hồn. Người con như nghe thấy trong mùa thu có tiếng của yêu thương, của kí ức, của sự hi sinh lặng thầm. Đặc biệt, hình ảnh “Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ” là một chi tiết giàu sức gợi. Một giọt mồ hôi nhỏ mà chứa đựng cả một đời tần tảo. “Chiều của mẹ” vừa có thể hiểu là buổi chiều thực tại, vừa có thể gợi “buổi chiều cuộc đời” — khi mẹ đã đi qua tuổi xuân, chỉ còn lại thân hình gầy guộc cùng những nhọc nhằn tích tụ qua năm tháng.
Hai câu thơ sau vừa đẹp vừa buồn:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Ánh nắng thu hiện lên thật nhẹ, thật mỏng. Từ “đậu” gợi cảm giác mềm mại, tinh khôi, như thể nắng cũng có linh hồn và biết nâng niu mẹ. Nhưng chính nền nắng mong manh ấy lại càng làm nổi bật hình ảnh “đôi vai gầy nghiêng nghiêng”. Từ láy “nghiêng nghiêng” không chỉ tả dáng mà còn gợi cảm giác chông chênh, yếu mỏi. Đôi vai ấy đã oằn xuống vì cuộc đời, vì mưu sinh, vì những lo toan không tên.
Khổ thơ cuối là nơi cảm xúc thương mẹ lắng lại thành nỗi xót xa sâu kín:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Mùa thu ở đây không còn dịu dàng nữa mà phảng phất cái lạnh, cái trống vắng của thời gian. Trong không gian tĩnh lặng ấy, nỗi lòng người con như được đẩy lên rõ hơn:
“Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Sự thao thức của con bắt nguồn từ tiếng ho của mẹ. Đó là âm thanh rất nhỏ nhưng lại khiến lòng người nhói đau. Tiếng ho ấy không chỉ gợi bệnh tật, tuổi tác mà còn như kết tinh tất cả những nhọc nhằn mẹ đã gánh suốt một đời. Hình ảnh cuối bài thơ thật ám ảnh:
“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
“Sương” là nét đặc trưng của đêm thu, nhưng ở đây sương không chỉ là cảnh vật mà còn là chất xúc tác của cảm xúc. Từ “vô tình” làm nổi bật sự lạnh lẽo của thiên nhiên, đối lập với tình thương da diết trong lòng người con. “Mắt rưng rưng” là điểm lắng của toàn bài — một nỗi thương không bật thành tiếng khóc mà nghẹn lại nơi đáy mắt.
Bài thơ gây ấn tượng bởi thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị mà gợi cảm, hình ảnh đời thường nhưng giàu sức ám ảnh. Sự hòa quyện giữa bức tranh mùa thu và hình ảnh người mẹ đã làm cho cảm xúc trong bài thơ trở nên vừa cụ thể vừa sâu xa. Mùa thu không chỉ là phông nền của thiên nhiên mà còn là mùa của thương nhớ, của thấu hiểu, của lòng biết ơn.
Mùa thu và mẹ không chỉ là khúc thơ viết về mẹ mà còn là lời đánh thức tình yêu thương trong trái tim mỗi con người. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy thương một người mẹ trong thơ mà còn như bắt gặp bóng dáng mẹ mình đâu đó — vẫn lặng lẽ hi sinh, vẫn âm thầm yêu thương. Có lẽ, giá trị đẹp nhất của bài thơ là khiến con người sống chậm lại để biết yêu mẹ nhiều hơn, trước khi những mùa thu đi qua không thể trở lại.
Bài tham khảo Mẫu 6
Mỗi bài thơ hay đều để lại trong lòng người đọc không chỉ một hình ảnh mà còn là một dư âm cảm xúc. Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một bài thơ như vậy. Không xây dựng những hình tượng lớn lao, tác giả chỉ lặng lẽ đặt mẹ vào giữa không gian mùa thu để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của sự hi sinh, tần tảo và tình mẫu tử sâu nặng. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được không chỉ bức tranh thu nơi làng quê mà còn cả một miền thương yêu và biết ơn trong tâm hồn người con.
Trước hết, bài thơ mở ra bằng hình ảnh người mẹ trong lao động:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Hình ảnh ấy có gì thật quen thuộc mà cũng thật xót xa. Mẹ hiện lên không phải trong phút nghỉ ngơi mà trong vòng quay của nhọc nhằn, vất vả. “Gom lại từng trái chín” là một cách diễn đạt giàu sức gợi, làm hiện lên đôi bàn tay cần mẫn, tảo tần của mẹ. Mẹ không hái quả một cách vô tư, mà là “gom lại”, tức là nâng niu, chắt lọc từng chút thành quả từ đất đai, nắng gió. Từ “rong ruổi” tiếp tục mở rộng hình ảnh ấy: mẹ phải đi xa, phải ngược xuôi, phải bươn chải giữa cuộc sống mưu sinh. Càng xúc động hơn khi con đường mẹ đi là “nẻo đường lặng lẽ” — con đường của sự âm thầm, không ai biết, không ai hay.
Dòng cảm xúc được đẩy sâu hơn ở hai câu thơ tiếp:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Những loại quả được liệt kê mộc mạc, dân dã, mang đậm hồn quê. Chúng là kết quả của thiên nhiên nhưng cũng là kết quả của công sức, tình thương, sự hi sinh của mẹ. Câu thơ “Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu” là một câu thơ đẹp cả về hình ảnh lẫn ý nghĩa. “Ngọt ngào” vốn là vị của trái chín, nhưng ở đây còn là vị của tình mẹ. Còn “chắt chiu” là sự dồn nén biết bao năm tháng nhọc nhằn, nhịn ăn nhịn mặc, tích cóp yêu thương để vun đầy cho con.
Nếu khổ thơ đầu thiên về gợi tả hình ảnh mẹ, thì khổ thơ thứ hai nghiêng nhiều hơn về cảm xúc của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Từ “vọng về” cho thấy cảm xúc không đến một cách trực tiếp mà như vọng lên từ kí ức, từ chiều sâu tâm trạng. Mùa thu vì thế không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của thương yêu, của suy ngẫm, của thấu hiểu. Đặc biệt, hình ảnh “giọt mồ hôi rơi” là một điểm nhấn xúc động. Đó không chỉ là mồ hôi của lao động, mà còn là giọt mồ hôi của hi sinh, của nhọc nhằn đè nặng lên cuộc đời mẹ.
Hai câu thơ sau là một nét vẽ rất tinh tế:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
“Nắng mong manh” là thứ nắng đặc trưng của mùa thu — nhẹ, mỏng, dịu dàng. Nhưng sự nhẹ nhàng ấy lại làm nổi bật hơn hình ảnh “đôi vai gầy”. Cái “nghiêng nghiêng” không chỉ là một dáng vẻ bên ngoài mà còn là dấu hiệu của thời gian, của mệt mỏi, của những gánh nặng cơm áo đã bào mòn dáng mẹ. Hình ảnh thơ rất ít lời mà gợi nhiều thương cảm.
