1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ tự do

Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về sự vận động cảm xúc của tác giả trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ (Nguyễn Doãn Việt)


Mở đoạn - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Bài thơ "Từ đôi gánh mẹ" của Nguyễn Doãn Việt là một tiếng lòng tha thiết về tình mẫu tử.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

Mở đoạn

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Bài thơ "Từ đôi gánh mẹ" của Nguyễn Doãn Việt là một tiếng lòng tha thiết về tình mẫu tử.

- Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: Sự vận động cảm xúc của nhân vật "con" (tác giả) đi từ hồi tưởng, xót xa trước những gian truân của mẹ đến sự thấu hiểu, biết ơn sâu sắc và cuối cùng là sự kết tinh thành niềm tự hào, kính trọng thiêng liêng.

Thân đoạn

1. Từ "Nỗi nhớ thương" và "Xót xa" khi hồi tưởng về quá khứ của mẹ (Khổ 1, 2, 3)

- Cảm xúc ban đầu: Sự xúc động khi đối diện với hình ảnh quá khứ.

- Biểu hiện: * Tác giả xót xa trước hình ảnh mẹ "liêu xiêu", đôi gánh "chênh vênh", "trĩu oằn".

+ Thương cảm sâu sắc cho sự gian truân của mẹ: gánh cả "sắn khoai", "một nắng hai sương", "bốn mùa cay cực" để nuôi con.

+ Nỗi đau đớn, thấu thía khi hiểu mẹ phải gánh cả "hai đầu no đói", một mình gánh vác gia đình khi cha đi chiến trận, con còn đỏ hỏn.

2. Đến "Thấu hiểu" và "Biết ơn" khi nhận ra giá trị sự hy sinh (Khổ 4, 5)

- Sự chuyển biến cảm xúc: Cảm xúc phát triển từ thương xót đơn thuần sang sự nhận thức và thấu hiểu lẽ đời.

- Biểu hiện:

+ Tác giả nhận ra đôi gánh của mẹ không chỉ gánh vật chất mà gánh cả "thời gian dầu dãi", gánh cả "gừng cay muối mặn" (những đắng cay, nghĩa tình đời người).

+ Lòng biết ơn tự hào: "Con lớn lên từ đôi gánh mẹ", nhờ mẹ mà con hiểu được "nhân thế lẽ đời", biết phân biệt "nặng nhẹ" (giá trị đích thực) của cuộc đời.

3. Kết tinh thành niềm "Tự hào" và "Kính trọng thiêng liêng" (Khổ cuối)

+ Đỉnh điểm của cảm xúc: Sự tôn vinh và khắc cốt ghi tâm.

+ Biểu hiện: * Hình ảnh đôi gánh nâng lên thành biểu tượng: "tạc vào con dáng mẹ", là "dáng cội nguồn".

- Cảm xúc vỡ òa trong từ láy "rưng rưng" ở cuối bài – đó là giọt nước mắt của sự xúc động, lòng biết ơn vô hạn và sự kính trọng thiêng liêng dành cho mẹ và cội nguồn dân tộc.

Kết đoạn

- Khái quát lại quy luật vận động: Mạch cảm xúc vận động tự nhiên, đi từ trực giác (nhìn, nhớ) đến lý trí (thấu hiểu) và lắng đọng ở tâm hồn (tự hào, kết tinh thành lý tưởng sống).

