1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ Hai-cư

Top 45 đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích một tác phẩm thơ Hai-cư hay nhất


Giới thiệu tên bài thơ, tác giả (nếu có, thường là Basho, Buson, Issa...) và ấn tượng chung về bài thơ (khung cảnh, cảm xúc).

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

1, Mở đoạn

Giới thiệu tên bài thơ, tác giả (nếu có, thường là Basho, Buson, Issa...) và ấn tượng chung về bài thơ (khung cảnh, cảm xúc).

2, Thân đoạn

+ Hình ảnh trung tâm: Chỉ ra hình ảnh thiên nhiên đặc trưng xuất hiện trong bài thơ và ý nghĩa của nó.

+ Phân tích nghệ thuật:

- Sự tinh tế, ngắn gọn

- Sử dụng biện pháp tu từ: tả cảnh ngụ tình, ẩn dụ, đối lập (nếu có).

- Tác dụng của các khoảng lặng, ngắt nhịp (kireji) trong thơ.

+ Nội dung và ý nghĩa:

- Khung cảnh thiên nhiên hiện lên như thế nào 

- Tâm trạng, sự rung động của tác giả trước thiên nhiên 

- Triết lý nhân sinh được gửi gắm 

3. Kết đoạn 

Khẳng định nét đặc sắc của bài thơ và giá trị nghệ thuật đặc trưng của thơ Hai-cư mà tác phẩm thể hiện.


Bài siêu ngắn Mẫu 1

Bài thơ miêu tả cảnh mùa xuân bên hồ Bi-oa với hình ảnh hoa anh đào rơi nhẹ trên mặt nước. Cánh hoa mong manh hòa cùng làn sóng gợn tạo nên bức tranh thanh thoát, tinh tế. Qua đó, tác giả thể hiện triết lí về sự tương giao của vạn vật: mọi thứ trong tự nhiên đều gắn kết và hòa hợp với nhau một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.


Bài siêu ngắn Mẫu 2

Bài thơ khắc họa khung cảnh tĩnh lặng của thiên nhiên, nơi tiếng ve dường như thấm vào đá trong không gian u trầm. Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp giúp làm nổi bật sự giao hòa giữa âm thanh và cảnh vật. Qua đó, tác giả thể hiện sự đồng điệu giữa tâm hồn con người với thiên nhiên, đồng thời gợi ra vẻ đẹp sâu lắng, giàu tính chiêm nghiệm của cuộc sống.


Bài siêu ngắn Mẫu 3

Bài thơ viết trong những ngày cuối đời của Ba-sô thể hiện khát vọng sống và tinh thần lãng du mãnh liệt. Dù thân xác bệnh tật, tâm hồn ông vẫn hướng tới những hành trình vô tận. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu cuộc sống tha thiết, gắn liền với tình yêu quê hương và con người, tạo nên giá trị nhân sinh sâu sắc trong thơ.


Bài tham khảo Mẫu 1

Tình cảm giữa con người đối với con người là dòng chảy bất tận của thi ca - trong đó tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, chân thành và bản năng nhất. Tình cảm thật của nhân vật trữ tình - tác giả đối với mẹ thật sâu nặng và được thể hiện thật xúc động. Một hình ảnh choán ngợp cả bài thơ - hình ảnh người con khóc mẹ. Đây là hoàn cảnh thật của chính nhà thơ, trở về nhà khi mẹ đã qua đời và hình ảnh của mẹ chỉ còn lại là một nắm tóc bạc. Mang trong lòng nỗi đau mất mẹ, cầm trên tay di vật của mẹ, đây là hình ảnh người con:

    Lệ trào nóng hổi

    tan trên tay tóc mẹ

    làn sương thu.

Nước mắt đớn đau chảy vào hoài niệm. Không ghi nhiều, chỉ một nét gợi mơ hồ và mờ ảo, bài thơ đã truyền tải được tình cảm yêu thương vô bờ của người con đối với mẹ.