Khổ cuối của bài thơ có sức ám ảnh đặc biệt bởi nỗi lo âu sâu kín:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Không gian thu giờ đây trở nên lạnh hơn, buồn hơn. Cái lạnh của heo may và sự lặng im của đêm như làm tăng thêm nỗi cô quạnh. Trong khung cảnh ấy, người con không sao ngủ được:
“Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Một chi tiết rất thực, rất đời mà lay động lòng người. Tiếng ho của mẹ không chỉ vang lên trong đêm mà còn vọng vào trái tim con, làm trỗi dậy tất cả sự thương yêu và bất lực. Câu thơ cuối:“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”là một câu thơ giàu chất tạo hình và cảm xúc. “Sương” là của thiên nhiên, “mắt rưng rưng” là của con người. Sự kết hợp ấy khiến cảnh và tình hòa vào nhau, để nỗi thương mẹ hiện lên thật thấm thía mà không cần nói nhiều.
Bài thơ thành công bởi giọng điệu thủ thỉ, trầm lắng, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi. Tác giả không dùng những câu thơ cầu kì nhưng vẫn khiến hình ảnh mẹ trở nên chân thực và cảm động. Thiên nhiên mùa thu không chỉ làm nền cho bài thơ mà còn góp phần khắc sâu nỗi niềm thương mẹ của người con.
Có thể nói, Mùa thu và mẹ là một bài thơ đẹp về tình mẫu tử. Vẻ đẹp của tác phẩm nằm ở chỗ nó không ca ngợi mẹ bằng những điều quá lớn lao mà bằng chính những nhọc nhằn, hi sinh bình dị của đời sống thường ngày. Đọc bài thơ, ta nhận ra rằng mẹ chính là mùa thu dịu dàng nhất của đời con - lặng lẽ, sâu xa và đầy yêu thương.
Bài tham khảo Mẫu 7
Viết về mẹ là đề tài quen thuộc trong văn học, nhưng để chạm đến trái tim người đọc thì điều cần nhất vẫn là cảm xúc chân thành. Lương Đình Khoa đã làm được điều đó trong bài thơ Mùa thu và mẹ. Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, tác giả không chỉ tái hiện hình ảnh người mẹ lam lũ trong nhịp sống đời thường mà còn thể hiện nỗi thương yêu, xót xa của người con trước những hi sinh thầm lặng của mẹ. Bài thơ giống như một tiếng lòng được cất lên trong mùa thu — mùa của dịu dàng nhưng cũng là mùa của những lặng thầm suy tư.
Ở khổ thơ đầu, người mẹ hiện ra qua một loạt những hình ảnh rất đời:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Mẹ hiện diện trong lao động, trong sự vất vả, tảo tần. Tác giả không tả mẹ bằng ngoại hình trước, mà bằng hành động. Cách miêu tả ấy khiến hình ảnh mẹ hiện lên chân thực và cảm động hơn nhiều. “Gom lại từng trái chín” gợi bàn tay mẹ cặm cụi, nhẫn nại, như đang vun vén từng chút ngọt lành của cuộc đời. Nhưng cuộc sống của mẹ đâu chỉ có khu vườn, mẹ còn phải “rong ruổi” trên những nẻo đường mưu sinh. Từ “lặng lẽ” ở cuối câu thơ vừa gợi không gian, vừa gợi thân phận: mẹ âm thầm làm tất cả, âm thầm hi sinh, âm thầm gánh lấy nhọc nhằn.
Những câu thơ tiếp theo đậm đà chất quê:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Cách liệt kê những thứ quả quen thuộc khiến bài thơ mang hơi thở gần gũi của cuộc sống thôn quê. Nhưng đằng sau vẻ dân dã ấy lại là chiều sâu cảm xúc. Nhà thơ không dừng lại ở việc tả quả chín, mà gợi ra cái “ngọt ngào” kết tinh từ “năm tháng mẹ chắt chiu”. Như vậy, vị ngọt của thiên nhiên đã trở thành biểu tượng cho tình mẹ. Câu thơ khiến ta hiểu rằng những gì con được hưởng hôm nay không tự nhiên mà có, mà đều đổi bằng mồ hôi, công sức và cả những hi sinh không lời của mẹ.
Sang khổ thơ thứ hai, mạch thơ chuyển từ miêu tả sang cảm nhận:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Từ “nghe” làm cho cảm xúc trở nên tinh tế. Người con không chỉ nhìn thấy mùa thu mà còn cảm thấy trong mùa thu có tiếng gọi của yêu thương. Mùa thu ở đây dường như mang hồn của mẹ, mang bóng dáng của những nhọc nhằn con đã hiểu và đã thương. Câu thơ “Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ” là một câu thơ giàu sức nặng. “Chiều của mẹ” không chỉ là một thời điểm trong ngày, mà còn có thể gợi liên tưởng đến quãng đời xế chiều của mẹ. Như vậy, giọt mồ hôi ấy không chỉ rơi trong lao động mà còn rơi trong những năm tháng già đi vì con.
Hai câu tiếp theo là một bức tranh rất gợi:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
“Nắng mong manh” là hình ảnh của mùa thu, nhưng đồng thời cũng như một phép ẩn dụ cho sự mỏng manh của thời gian, của sức lực, của kiếp người. Trên nền nắng ấy, hình ảnh “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” hiện lên đầy xót xa. Đôi vai ấy không thẳng, không vững chãi nữa, mà đã nghiêng đi vì năm tháng, vì lo toan, vì những gánh nặng vô hình của cuộc đời. Dấu chấm than cuối câu thơ như một tiếng thốt lên nghẹn ngào của người con.
Khổ thơ cuối là khoảng lặng sâu nhất của tác phẩm:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Cảnh thu giờ đây không chỉ đẹp mà còn lạnh, vắng, buồn. Chính trong cái nền không gian ấy, tâm trạng người con hiện ra rõ nhất:
“Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Người con mất ngủ không phải vì mùa thu, mà vì mẹ. Tiếng ho của mẹ trong đêm là chi tiết rất đắt. Nó khiến cả bài thơ như lắng xuống trong một nỗi thương xót. Mẹ không còn là người phụ nữ mạnh mẽ ngày nào, mà đã trở nên yếu mỏi, bệnh tật. Câu kết:“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”mang vẻ đẹp của thơ nhưng cũng chứa nỗi đau của đời thực. Giọt sương lạnh của đêm thu như hòa vào giọt lệ thương mẹ trong lòng người con. Tác giả không nói trực tiếp “con khóc”, nhưng chính cách diễn tả gián tiếp ấy làm cảm xúc trở nên kín đáo mà ám ảnh.