- Bài học/Liên hệ: Đôi gánh của mẹ chính là bệ phóng tâm hồn cho con bước vào đời.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Mạch cảm xúc trong “Từ đôi gánh mẹ” của Nguyễn Doãn Việt là hành trình vận động tự nhiên từ hồi tưởng xót xa đến thấu hiểu lẽ đời sâu sắc. Thuở ban đầu, cảm xúc của người con gắn liền với niềm hoài niệm, đau đớn khi chứng kiến dáng mẹ “liêu xiêu” dưới sức nặng của “bốn mùa cay cực” và sự chia cắt của chiến tranh. Thế nhưng, theo dòng chảy thời gian, nỗi thương cảm ấy không dừng lại ở sự xót thương thụ động mà dần nâng cấp thành sự thức tỉnh mạnh mẽ trong nhận thức. Từ đôi gánh vật chất “sắn khoai”, con nhận ra mẹ đang gánh cả “thời gian dầu dãi”, gánh cả triết lý “gừng cay muối mặn”. Chính từ đôi vai vẹt mòn của mẹ, con trưởng thành, thấu suốt “nhân thế lẽ đời” và biết phân định “nặng nhẹ” ở đời. Để rồi cuối cùng, cảm xúc kết tinh thành niềm tự hào thiêng liêng khi bóng hình mẹ hóa thành “dáng cội nguồn”, khiến lòng con “rưng rưng” bái phục.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Bài thơ là một thước phim quay chậm về sự dồn nén cảm xúc để rồi vỡ òa thành những giọt nước mắt biết ơn của nhân vật trữ tình. Mở đầu đoạn thơ, tác giả đối diện với quá khứ bằng một nỗi niềm trĩu nặng, xót xa trước đôi gánh “chênh vênh” nuôi nấng con qua những năm tháng đói nghèo, bom đạn. Cảm xúc ấy cứ tích tụ, dồn nén qua từng chi tiết tả thực về bờ vai “vẹt mòn” và chiếc đòn gánh “chín rạn”. Sự dồn nén ấy dần chuyển hóa thành niềm thấu cảm sâu sắc khi đứa con nhận ra vóc dáng gầy guộc của mẹ chính là trụ cột nâng đỡ cả một gia đình. Đến khổ thơ cuối, mạch cảm xúc không còn kìm nén được nữa mà nâng lên thành một biểu tượng nghệ thuật thiêng liêng: mẹ là “cội nguồn”. Tiếng nấc nghẹn “rưng rưng” khép lại tác phẩm chính là đỉnh điểm của sự kính trọng, một sự vỡ òa của lòng biết ơn vô hạn.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Sự vận động cảm xúc của Nguyễn Doãn Việt trong tác phẩm mang một chiều sâu triết lý khi đi từ tình thương mẫu tử cá nhân đến sự tôn vinh cội nguồn dân tộc. Khởi đầu bằng tiếng lòng trắc ẩn của người con trước những cơ cực của riêng người mẹ mình với “một nắng hai sương”, “ruộng cạn đồng xa”. Cảm xúc ấy mang tính riêng tư, đầy xót xa và thương mến. Tuy nhiên, qua lăng kính thời gian, tình thương ấy được mở rộng biên độ. Đôi gánh của mẹ không còn là công cụ mưu sinh thuần túy mà gánh cả lịch sử, cả gian lao của một thời đại “cha biệt tháng ngày chiến trận”. Bản thân người mẹ đã vượt lên trên một cá thể để hòa vào làm một với “dáng cội nguồn” – biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, vĩ đại. Đoạn kết đọng lại một cảm xúc vừa ấm áp, vừa thành kính, biến tình mẫu tử thành bệ đỡ tinh thần bất diệt cho con.

Bài tham khảo Mẫu 1

Trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ, cảm xúc của tác giả vận động theo chiều sâu của sự hồi tưởng và nhận thức. Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ thương da diết về hình bóng người mẹ tảo tần với “đôi gánh chênh vênh chợ sớm đồng chiều”. Hình ảnh “bóng mẹ liêu xiêu” giữa con đường gợi lên dáng vẻ nhỏ bé, nhọc nhằn của người phụ nữ đã dành cả cuộc đời cho gia đình. Từ nỗi nhớ ấy, cảm xúc của nhà thơ chuyển sang niềm xót xa, thương cảm khi nhận ra trong đôi gánh quen thuộc là biết bao vất vả, gian lao. Đôi gánh không chỉ chất chứa sắn khoai, rạ rơm mà còn gánh cả “một nắng hai sương”, “bốn mùa cay cực”, gánh cả những dấu vết thời gian in hằn trên đôi vai mẹ. Mạch cảm xúc tiếp tục phát triển thành sự thấu hiểu sâu sắc trước những hy sinh âm thầm của mẹ: gánh nỗi nhớ người chồng nơi chiến trận, gánh trách nhiệm nuôi con khôn lớn. Đến cuối bài thơ, cảm xúc lắng đọng thành lòng biết ơn và niềm xúc động nghẹn ngào. Tác giả nhận ra mình trưởng thành từ chính đôi gánh ấy, từ tình yêu thương và đức hi sinh vô điều kiện của mẹ. Hình ảnh “đôi gánh mẹ” vì thế trở thành biểu tượng của cội nguồn, của tình mẫu tử thiêng liêng, khiến người đọc không khỏi rưng rưng xúc động.