Bài tham khảo Mẫu 2

Tình cảm với quê hương đất nước, với những mảnh đất đã từng gắn bó còn được thể hiện ở bài thơ thứ hai:

    Chim đỗ quyên hót

    ở Kinh đô

    mà nhớ Kinh đô.

Bài thơ được viết khi tác giả trở lại Ki-ô-tô sau nhiều năm phiêu bạt. Đây là cuộc gặp gỡ của những cố nhân. Tứ thơ đơn giản nhưng sâu sắc. Âm thanh của tiếng chim đỗ quyên hót đã gợi tả sự tĩnh lặng của không gian. Dùng âm thanh để gợi tả sự tĩnh lặng là bút pháp nghệ thuật quen thuộc của thi ca cổ điển phương Đông. Kinh đô vốn là chốn phồn hoa đô hội, vậy mà lại nghe được âm thanh của tiếng đỗ quyên hót.Không viết nhiều, chỉ một thứ âm thanh gợi một nỗi nhớ nhưng gợi mở bao nhiêu ý nghĩa. Đứng giữa kinh đô mà nhớ kinh đô. Đây là kinh đô ở hai thời điểm khác nhau. Nỗi nhớ ở đây là "niềm tiếc nuối" của nhà thơ. Gặp lại kinh đô hoang tàn của hiện tại, nhớ kinh đô xưa tươi đẹp. Cũng có thể hiểu rằng, bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với đất nước mà hiện thân của đất nước là kinh đô. Tình cảm tha thiết ấy trào dâng trong lòng khi con người ngược thời gian trở về với miền mong nhớ.


Bài tham khảo Mẫu 3

Bài thơ này Ba-sô sáng tác khi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh.

    Mưa đông giăng đầy trời

    chú khỉ con thầm ước

    có một chiếc áo tơi.

Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang rét co ro. Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ. Chú khỉ đã được nhân hoá để nói về suy nghĩ và ước mơ của con người về một cuộc sống hạnh phúc. Chỉ dùng một chi tiết thật nhỏ nhưng nhà thơ đã nói được một vấn đề thật lớn, đó là khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bài thơ đã khái quát hoá một vấn đề rất lớn và rất phổ biến của nhân sinh, đó là khao khát, là ước mơ. Con người luôn khao khát và ước mơ về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn. Những ước mơ rất đỗi giản dị, như chú khỉ ước có được chiếc áo tơi trong cơn mưa đông.Giữa những phút giây bề bộn của cuộc sống, con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp hơn. Và điều đó khiến cho xã hội loài người ngày càng phát triển.


Bài tham khảo Mẫu 4

Bài thơ này miêu tả cảnh mùa xuân. Quanh hồ Bi-oa có trồng rất nhiều hoa anh đào. Mỗi khi gió thổi, cánh hoa anh đào lại rụng lả tả như mây. Cánh hoa hồng nhạt, mong manh rụng xuống mặt hồ làm cho mặt hồ gợn sóng. Cảnh tượng ấy thể hiện sự tương giao của các vật trong vũ trụ. Triết lí sâu xa nhưng lại được thể hiện bằng những hình tượng giản dị, nhẹ nhàng. Đó chính là cảm thức thẩm mĩ của bài thơ. 

    Từ bốn phương trời xa

    cánh hoa đào lả tả

    gợn sóng hồ Bi-oa.

Chỉ với ba dòng thơ ngắn nhưng bài thơ đã tạo nên một bức hoạ thật sinh động. Vạn vật giao hoà, cánh hoa và sóng nước được kết hợp với nhau thật nhẹ nhàng và tinh tế. Hoa đẹp, hồ nên thơ. Những cánh hoa mỏng manh hoà hợp với những con sóng gợn nhẹ trên mặt hồ. Một bức tranh thật thanh thoát. Triết lí nhân sinh của bài thơ nằm trong sự hoà hợp ấy. Mọi sự vật trong thế giới này đều có một mối tương giao với nhau. Với ngôn từ giàu hình ảnh, nhà thơ đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc sự hoà hợp rất triết học của tự nhiên.