Bài thơ có nghệ thuật biểu đạt tự nhiên, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu tính gợi, hình ảnh chọn lọc tinh tế. Sự đan cài giữa cảnh và tình, giữa mùa thu và hình ảnh mẹ đã làm nên chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm. Mùa thu không chỉ là thời gian của thiên nhiên mà còn là thời gian của hồi tưởng, của nhận ra, của biết ơn.
Mùa thu và mẹ là bài thơ khiến người đọc lặng đi trong xúc động. Từ những điều rất đỗi bình dị, tác giả đã làm hiện lên vẻ đẹp lớn lao của tình mẹ. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết yêu thương, trân trọng mẹ nhiều hơn, bởi có những hi sinh của mẹ chỉ khi lớn lên ta mới hiểu, nhưng đôi khi hiểu ra thì mẹ đã già đi rất nhiều.
Bài tham khảo Mẫu 8
Có những bài thơ khi đọc lên, ta không chỉ cảm nhận được ngôn từ mà còn cảm nhận được cả một tấm lòng. Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một thi phẩm như vậy. Bài thơ không hướng đến những điều lớn lao, mà lặng lẽ khai thác vẻ đẹp của người mẹ trong đời sống thường nhật. Trên cái nền của mùa thu dịu nhẹ mà hiu hắt, hình ảnh mẹ hiện lên càng gầy gò, lam lũ; đồng thời, tình thương của người con cũng vì thế mà trở nên sâu nặng, da diết hơn.
Ngay ở khổ thơ đầu, nhà thơ đã đưa người đọc chạm đến một đời sống rất thực:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Không có một lời ca ngợi trực tiếp nào, nhưng mẹ vẫn hiện lên đẹp bởi chính sự nhọc nhằn của mình. “Gom lại từng trái chín” gợi hình ảnh người mẹ kiên nhẫn, nhặt nhạnh, nâng niu từng thành quả nhỏ nhoi. Cách dùng từ ấy cho thấy cuộc sống không hề dư dả, mọi thứ đều phải vun vén từ những điều bé nhỏ. Sau đó, mẹ “rong ruổi” trên đường đời để mưu sinh. Đó là nhịp chuyển động không ngơi nghỉ của cuộc sống cơ cực. Từ “lặng lẽ” ở cuối câu lại tạo nên một dư vị buồn: mẹ không chỉ vất vả, mà còn vất vả trong âm thầm.
Tiếp nối là những câu thơ giàu hương vị quê nhà:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Các loại quả dân dã hiện ra như biểu tượng của quê hương, của tuổi thơ, của sự bình dị thân thương. Nhưng phía sau vị ngọt ấy là biết bao “năm tháng mẹ chắt chiu”. Câu thơ vừa có ý nghĩa tả thực, vừa hàm chứa tính biểu tượng sâu sắc. Mẹ đã dồn vào những trái chín không chỉ công lao lao động mà còn cả tình yêu, sự nhẫn nại và hi sinh. Vị ngọt của quả cũng chính là vị ngọt của tình mẹ.
Đến khổ thơ thứ hai, người con bắt đầu bộc lộ cái nhìn thấm thía hơn về mẹ:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Câu thơ đầu tiên có tính trữ tình cao. “Mùa thu vọng về” không chỉ là một tín hiệu của thời gian mà còn là sự trở về của kí ức, của những cảm xúc lắng sâu. Trong dòng chảy ấy, người con cảm nhận rõ hơn những nhọc nhằn của mẹ qua hình ảnh “giọt mồ hôi”. Chỉ một chi tiết nhỏ mà đủ dựng lên cả một phận đời tần tảo. Đặc biệt, cụm từ “chiều của mẹ” khiến câu thơ trở nên ám ảnh. Nó có thể là buổi chiều lao động, cũng có thể là buổi chiều của đời người, nơi mẹ đang dần đi về phía xế bóng.
Hai câu thơ sau là một nét chấm phá rất đẹp:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
“Nắng mong manh” là thứ nắng rất riêng của mùa thu, nhưng cũng có thể là biểu tượng của đời người ngắn ngủi, mong manh. Trên nền nắng ấy, “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” trở thành trung tâm của cảm xúc. Đôi vai ấy mang tất cả dấu vết của sự hi sinh. Không cần nói mẹ khổ bao nhiêu, chỉ cần tả đôi vai gầy ấy là đủ khiến người đọc lặng lòng.
Khổ thơ cuối dồn nén nỗi thương mẹ trong một khung cảnh đêm thu:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Không gian lạnh, trống, vắng tạo nên một bầu không khí rất phù hợp để nỗi buồn và nỗi lo lắng lan ra. Người con “chẳng thể chợp mắt”, nghĩa là nỗi thương mẹ đã trở thành một nỗi day dứt không yên. Cao trào của bài thơ tập trung ở câu:
“Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Một tiếng ho thôi mà đủ làm nhói lòng người đọc. Nó gợi ra bệnh tật, tuổi già, sự kiệt sức sau một đời tảo tần. Từ “thao thức” không chỉ dành cho mẹ mà dường như còn là tâm trạng của chính người con. Câu kết:“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!” là câu thơ giàu chất họa và chất tình. “Sương vô tình” là thiên nhiên vô tri, còn “mắt rưng rưng” là trái tim con người đang trĩu nặng yêu thương. Bằng hình ảnh ấy, bài thơ khép lại trong một nỗi xúc động nhẹ mà sâu.
Có thể thấy, bài thơ hấp dẫn ở sự kết hợp hài hòa giữa chất tả thực và chất trữ tình. Hình ảnh mộc mạc, ngôn từ giản dị, giọng thơ lặng lẽ mà giàu sức gợi đã làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng người mẹ. Tác giả không tô vẽ mẹ thành biểu tượng xa vời, mà để mẹ hiện lên từ chính những gì thân thuộc nhất, nên vì thế bài thơ càng dễ chạm đến lòng người.
Mùa thu và mẹ là lời tri ân thầm lặng mà thấm thía đối với mẹ. Bài thơ khiến ta hiểu rằng có những tình yêu không ồn ào nhưng bền bỉ hơn mọi điều lớn lao, và có những hi sinh chỉ khi biết nhìn thật sâu, con người mới nhận ra. Đọc bài thơ, ta thêm thương mẹ, và cũng thêm trân trọng những mùa thu còn có mẹ bên đời.