Bài tham khảo Mẫu 2

Từ đôi gánh mẹ là hành trình cảm xúc đầy xúc động của người con khi nhìn lại cuộc đời mẹ qua hình ảnh đôi quang gánh thân thuộc. Ban đầu, cảm xúc được khơi nguồn từ nỗi nhớ và sự hoài niệm. Trong dòng hồi tưởng của nhà thơ hiện lên dáng mẹ “liêu xiêu”, gầy gò giữa những tháng năm mưu sinh nhọc nhằn. Từ sự hồi tưởng ấy, người con dần khám phá những tầng ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong đôi gánh. Đó không đơn thuần là vật dụng lao động mà là nơi kết tinh bao mồ hôi, nước mắt và sự hy sinh của mẹ. Những câu thơ giàu sức gợi đã giúp người đọc cảm nhận được gánh nặng cuộc đời đè lên đôi vai người mẹ nghèo: gánh cái đói, cái no, gánh nỗi nhớ thương chồng nơi chiến trận và gánh cả tương lai của đứa con thơ dại. Cảm xúc vì thế chuyển từ thương nhớ sang thấu hiểu và cảm phục. Đến cuối bài thơ, người con nhận ra những giá trị lớn lao mà mẹ đã trao gửi: bài học về tình nghĩa, sự thủy chung, đức hi sinh và lẽ sống làm người. Hình ảnh “dáng cội nguồn” khép lại bài thơ như một sự tôn vinh thiêng liêng dành cho mẹ. Đó là khoảnh khắc cảm xúc dâng đầy, kết tinh thành lòng biết ơn sâu nặng và tình yêu thương vô bờ dành cho đấng sinh thành.

Bài tham khảo Mẫu 3

Sự vận động cảm xúc trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ diễn ra tự nhiên nhưng vô cùng sâu sắc, từ cảm nhận về hình ảnh cụ thể đến nhận thức về những giá trị lớn lao của cuộc đời. Khởi đầu là nỗi nhớ thương da diết của người con khi khắc họa hình dáng mẹ qua “đôi gánh chênh vênh”. Hình ảnh ấy gợi lên bao nhọc nhằn, cơ cực của người phụ nữ nông thôn suốt đời lam lũ. Từ nỗi nhớ, cảm xúc dần lắng sâu thành niềm thương xót khi tác giả nhận ra đôi vai mẹ đã oằn xuống bởi gánh nặng mưu sinh và những mất mát của chiến tranh. Đôi gánh trở thành biểu tượng cho những hi sinh thầm lặng mà lớn lao: gánh gia đình, gánh thời gian, gánh tình yêu thương và trách nhiệm. Càng suy ngẫm, người con càng thấu hiểu rằng tuổi thơ, sự trưởng thành và cả những bài học về đạo lí đều được nuôi dưỡng từ đôi gánh ấy. Vì vậy, cảm xúc cuối cùng không chỉ là lòng biết ơn mà còn là sự chiêm nghiệm về cội nguồn của mỗi con người. Kết thúc bài thơ bằng từ láy “rưng rưng”, tác giả đã gửi gắm cảm xúc nghẹn ngào, thành kính trước hình ảnh mẹ. Đó là giọt nước mắt của yêu thương, của sự tri ân và cũng là lời nhắc nhở mỗi người hãy biết nâng niu những hi sinh bình dị mà vô giá của mẹ trong cuộc đời mình.