 

Bài tham khảo Mẫu 5

Bài thơ ra đời trong một lần Ba-sô leo lên núi đá để thăm chính điện chùa Riu-sa-ku-ji. Tiếng ve là thanh, đá là vật. Nhưng trong cảnh u tịch, vắng lặng của chiều tà, khi tất cả đều im ắng hết lại có thể nghe được tiếng ve rền rĩ như nhiễm vào, như thấm vào đá.         

Vắng lặng u trầm

thấm sâu vào đá

tiếng ve ngâm.

Chỉ một câu với nghệ thuật đảo trật tự cú pháp, nhà thơ đã nói lên được sự tương giao màu nhiệm giữa thiên thiên với thiên nhiên. Và trên hết, để có được điều đó phải có sự tương giao màu nhiệm giữa tâm hồn nhà thơ và vũ trụ nhân sinh. "Vắng lặng u trầm" là nhóm tính từ chỉ trạng thái của "tiếng ve ngâm thấm sâu vào đá". Đảo trật tự cú pháp của câu thơ là một biện pháp nghệ thuật quan trọng của bài thơ. Thơ hai-cư đề cao tính chất hàm súc của ngôn từ. Vì thế các nhà thơ thường chú ý tạo nên những hình ảnh có sức gợi lớn. Ở bài thơ này, chỉ cần một âm thanh của tiếng ve ngâm, tác giả đã gợi nên khung cảnh mùa hè. Nhưng đây là mùa hè được cảm nhận bằng những giác quan của một con người thâm trầm. Người ngắm cảnh như nghiêng mình trước buổi chiều yên ắng để lắng nghe, để chiêm nghiệm, để hoà hợp tâm hồn mình cùng những biến thái, những chuyển động rất tinh vi của tự nhiên. Rất nhẹ nhàng nhưng có một sức tác động mạnh mẽ, mọi vật tồn tại trong thế giới này đều lặng lẽ hoà hợp với nhau, tạo nên sự bền vững cho thế giới.

 

Bài tham khảo Mẫu 6

Bài thơ này viết ở Ô-sa-ka (năm 1694). Đây là bài thơ từ thế của Ba-sô. Trước đó, ông đã thấy mình yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân trời vô tận.

    Nằm bệnh giữa cuộc lãng du

    mộng hồn còn phiêu bạt

    những cánh đồng hoang vu.

Cuộc đời Ba-sô là cuộc đời lang thang phiêu bồng, lãng du. Vì thế ngay cả khi sắp từ giã cõi đời, ông vẫn còn lưu luyến lắm, vẫn còn muốn tiếp tục cuộc đi - đi bằng hồn mình. Và ta lại như thấy hồn Ba-sô lang thang trên khắp những cánh đồng hoang vu. Vẫn tha thiết, ước mong được đi đến mọi miền của quê hương để được ngắm nhìn, được tìm hiểu và chiêm nghiệm cuộc đời. Thế nhưng bệnh tật đã buộc nhà thơ phải ở một chỗ. Thân xác phải ở một nơi nhưng tâm hồn vẫn phiêu bồng với những ước mơ thật lớn. Khát vọng được sống luôn đốt cháy tâm can và tấm lòng yêu đời, tha thiết sống của thi nhân đã được thể hiện trọn vẹn, nồng nàn trong một câu thơ đầy trăn trở, khao khát. Tình yêu cuộc sống là tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người và đó là giá trị nhân sinh trong thơ của Ba-sô. 