Bài tham khảo Mẫu 9
Trong thơ ca viết về mẹ, điều làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm không phải là sự trau chuốt cầu kì, mà là khả năng đánh thức những rung động sâu kín trong lòng người đọc. Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một bài thơ như thế. Từ những hình ảnh rất đỗi bình dị của đời sống, nhà thơ đã tái hiện chân thực bóng dáng người mẹ lam lũ và gửi gắm vào đó tình yêu thương, sự biết ơn cùng nỗi xót xa của người con. Bài thơ ngắn nhưng giàu sức gợi, để lại dư âm nhẹ nhàng mà day dứt.
Khổ thơ đầu tiên mở ra bằng một nhịp sống lao động âm thầm của mẹ:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Mẹ hiện lên qua những động từ giàu sức gợi: “gom lại”, “rong ruổi”. Một bên là sự chắt chiu, vun vén; một bên là sự ngược xuôi, bôn ba. Hai nét ấy kết hợp với nhau đã làm nổi bật chân dung một người mẹ tảo tần, suốt đời gắn với lao động và hi sinh. Đáng chú ý là cụm từ “nẻo đường lặng lẽ”. Đây không chỉ là con đường thực mà còn như tượng trưng cho hành trình đời mẹ: đi qua bao nhọc nhằn trong im lặng, không phàn nàn, không kể công.
Tiếp đó, hình ảnh quê hương hiện ra qua những trái cây quen thuộc:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Phép liệt kê tạo nên cảm giác đầy đặn, ấm áp, gợi sự gần gũi của khu vườn quê. Nhưng điều làm câu thơ trở nên sâu sắc chính là cách nhà thơ gắn “trái chín” với “năm tháng mẹ chắt chiu”. Cái ngọt của quả lúc này không còn chỉ là vị giác, mà đã trở thành kết tinh của thời gian, của mồ hôi, của yêu thương. Mẹ không chỉ trồng cây, hái quả, mà còn âm thầm gửi vào đó cả tấm lòng của mình.
Khổ thơ thứ hai là phần thơ giàu chất cảm xúc nhất ở phương diện nhận thức và thấu hiểu:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Câu thơ đầu có vẻ đẹp rất riêng. Người con không nói “thấy” mà nói “nghe”, như thể mùa thu là một âm vang vọng lại từ kí ức và tâm hồn. Trong âm vang ấy có “những thương yêu”, nhưng đó không phải thứ tình cảm mơ hồ, mà gắn liền với hình ảnh rất cụ thể: “giọt mồ hôi rơi”. Có thể nói, nhà thơ đã kéo cái trừu tượng về với cái hữu hình. Yêu thương không hiện ra bằng lời nói, mà hiện ra qua lao động, qua sự nhọc nhằn của mẹ.
Hai câu thơ sau tiếp tục là một nét vẽ đặc sắc:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Hình ảnh “nắng mong manh” rất giàu thi vị, tạo cảm giác nhẹ, mỏng, dịu dàng. Nhưng đặt cạnh “đôi vai gầy”, nó lại khơi dậy cảm giác xót xa. Đôi vai ấy đã hao gầy theo năm tháng, đã nghiêng xuống bởi bao gánh nặng vô hình. Từ láy “nghiêng nghiêng” vừa có giá trị tạo hình, vừa mang sức gợi cảm xúc mạnh: đó không chỉ là tư thế của cơ thể mà còn là sự mỏi mệt, chênh chao của kiếp người.
Đến khổ thơ cuối, bài thơ lắng xuống trong nỗi thương mẹ sâu kín:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Không gian thu trở nên hiu hắt hơn, lạnh hơn. Tác giả đã chọn đúng khoảnh khắc đêm khuya — khi mọi chuyển động đều lắng lại — để làm nổi bật những chuyển động trong tâm hồn. Người con thao thức không ngủ được:
“Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Tiếng ho của mẹ trở thành điểm nhói của bài thơ. Đó là một âm thanh nhỏ bé nhưng chứa sức nặng rất lớn. Nó gợi sự già yếu, bệnh tật, gợi những năm tháng cơ cực đã bào mòn sức lực của mẹ. “Thao thức” ở đây vì thế không chỉ là của mẹ, mà còn là của con, của cả tình thương đang dâng lên không thể yên.
Câu thơ cuối khép lại bài thơ bằng một hình ảnh đẹp mà buồn:
“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
“Sương” là chi tiết ngoại cảnh, nhưng “mắt rưng rưng” lại là nội tâm. Thiên nhiên và con người giao thoa trong một điểm nhìn cảm xúc. Từ “vô tình” khiến cái lạnh của đêm thu như thấm sâu hơn, đồng thời làm nổi bật tình thương đầy day dứt trong lòng người con. Đây là một cái kết lặng mà ám ảnh, để dư âm bài thơ không dừng lại ở câu chữ mà còn ngân lên trong lòng người đọc.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị mà tinh tế. Hình ảnh gần gũi, giàu tính biểu tượng; giọng thơ trầm lắng, tha thiết. Đặc biệt, sự song hành giữa bức tranh mùa thu và hình tượng người mẹ đã tạo cho bài thơ chiều sâu cảm xúc: cảnh thu càng dịu nhẹ bao nhiêu thì nỗi thương mẹ càng thấm thía bấy nhiêu.
Bằng một lối viết chân thành và tinh tế, Lương Đình Khoa đã biến Mùa thu và mẹ thành một khúc thơ đẹp về tình mẫu tử. Bài thơ khiến người đọc không chỉ thương mẹ trong thơ mà còn muốn quay về nhìn lại chính mẹ của mình bằng ánh mắt biết ơn và yêu thương hơn. Bởi suy cho cùng, trong cuộc đời mỗi con người, mẹ luôn là mùa thu dịu dàng nhất, nhưng cũng là mùa dễ làm trái tim ta nghẹn ngào nhất.
Bài tham khảo Mẫu 10
Trong dòng chảy của thơ ca viết về mẹ, có những bài thơ không cần dùng lời lẽ quá cầu kì mà vẫn khiến người đọc xúc động bởi vẻ đẹp chân thực, lặng lẽ. Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một bài thơ như thế. Qua bức tranh mùa thu thấm đẫm nỗi niềm, tác giả đã khắc họa hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ và gửi gắm tình yêu thương, xót xa của người con dành cho mẹ.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh người mẹ giữa cuộc sống đời thường:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Chỉ bằng hai câu thơ, tác giả đã gợi ra biết bao nhọc nhằn. Động từ “gom lại”, “rong ruổi” cho thấy sự tần tảo, chịu thương chịu khó của mẹ. Mẹ không nghỉ ngơi mà vẫn miệt mài với công việc mưu sinh. Đặc biệt, cụm từ “nẻo đường lặng lẽ” không chỉ diễn tả không gian vắng vẻ mà còn gợi cả nỗi cô đơn, âm thầm trong cuộc đời người mẹ. Những trái cây như “na, hồng, ổi, thị” là những sản vật quen thuộc của quê nhà, mang hương vị dân dã, mộc mạc. Nhưng phía sau cái ngọt ngào ấy lại là “năm tháng mẹ chắt chiu”. Từ “chắt chiu” đã làm hiện lên cả một đời mẹ dành dụm, hi sinh, gom góp từng chút yêu thương cho con.