Bài tham khảo Mẫu 4

Mạch cảm xúc trong bài thơ “Từ đôi gánh mẹ” của Nguyễn Doãn Việt vận động theo một quy luật nội tâm tự nhiên và sâu sắc: đi từ niềm hoài niệm xót xa đến sự trưởng thành trong nhận thức của người con. Thuở ban đầu, khi đối diện với quá khứ, cảm xúc của nhân vật trữ tình là nỗi đau đớn, trắc ẩn trước hình bóng mẹ “liêu xiêu” gánh gồng một đời “chênh vênh”. Tác giả nhìn thấu những vất vả hiển hiện trên vai áo mẹ, từ củ sắn củ khoai đến “bốn mùa cay cực” và vết “vai vẹt mòn” vì ruộng cạn đồng xa. Thế nhưng, dòng cảm xúc không dừng lại ở sự xót thương thụ động. Nó vận động, lớn dần lên thành một sự thấu hiểu mang tính triết lý khi đứa con bước vào tuổi trưởng thành. Từ đôi gánh vật chất nuôi thân, con nhận ra mẹ đang gánh cả “thời gian dầu dãi”, gánh cả “gừng cay muối mặn” của nghĩa tình và đạo lý làm người. Đôi vai gầy của mẹ chính là trường học đầu tiên dạy cho con biết thế nào là “nhân thế lẽ đời”, biết phân định giá trị “nặng nhẹ” của kiếp nhân sinh. Để rồi ở những dòng thơ cuối, khi cảm xúc đã chín muồi, nó nâng cấp thành một niềm tự hào thiêng liêng. Hình ảnh người mẹ hòa quyện làm một với “dáng cội nguồn” dân tộc, khiến người con chỉ biết thốt lên trong sự kính cẩn và giọt nước mắt “rưng rưng” nghẹn ngào. Đó là sự vận động tuyệt đẹp của tình mẫu tử: nhận ơn nghĩa từ mẹ để rồi kết tinh thành lý tưởng sống cao đẹp cho con.

Bài tham khảo Mẫu 5

Sự vận động cảm xúc của tác giả trong tác phẩm là quá trình tích tụ, dồn nén những chi tiết tả thực để rồi vỡ òa thành một biểu tượng nghệ thuật thiêng liêng. Giai đoạn đầu của mạch cảm xúc gắn liền với những ký ức đầy ám ảnh về sự gian truân. Tác giả sử dụng những hình ảnh rất thực, rất đời như “sắn khoai tần tảo”, “rạ rơm tấm bánh”, và đặc biệt là đòn gánh tre “chín rạn áo nâu non”. Cảm xúc người con ở đây trĩu nặng, đong đầy sự xót xa khi thấy mẹ phải một mình gánh vác cả hai đầu “no đói”, một mình nuôi con đỏ hỏn khi cha đi chiến trận. Mỗi câu chữ như một nốt lặng dồn nén niềm thương cảm trước sự hy sinh vô điều kiện của mẹ. Tuy nhiên, điểm hay của bài thơ là sự chuyển dịch cảm xúc từ cụ thể đến trừu tượng. Sức nặng trên vai mẹ không còn là cơm áo gạo tiền nữa, mà là sức nặng của thời gian và định mệnh. Sự dồn nén cảm xúc qua bốn khổ thơ đầu đã tìm thấy bước ngoặt ở khổ thơ cuối. Đôi gánh của mẹ không còn là một vật dụng mưu sinh đơn thuần, nó đã được “tạc” vào tâm khảm đứa con, trở thành “dáng cội nguồn”. Từ láy “rưng rưng” khép lại bài thơ chính là đỉnh điểm của sự vận động cảm xúc. Đó là lúc niềm xúc động, lòng biết ơn và sự ngưỡng vọng sau bao năm tháng kìm nén đã vỡ òa thành những giọt nước mắt, linh thiêng hóa hình ảnh người mẹ thành điểm tựa tinh thần vĩnh cửu.