Bài tham khảo Mẫu 7

Bài thơ Hai-cư nổi tiếng của Matsuo Bashō: 

"Vắng lặng u trầm / Thấm sâu vào đá / Tiếng ve ngâm" là một tuyệt tác gợi lên vẻ đẹp tĩnh mịch và sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn thi sĩ và thiên nhiên. Chỉ với 3 dòng thơ, Bashō đã xây dựng một bức tranh thiền (zen) độc đáo, nơi âm thanh và không gian hòa quyện. Hình ảnh "tiếng ve ngâm" - âm thanh của mùa hè, thường gợi sự náo nhiệt - ở đây không phá vỡ sự tĩnh lặng mà trái lại, càng làm tôn thêm sự "vắng lặng u trầm" của không gian xung quanh. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác "thấm sâu vào đá" biến âm thanh vô hình thành một thực thể hữu hình, thấm đẫm vào vạn vật, tạo nên sự tương giao, hòa hợp. Câu thơ thể hiện triết lý về sự vô thường và cái đẹp tĩnh lặng, nơi con người có thể lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên và tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn. Bài thơ không chỉ tả cảnh mà còn ngụ tình, thể hiện nét đẹp trong văn hóa tinh thần Nhật 


Bài tham khảo Mẫu 8

Nhà thơ Chi-y-ô đã trực tiếp bày tỏ tình yêu thiên nhiên sâu sắc của mình trong bài thơ "Ôi hoa triêu nhan!/ Dây gàu vương hoa bên giếng/ Đành xin nước nhà bên.". Câu cảm thán "Ôi hoa triêu nhan!" diễn tả sự bất ngờ của nhà thơ khi phát hiện thấy hoa triêu nhan đang vương dây gàu bên giếng. Đứng trước sức sống tràn trề của hoa triêu nhan, bà "Đành xin nước nhà bên" vì không nỡ làm tổn thương sự sống. Bà muốn cái đẹp được tiếp diễn và còn mãi với thời gian. Mặc dù bài thơ bị giới hạn về số chữ nhưng vẫn có thể bộc lộ hết tâm tư, tình cảm của tác giả trước thiên nhiên. Ngôn ngữ thơ cô đọng kết hợp với hình ảnh trong sáng, thân quen đã đem đến cho ta cảm nhận về lối sống chan hòa với môi trường tự nhiên.

 

Bài tham khảo Mẫu 9

Đọc bài thơ "Ôi hoa triêu nhan/ Dây gàu vương hoa bên giếng/ Đành xin nước nhà bên", ta không khỏi xúc động trước tình yêu thiên nhiên sâu sắc của nhà thơ Chi-y-ô. Ngay dòng thơ đầu tiên "Ôi hoa triêu nhan!", tác giả đã bày tỏ cảm xúc trực tiếp thông qua câu cảm thán. Đây không chỉ là sự phát hiện đầy bất ngờ của thi nhân mà nó còn cho thấy sự trân trọng, nâng niu vẻ đẹp tự nhiên. Khi chứng kiến "Dây gàu vương hoa bên giếng", bà "Đành xin nước nhà bên". Mục đích của hành động này chính là để cho sự sống và cái đẹp được tiếp tục hiện hữu. Dung lượng bài thơ vô cùng ngắn gọn kết hợp với hình ảnh trong sáng, giản dĩ đã cho người đọc cảm nhận về thái độ trân quý tự nhiên của tác giả. Đồng thời, bài thơ còn đem đến thông điệp ý nghĩa về việc sống hòa hợp với thiên nhiên.


Bài tham khảo Mẫu 10

Bài thơ của Chi-y-ô đã để lại cho em rất nhiều ấn tượng và rung động sâu sắc. Tác giả vô cùng bất ngờ khi phát hiện ra hoa triêu nhan đang vương dây gàu bên giếng. Để thể hiện cảm xúc ngỡ ngàng này, bà đã sử dụng câu cảm thán "Ôi hoa triêu nhan". Dòng thơ lột tả được sự nâng niu, trân trọng vẻ đẹp của loài hoa vốn rất thân thuộc với người dân Nhật Bản. Đứng trước vẻ đẹp ấy, bà "đành xin nước nhà bên". Mục đích của hành động này xuất phát từ tình yêu mãnh liệt với sự sống. Bà muốn để vẻ đẹp của hoa hiện hữu và trường tồn theo thời gian. Bằng thể thơ tự do với dung lượng ngắn cùng hình ảnh gần gũi, quen thuộc, thi nhân đã đem đến cho người đọc bài học về lối sống hòa hợp với tự nhiên.



Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...