Nếu khổ thơ đầu thiên về khắc họa sự vất vả thì khổ thơ thứ hai lại làm nổi bật bóng dáng mẹ trong cảm nhận đầy thương yêu của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Mùa thu trong bài thơ không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của lòng người, mùa của thương nhớ. Tác giả cảm nhận mùa thu qua “giọt mồ hôi” của mẹ. Chi tiết ấy khiến mùa thu hiện lên không êm đềm, lãng mạn mà thấm đẫm nhọc nhằn. Hình ảnh:“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ / Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”là một nét vẽ rất đẹp. “Nắng mong manh” khiến ánh chiều trở nên dịu nhẹ, vừa như an ủi, vừa như xót thương. Còn “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” là hình ảnh giàu sức gợi, gợi dáng mẹ nhỏ bé, hao gầy vì bao tháng năm vất vả. Chỉ một dáng nghiêng thôi mà chứa đựng cả cuộc đời hi sinh.
Đến khổ cuối, mạch thơ chuyển từ quan sát bên ngoài vào chiều sâu nội tâm:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…
Con chẳng thể chợp mắt”
Gió heo may vốn là tín hiệu quen thuộc của mùa thu, nhưng ở đây không chỉ gợi cái lạnh của đất trời mà còn gợi sự se sắt của lòng người. Trong không gian tĩnh lặng ấy, người con thao thức vì mẹ:
“Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
Câu thơ gây ám ảnh bởi nỗi đau được diễn tả rất tinh tế. Tiếng ho của mẹ là dấu hiệu của tuổi tác, bệnh tật, của những nhọc nhằn tích tụ theo năm tháng. Hình ảnh “sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng” vừa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Đó có thể là giọt sương đêm của đất trời, nhưng cũng có thể là giọt nước mắt của người con trước nỗi xót xa dành cho mẹ. Cách diễn đạt ấy khiến cảm xúc bài thơ trở nên sâu lắng, thấm thía.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công ở thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, giọng thơ nhẹ nhàng mà giàu sức gợi. Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng hàm chứa nhiều cảm xúc. Hình ảnh thơ bình dị mà giàu tính biểu tượng, đặc biệt là những chi tiết như “giọt mồ hôi”, “đôi vai gầy”, “tiếng ho thao thức” đã làm nổi bật vẻ đẹp hi sinh của người mẹ.
Có thể nói, Mùa thu và mẹ là một bài thơ đẹp và cảm động về tình mẫu tử. Qua hình ảnh người mẹ tảo tần trong mùa thu, tác giả không chỉ bày tỏ lòng biết ơn, thương yêu mẹ mà còn nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng mái ấm gia đình, biết yêu thương và quan tâm đến mẹ cha khi còn có thể.
Bài tham khảo Mẫu 11
Mẹ là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca Việt Nam, nhưng mỗi nhà thơ lại có một cách riêng để thể hiện tình cảm ấy. Với Lương Đình Khoa, mẹ hiện lên không phải bằng những lời ngợi ca lớn lao mà bằng những chi tiết rất đỗi bình dị trong bài thơ Mùa thu và mẹ. Tác phẩm đã gợi ra trước mắt người đọc hình ảnh một người mẹ âm thầm hi sinh và đánh thức trong lòng ta niềm thương yêu sâu sắc.
Ngay từ khổ đầu, nhà thơ đã dựng lên bức chân dung mẹ gắn với công việc quen thuộc của người lao động quê nhà:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Nhịp thơ chậm, đều như bước chân mẹ đi qua bao ngày tháng. “Từng trái chín” là thành quả của thiên nhiên, nhưng để có được sự ngọt lành ấy lại là cả quá trình lao động vất vả. Mẹ “gom lại”, rồi “rong ruổi”, nghĩa là mẹ tiếp tục mang những thức quả ấy đi khắp nẻo đường mưu sinh. Từ láy “lặng lẽ” khiến hình ảnh mẹ càng trở nên nhọc nhằn và đáng thương hơn. Mẹ làm tất cả trong thầm lặng, không một lời than vãn.
Bốn câu thơ tiếp theo không chỉ tả công việc của mẹ mà còn cho thấy tấm lòng, sự hi sinh của mẹ:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Các loại quả được liệt kê tự nhiên, mộc mạc, gợi hương vị rất riêng của làng quê Việt Nam. Nhưng cái nhà thơ muốn nói không chỉ là vị ngọt của trái cây, mà còn là vị ngọt của tình mẹ. “Năm tháng mẹ chắt chiu” chính là năm tháng tảo tần, dành dụm, hi sinh vì con. Câu thơ như một lời thổn thức, vừa biết ơn, vừa nghẹn ngào.
Sang khổ thơ thứ hai, hình ảnh mẹ hiện lên trong cái nhìn đầy yêu thương của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Cách dùng từ “vọng về” khiến mùa thu dường như có hồn, có tiếng nói. Và tiếng nói ấy là tiếng của yêu thương, của sự cảm thông mà người con dành cho mẹ. Hình ảnh “giọt mồ hôi” trở thành điểm hội tụ của mọi nỗi nhọc nhằn. Mùa thu vì thế không còn chỉ là mùa của lá vàng, gió nhẹ, mà là mùa của lao động, của hi sinh. Hai câu thơ sau tiếp tục gợi thương:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
“Nắng mong manh” và “đậu bên thật khẽ” là những cách diễn đạt rất tinh tế. Ánh nắng như có linh hồn, như đang ngập ngừng chạm vào mẹ, sợ làm đau dáng hình gầy guộc ấy. Hình ảnh “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” diễn tả rất chân thực thân hình hao gầy của mẹ, đồng thời gợi cảm giác chông chênh, mệt mỏi sau bao vất vả.
Nếu hai khổ đầu là nỗi thương mẹ trong ban ngày thì khổ cuối là nỗi lo cho mẹ trong đêm:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…
Con chẳng thể chợp mắt”
Không gian yên tĩnh càng làm rõ sự thao thức trong lòng người con. Con không ngủ được vì nghe thấy mẹ:
“Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Câu thơ ngắn mà đau lòng. Tiếng ho ấy là dấu hiệu của bệnh tật, của sự hao mòn theo năm tháng. Nó khiến người con không khỏi xót xa, lo lắng. Đặc biệt, hình ảnh:“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”là chi tiết nghệ thuật đặc sắc. “Sương” vốn vô tri, nhưng đi cùng từ “vô tình” lại khiến câu thơ như nặng thêm nỗi buồn. Có lẽ đó không chỉ là sương đêm, mà còn là giọt lệ nghẹn ngào của người con trước mẹ.