Bài tham khảo Mẫu 6

Bài thơ “Từ đôi gánh mẹ” đem đến một chiều sâu cảm xúc đặc biệt nhờ vào sự vận động mở rộng biên độ: từ tình thương mẫu tử cá nhân đến sự tri ân, kết nối với cội nguồn dân tộc. Xuất phát điểm của mạch cảm xúc là tiếng lòng của một người con hướng về người mẹ bằng xương bằng thịt của mình. Con thương mẹ vì những lam lũ “một nắng hai sương”, vì cái bóng “liêu xiêu” trên con đường chợ sớm đồng chiều. Đây là thứ tình cảm mang tính riêng tư, tràn ngập sự xót xa và yêu thương của một đứa con hiếu thảo. Nhưng khi mạch thơ phát triển, cảm xúc của Nguyễn Doãn Việt được nâng tầm lên một tầm vóc mới. Qua hình ảnh “Phía cha biệt tháng ngày chiến trận”, không gian nghệ thuật được mở rộng từ ngôi nhà nhỏ ra đến giang sơn, đất nước. Người mẹ của tác giả lúc này không còn cô độc mà đã đại diện cho cả một thế hệ những người phụ nữ Việt Nam hậu phương, âm thầm gánh chịu gian khổ để chồng yên tâm ra trận. Sự vận động cảm xúc đạt đến độ sâu sắc nhất khi tác giả nhìn thấy ở đôi gánh của mẹ hình bóng của “cội nguồn”. Mẹ không chỉ nuôi con bằng bầu sữa, bằng sắn khoai mà nuôi con bằng cả phù sa văn hóa, bằng truyền thống “gừng cay muối mặn” của cha ông. Cảm xúc “rưng rưng” kết đoạn vừa là cái cúi đầu biết ơn mẹ, vừa là niềm tự hào sâu sắc trước vóc dáng kiên cường, bất khuất của dân tộc được lưu truyền qua đôi gánh vĩ đại của người mẹ.

Bài tham khảo Mẫu 7

Bài thơ Từ đôi gánh mẹ của Nguyễn Doãn Việt là tiếng lòng tha thiết về tình mẫu tử thiêng liêng. Trong tác phẩm, cảm xúc của nhân vật trữ tình “con” vận động từ hồi tưởng, xót xa đến thấu hiểu, biết ơn và cuối cùng kết tinh thành niềm kính trọng sâu sắc dành cho mẹ. Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ thương da diết khi người con hồi tưởng hình ảnh mẹ với “đôi gánh chênh vênh”, “bóng mẹ liêu xiêu” trên những nẻo đường mưu sinh. Những từ ngữ giàu sức gợi đã khắc họa dáng vẻ nhọc nhằn, tảo tần của mẹ, khiến người con không khỏi xót xa trước bao “một nắng hai sương”, “bốn mùa cay cực”. Nỗi thương cảm càng trở nên thấm thía khi nhận ra mẹ phải một mình gánh vác gia đình trong những năm tháng cha nơi chiến trận, con còn thơ dại. Từ sự xúc động ấy, cảm xúc phát triển thành sự thấu hiểu và biết ơn. Người con nhận ra đôi gánh của mẹ không chỉ chở nặng vật chất mà còn gánh cả thời gian, nghĩa tình và những bài học làm người. Chính từ đôi gánh ấy, con lớn lên, hiểu được “nhân thế lẽ đời”, biết trân trọng những giá trị đích thực của cuộc sống. Đến cuối bài thơ, cảm xúc dâng lên thành niềm tự hào và kính trọng khi hình ảnh mẹ hóa thành “dáng cội nguồn”. Từ láy “rưng rưng” khép lại bài thơ như giọt nước mắt tri ân, làm sáng ngời vẻ đẹp của tình mẫu tử bất diệt.

Bài tham khảo Mẫu 8

Trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ, Nguyễn Doãn Việt đã tái hiện một hành trình cảm xúc chân thành và sâu lắng của người con trước sự hi sinh lớn lao của mẹ. Mạch cảm xúc khởi đầu từ những hồi ức đầy thương nhớ về hình ảnh người mẹ nghèo với đôi vai gầy oằn nặng bởi đôi gánh cuộc đời. Những hình ảnh “trĩu oằn”, “liêu xiêu”, “vai vẹt mòn” không chỉ gợi lên nỗi vất vả của lao động mà còn khơi dậy trong lòng người con niềm xót xa khôn nguôi. Từ sự thương cảm ấy, người con dần nhận ra phía sau đôi gánh quen thuộc là biết bao gánh nặng vô hình: gánh cái đói, cái no, gánh nỗi nhớ người chồng xa cách và gánh cả tương lai của đứa con nhỏ. Cảm xúc vì thế chuyển từ thương mẹ sang thấu hiểu chiều sâu của sự hi sinh. Người con nhận thức rằng mình không chỉ được nuôi lớn bằng cơm áo mà còn bằng tình yêu thương, đức hi sinh và những bài học đạo lí mà mẹ âm thầm trao gửi. Khi hiểu được điều đó, lòng biết ơn trong nhân vật trữ tình ngày càng sâu sắc. Ở khổ thơ cuối, cảm xúc đạt đến độ lắng đọng và thiêng liêng nhất khi đôi gánh mẹ trở thành biểu tượng của cội nguồn. Hình ảnh ấy được “tạc vào con” như một giá trị bất biến, để lại trong lòng người đọc niềm xúc động và sự trân trọng vô hạn đối với những người mẹ Việt Nam.