Bài thơ thành công bởi giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, ngôn ngữ giản dị mà gợi cảm. Tác giả không nói nhiều về công lao to lớn của mẹ, nhưng chỉ bằng vài hình ảnh chọn lọc, ông đã khắc sâu hình tượng người mẹ nghèo mà giàu đức hi sinh.
Mùa thu và mẹ khép lại nhưng dư âm vẫn còn đọng mãi. Đọc bài thơ, ta thêm thấm thía rằng mẹ luôn là người lặng lẽ hi sinh vì con, còn con cần biết yêu thương, biết nâng niu những tháng ngày còn có mẹ trong đời.
Bài tham khảo Mẫu 12
Có những bài thơ đọc lên, ta không chỉ thấy câu chữ mà còn thấy cả một bóng dáng thân thương hiện ra. Mùa thu và mẹ của Lương Đình Khoa là một bài thơ như vậy. Ẩn trong bức tranh thu nhẹ buồn là hình ảnh người mẹ tảo tần, gầy guộc và tình cảm yêu thương, xót xa của người con dành cho mẹ.
Khổ thơ đầu mở ra bằng công việc quen thuộc của mẹ:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Hình ảnh ấy rất đời thường, nhưng cũng vì thế mà lay động lòng người. Mẹ không hiện lên trong sự lớn lao phi thường mà trong chính những nhọc nhằn giản dị. Từ “từng” cho thấy sự chắt chiu, cần mẫn; còn “rong ruổi” lại gợi sự tất bật, vất vả. Mẹ hiện ra như một người phụ nữ cả đời bươn chải vì gia đình. Những trái cây:“na, hồng, ổi, thị…”không chỉ làm cho bức tranh quê thêm sinh động mà còn gợi sự thân thuộc, gần gũi. Đằng sau những trái chín ấy là bao tháng năm nhọc nhằn của mẹ:
“Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Câu thơ vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa giàu tính biểu cảm. Vị ngọt của hoa trái cũng chính là vị ngọt của mồ hôi, công sức, tình thương mẹ gửi vào cuộc đời con.
Khổ thơ thứ hai là cái nhìn trực tiếp của người con về mẹ:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Từ “nghe” ở đây rất đặc biệt. Thương yêu vốn là cảm xúc, không thể nghe bằng tai, nhưng người con lại “nghe” được mùa thu vọng về. Điều đó cho thấy tình cảm dành cho mẹ đã trở thành một sự cảm nhận rất sâu bằng cả tâm hồn. Trong cảm nhận ấy, hình ảnh ám ảnh nhất là “giọt mồ hôi”. Đó là dấu ấn của lao động, của hi sinh, của cuộc đời tảo tần. Hai câu sau tiếp tục khắc họa chân dung mẹ:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Ánh nắng chiều hiện lên thật nhẹ, thật mỏng, như thể chính thiên nhiên cũng đang xót thương cho dáng mẹ. Còn “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” là hình ảnh giàu sức gợi, gợi ra một thân hình nhỏ bé, yếu ớt nhưng vẫn oằn mình gánh vác cuộc sống.
Khổ thơ cuối lắng xuống trong không gian đêm:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Cái lạnh của heo may làm bức tranh thơ thêm se sắt. Trong không gian tĩnh mịch ấy, người con không ngủ được: “Con chẳng thể chợp mắt”bởi nỗi lo cho mẹ cứ dâng lên. Chi tiết:“Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”thật giản dị mà ám ảnh. Tiếng ho ấy không chỉ là âm thanh của bệnh tật mà còn như tiếng vọng của những năm tháng nhọc nhằn. Đến câu cuối:“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”cảm xúc như dâng đầy. “Sương” ở đây có thể hiểu là sương đêm, nhưng cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ cho nước mắt. Người con không khóc thành lời, chỉ “rưng rưng”, nhưng chính sự kìm nén ấy lại khiến tình cảm càng sâu hơn.
Bài thơ hấp dẫn người đọc bởi nghệ thuật biểu đạt tinh tế. Thể thơ tự do giúp cảm xúc tuôn chảy tự nhiên. Ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi nhưng giàu sức gợi. Nhà thơ không dùng những lời ngợi ca trực tiếp, mà để hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu tự bộc lộ vẻ đẹp của mẹ.
Qua Mùa thu và mẹ, Lương Đình Khoa đã ca ngợi sự hi sinh thầm lặng của người mẹ và bộc lộ tình yêu thương da diết của người con. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: khi còn mẹ bên đời, đó đã là một hạnh phúc lớn lao mà ta cần biết trân trọng.
Bài tham khảo Mẫu 13
Tình mẹ là đề tài không bao giờ cũ trong văn học bởi đó là thứ tình cảm thiêng liêng, bền bỉ và sâu nặng nhất trong đời người. Với bài thơ Mùa thu và mẹ, Lương Đình Khoa đã chọn cách thể hiện rất riêng: không nói nhiều đến lời ru hay vòng tay mẹ, ông hướng ngòi bút vào những nhọc nhằn âm thầm của mẹ trong đời sống thường nhật. Chính điều đó đã tạo nên giá trị cảm xúc sâu sắc cho tác phẩm.
Khổ thơ đầu tiên tái hiện hình ảnh mẹ giữa công việc mưu sinh:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Mẹ xuất hiện với những công việc rất cụ thể, giản dị. “Gom lại từng trái chín” là sự vun vén, chắt chiu; “rong ruổi” là tất bật, nhọc nhằn. Chỉ qua hai động từ ấy, cả cuộc đời lam lũ của mẹ như hiện lên. Từ “lặng lẽ” đặc biệt giàu sức gợi: mẹ làm việc trong âm thầm, hi sinh mà không cần được thấu hiểu hay đáp đền. Sau đó, tác giả liệt kê:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…”
Những hình ảnh này tạo nên nét dân dã của làng quê Việt Nam, đồng thời gợi sự phong phú của khu vườn quê mẹ. Nhưng ý thơ không dừng ở việc tả cảnh. Điều đáng quý hơn nằm ở câu: “Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”“Ngọt ngào” không chỉ là vị của trái cây mà còn là kết tinh của thời gian, công sức và tình thương. Một chữ “chắt chiu” đủ để gói ghém cả cuộc đời cần cù, nhẫn nại của mẹ.