Bài tham khảo Mẫu 9

Từ đôi gánh mẹ là bài thơ giàu chất suy tưởng, thể hiện sự vận động cảm xúc tinh tế của người con khi nhìn lại cuộc đời mẹ. Ban đầu, cảm xúc được khơi nguồn từ nỗi nhớ và niềm thương xót. Hình ảnh mẹ hiện lên giữa con đường đời với đôi gánh “chênh vênh”, bóng dáng “liêu xiêu” đã gợi biết bao cơ cực, nhọc nhằn. Người con không chỉ nhìn thấy những gánh hàng đơn sơ mà còn cảm nhận được cả “một nắng hai sương”, “bốn mùa cay cực” đè nặng trên vai mẹ. Từ đó, cảm xúc chuyển dần sang sự thấu hiểu. Người con nhận ra đôi gánh ấy đã gánh cả thời gian dầu dãi, gánh nỗi lo cơm áo, gánh tình yêu thương và trách nhiệm đối với gia đình. Đặc biệt, mẹ còn phải thay cha nơi hậu phương trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Nhận thức ấy khiến lòng biết ơn trào dâng mạnh mẽ. Người con hiểu rằng mình lớn lên từ chính đôi gánh của mẹ, từ những hi sinh âm thầm mà bền bỉ ấy. Đến cuối bài thơ, cảm xúc được nâng lên thành niềm tự hào và sự tôn kính thiêng liêng. Hình ảnh “dáng cội nguồn” đã khái quát vẻ đẹp của người mẹ thành biểu tượng bất tử của quê hương, gia đình và truyền thống. Mạch cảm xúc vận động tự nhiên từ nhớ thương đến thấu hiểu, từ thấu hiểu đến tri ân, để lại dư âm sâu sắc về đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc.

Bài tham khảo Mẫu 10

Trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ, cảm xúc của tác giả vận động một cách tự nhiên, sâu lắng từ nỗi nhớ thương đến sự thấu hiểu và lòng biết ơn mẹ. Mở đầu bài thơ, tác giả hồi tưởng hình ảnh người mẹ với “đôi gánh chênh vênh”, “bóng mẹ liêu xiêu” trên những con đường quê. Đó là cảm xúc xúc động, thương nhớ khi nhìn lại dáng hình tảo tần, lam lũ của mẹ. Từ hình ảnh đôi gánh quen thuộc, cảm xúc tiếp tục phát triển thành sự cảm nhận sâu sắc về những nhọc nhằn, vất vả mà mẹ đã trải qua. Đôi gánh không chỉ có “sắn khoai”, “rạ rơm”, mà còn chất chứa biết bao “nắng sương”, “cay cực” của cuộc đời. Từ đó, nhà thơ nhận ra mẹ không chỉ gánh nặng mưu sinh mà còn gánh cả nỗi nhớ chồng nơi chiến trận, gánh trách nhiệm nuôi con khôn lớn. Đến những khổ thơ cuối, cảm xúc lắng đọng thành sự biết ơn và chiêm nghiệm. Tác giả nhận thức rằng mình trưởng thành từ chính sự hy sinh thầm lặng của mẹ, từ những bài học về tình nghĩa, đạo lí làm người. Khép lại bài thơ là niềm xúc động nghẹn ngào khi hình ảnh “đôi gánh mẹ” trở thành biểu tượng của cội nguồn, của tình mẫu tử thiêng liêng và bất diệt.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...