Sang khổ thơ thứ hai, hình tượng mẹ được soi chiếu qua cảm xúc của người con:“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu” Câu thơ giàu chất trữ tình. Mùa thu không hiện ra bằng màu sắc hay âm thanh thông thường, mà hiện lên bằng “thương yêu”. Đó là sự cảm nhận bằng trái tim. Mùa thu gắn với mẹ, gắn với giọt mồ hôi:“Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ” Câu thơ khiến người đọc xúc động bởi giọt mồ hôi ấy là dấu ấn của lao động, của hi sinh. Tác giả tiếp tục khắc họa mẹ bằng nét vẽ mềm mại:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
“Nắng mong manh” gợi cái nhẹ dịu của buổi chiều thu, còn “đậu bên thật khẽ” khiến ánh nắng như có hồn, như biết cảm thương. Nổi bật nhất vẫn là “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” — hình ảnh biểu tượng cho gánh nặng cuộc đời mà mẹ đang âm thầm mang vác.
Khổ thơ cuối là đỉnh điểm của cảm xúc:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Cái lạnh của heo may không chỉ thấm vào cảnh vật mà còn thấm vào lòng người. Trong đêm thu ấy, người con thao thức vì mẹ:
“Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức”
Tiếng ho của mẹ là âm thanh nhỏ bé nhưng gợi nỗi đau lớn. Nó cho thấy mẹ đã già, đã yếu, đã phải chịu đựng quá nhiều vất vả. Câu kết:“Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”là một sáng tạo giàu chất thơ. “Sương” làm cho cảnh vật thêm lạnh, nhưng đồng thời cũng gợi liên tưởng đến những giọt nước mắt của người con. Cái “vô tình” của sương càng làm nổi bật cái hữu tình, sâu nặng của tình con dành cho mẹ.
Xét về nghệ thuật, bài thơ có giọng điệu trầm lắng, tha thiết; ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh. Tác giả sử dụng nhiều chi tiết đời thường nhưng được đặt trong mạch cảm xúc chân thành nên rất dễ chạm tới trái tim người đọc. Cảnh thu và hình ảnh mẹ hòa quyện vào nhau, làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ.
Mùa thu và mẹ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là tiếng lòng chung của biết bao người con trước sự hi sinh lặng thầm của mẹ. Bài thơ giúp ta hiểu rằng tình mẹ luôn hiện hữu trong những điều bình dị nhất, và càng lớn lên, ta càng phải biết yêu thương, trân trọng mẹ nhiều hơn.
Bài tham khảo Mẫu 14
Trong cuộc đời mỗi con người, mẹ luôn là điểm tựa bình yên và thiêng liêng nhất. Có lẽ vì thế mà hình ảnh người mẹ đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca. Với bài thơ Mùa thu và mẹ, Lương Đình Khoa không khắc họa mẹ bằng những điều lớn lao, mà chọn những chi tiết rất đỗi đời thường để từ đó làm hiện lên vẻ đẹp thầm lặng của tình mẫu tử.
Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã vẽ ra hình ảnh người mẹ gắn liền với công việc mưu sinh quen thuộc:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Câu thơ không cầu kì nhưng lại gợi biết bao xót xa. Từ “gom lại” cho thấy sự tằn tiện, chắt chiu; còn “rong ruổi” lại gợi dáng mẹ tất bật, ngược xuôi vì cuộc sống. Đặc biệt, hình ảnh “nẻo đường lặng lẽ” không chỉ tả không gian vắng vẻ mà còn gợi ra cả cuộc đời âm thầm hi sinh của mẹ. Mẹ đi qua những chặng đường ấy bằng sự bền bỉ, nhẫn nại, không một lời than thở. Những câu thơ tiếp theo mở ra vẻ đẹp bình dị của vườn quê:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Các loại quả quen thuộc hiện lên mộc mạc, gần gũi, mang theo hương vị của quê hương. Nhưng cái đáng quý hơn không nằm ở trái chín, mà ở công sức của mẹ gửi gắm trong đó. Câu thơ “Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu” là một phát hiện đầy xúc động. Vị ngọt của quả cũng chính là vị ngọt của tình mẹ, của những tháng năm nhọc nhằn, tảo tần mà mẹ đã lặng lẽ dành cho con. Nếu khổ đầu nghiêng về miêu tả công việc thì khổ thơ thứ hai lại nghiêng về cảm nhận của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Cách dùng từ “nghe” thật tinh tế. “Thương yêu” là cảm xúc, không thể nghe bằng tai, nhưng người con lại nghe thấy mùa thu vọng về. Điều đó cho thấy tình yêu dành cho mẹ đã thấm sâu vào tâm hồn. Trong cảm nhận ấy, hình ảnh “giọt mồ hôi” trở nên vô cùng ám ảnh. Nó là kết tinh của lao động, hi sinh, vất vả. Mùa thu trong bài thơ vì thế không chỉ đẹp mà còn thấm đẫm nỗi niềm. Hai câu thơ đã khắc họa hình ảnh mẹ bằng một nét vẽ rất mềm:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Ánh nắng chiều thu hiện lên nhẹ nhàng, như đang khẽ chạm vào mẹ. Nhưng giữa cái đẹp mong manh ấy, “đôi vai gầy nghiêng nghiêng” lại khiến lòng người thắt lại. Đó là đôi vai đã gánh bao nhọc nhằn của cuộc sống, đôi vai bé nhỏ mà bền bỉ chở che cho con qua năm tháng. Khổ thơ cuối đem đến nỗi xúc động sâu lắng hơn:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…
Con chẳng thể chợp mắt”
Không gian đêm thu yên ắng càng làm nổi bật nỗi thao thức trong lòng người con. Con không ngủ được vì lo cho mẹ, vì thương mẹ:
“Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
Tiếng ho của mẹ là âm thanh rất nhỏ nhưng có sức ám ảnh lớn. Nó gợi ra tuổi tác, bệnh tật và những hao mòn mà mẹ đã phải chịu đựng. Câu thơ cuối giàu sức gợi: “sương” có thể là sương đêm, nhưng cũng có thể là giọt nước mắt của người con đang nghẹn ngào. Chính sự hòa quyện giữa cảnh và tình ấy đã làm cho bài thơ thêm da diết.
Bằng thể thơ tự do, ngôn ngữ mộc mạc và hình ảnh giàu cảm xúc, Lương Đình Khoa đã làm nổi bật hình ảnh người mẹ tần tảo, hi sinh thầm lặng. Mùa thu và mẹ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết yêu thương, trân trọng mẹ khi còn có thể.
Bài tham khảo Mẫu 15
Trong thơ ca, hình ảnh người mẹ luôn là một mạch nguồn cảm xúc bền bỉ, thiêng liêng và sâu lắng. Nếu có những người mẹ hiện lên qua dáng tần tảo giữa nắng mưa, thì ở bài thơ “Mùa thu và mẹ”, Lương Đình Khoa lại khắc họa mẹ trong một không gian rất riêng: mùa thu. Không ồn ào, không lớn lao, bài thơ chạm đến trái tim người đọc bằng những chi tiết bình dị mà đầy ám ảnh, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của người mẹ tảo tần, giàu yêu thương và sự xót xa, biết ơn của người con dành cho mẹ. Ngay từ những câu thơ đầu, nhà thơ đã mở ra hình ảnh người mẹ lam lũ giữa mùa thu đời thường:
“Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ”
Động từ “gom lại” gợi ra một dáng vẻ chắt chiu, nhặt nhạnh, nâng niu thành quả lao động. Mẹ không chỉ hái quả mà còn “gom lại”, như gom từng chút ngọt lành của đất trời, của công sức bao ngày để lo cho cuộc sống gia đình. Còn từ “rong ruổi” lại gợi sự vất vả, nhọc nhằn, gợi bước chân không ngơi nghỉ trên hành trình mưu sinh. Đặc biệt, cụm từ “nẻo đường lặng lẽ” khiến hình ảnh người mẹ càng trở nên cô đơn, âm thầm. Mẹ hiện lên không phải trong ánh hào quang mà trong chính sự lặng lẽ rất đỗi quen thuộc của đời sống. Những câu thơ tiếp theo tiếp tục làm nổi bật vẻ đẹp tảo tần ấy:
“Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.”
Dấu ba chấm sau hàng loạt tên quả tạo cảm giác như mùa thu đang hiện ra đầy đặn, phong phú. Nhưng điều đáng quý hơn không nằm ở những trái cây kia, mà ở chiều sâu ý nghĩa của chúng. Đó không chỉ là hoa quả của vườn nhà, mà còn là kết tinh của “năm tháng mẹ chắt chiu”. Từ “chắt chiu” là một điểm nhấn giàu sức gợi: nó cho thấy cả một đời mẹ tần tảo, dè sẻn, chịu thương chịu khó để vun vén cho con. Cái ngọt của trái chín vì thế cũng chính là cái ngọt của tình mẫu tử, của đức hi sinh bền bỉ. Nếu khổ thơ đầu thiên về khắc họa dáng mẹ trong lao động, thì khổ thơ thứ hai lại đi sâu vào cảm xúc của người con:
“Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ”
Cách dùng từ “con nghe” rất tinh tế. Nhà thơ không nói “con thấy” mà nói “con nghe”, khiến tình cảm hiện lên như một tiếng vọng từ sâu thẳm tâm hồn. Mùa thu ở đây không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của thương yêu, của nỗi niềm, của hồi ức. Câu thơ “Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ” là một hình ảnh đẹp mà buồn. Giọt mồ hôi ấy chứa đựng bao vất vả, nhọc nhằn, đồng thời gợi ra sự thầm lặng của mẹ giữa không gian chiều xuống. Hai câu thơ sau đặc biệt giàu giá trị tạo hình:
“Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!”
Ánh nắng thu vốn nhẹ, nhưng vào thơ, nó trở nên có hồn qua từ “đậu”. Nắng như một sinh thể nhỏ bé, dịu dàng, đang chạm thật khẽ vào mẹ. Nhưng càng dịu nhẹ bao nhiêu, người đọc càng thấy xót xa bấy nhiêu trước hình ảnh “đôi vai gầy nghiêng nghiêng”. Từ láy “nghiêng nghiêng” diễn tả rất rõ dáng mẹ gầy yếu, chông chênh, như mang trên vai cả gánh nặng của cuộc đời. Ở đây, nhà thơ không cần nói nhiều về nỗi vất vả, chỉ một nét phác thôi cũng đủ làm hiện lên cả một đời hi sinh. Khổ thơ cuối là nơi cảm xúc bài thơ lắng sâu và ám ảnh nhất:
“Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…”
Không gian mùa thu giờ đây không còn là sự ngọt ngào của trái chín hay ánh nắng dịu nhẹ, mà chuyển sang sắc lạnh của đêm heo may. Từ láy “xao xác” gợi cái hanh hao, trống trải, buồn buồn của thu. Trong cái tĩnh lặng của không gian, nỗi lòng con người càng hiện rõ hơn. Chính trong đêm ấy, người con thao thức:
“Con chẳng thể chợp mắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!”
Nếu trước đó, con cảm nhận mẹ bằng cái nhìn xa xót thương, thì đến đây, con sống trọn trong nỗi lo cho mẹ. Tiếng ho của mẹ trở thành một âm thanh ám ảnh trong đêm vắng. Từ “thao thức” không chỉ nói về mẹ mà còn như nói hộ cả nỗi lòng người con. Hình ảnh cuối “Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!” rất giàu sức gợi. “Sương” vừa là sương thu ngoài trời, vừa có thể hiểu như những giọt nước mắt đang ứa ra trong mắt con. Chữ “vô tình” khiến nỗi buồn càng sâu hơn: thiên nhiên dường như vô tri, nhưng chính sự vô tình ấy lại làm bật lên tình thương vô hạn của con dành cho mẹ.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công ở thể thơ tự do, giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu hình ảnh. Tác giả sử dụng nhiều chi tiết gần gũi như trái na, hồng, ổi, thị, giọt mồ hôi, tiếng ho, heo may, sương đêm… Tất cả đều rất đời thường nhưng qua cảm xúc chân thành đã trở nên giàu sức lay động. Bài thơ không cần những câu chữ cầu kì mà vẫn gieo vào lòng người đọc niềm thương, niềm biết ơn sâu sắc.
Có thể nói, “Mùa thu và mẹ” là một bài thơ đẹp và cảm động về mẹ. Qua bức tranh mùa thu bình dị, Lương Đình Khoa đã làm hiện lên chân dung người mẹ tảo tần, hi sinh, đồng thời gửi gắm nỗi yêu thương và xót xa của người con. Đọc bài thơ, ta càng thấm thía rằng: trong mỗi mùa của đời người, mẹ vẫn luôn là nguồn yêu thương lặng lẽ và bền bỉ nhất.
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mái ấm ngôi nhà (Trường Hữu Lợi) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Dặn con (Đoàn Mạnh Phương) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích một tác phẩm thơ tự do hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nghị luận phân tích tác phẩm thơ tự do hay nhất
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích một tác phẩm truyện ngắn hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mùa thu và mẹ (Lương Đình Khoa) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mái ấm ngôi nhà (Trường Hữu Lợi) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích đặc điểm một nhân vật văn học mà em có ấn tượng sâu sắc hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nghị luận phân tích đặc điểm một nhân vật văn học mà em có ấn tượng sâu sắc hay nhất
- Top 45 Đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích một tác phẩm truyện ngắn hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mùa thu và mẹ (Lương Đình Khoa) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mái ấm ngôi nhà (Trường Hữu Lợi) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích đặc điểm một nhân vật văn học mà em có ấn tượng sâu sắc hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nghị luận phân tích đặc điểm một nhân vật văn học mà em có ấn tượng sâu sắc hay nhất




Danh sách bình luận