Viết bài văn nêu lên những vấn đề cuộc sống mà văn học đã gợi cho em thông qua việc bày tỏ quan điểm về ý kiến của Mi-lan Ken-de-ra: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở...>
I. MỞ BÀI - Dẫn dắt vấn đề: - Giới thiệu vấn đề: Milan Kundera khẳng định: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”.
Dàn ý
I. MỞ BÀI
- Dẫn dắt vấn đề:
- Giới thiệu vấn đề: Milan Kundera khẳng định: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”.
- Nhận định đã chạm tới một đặc trưng quan trọng của văn chương: tác phẩm lớn không đơn thuần trao cho người đọc những kết luận có sẵn mà khơi mở những vấn đề về con người và cuộc sống, từ đó mời gọi người đọc bằng tri thức, trải nghiệm và hệ giá trị riêng tham gia vào quá trình khám phá ý nghĩa của tác phẩm.
II. THÂN BÀI
1. Giải thích ý kiến của Milan Kundera
- “Nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi” cho thấy sáng tạo văn học bắt đầu từ sự quan sát, trải nghiệm, trăn trở và nhu cầu khám phá của người nghệ sĩ trước những điều phức tạp, bí ẩn hoặc chưa có lời giải cuối cùng trong đời sống.
- “Câu hỏi” ở đây không chỉ là những câu hỏi xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà rộng hơn là những vấn đề về con người và xã hội được đặt ra thông qua nhân vật, tình huống, xung đột, hình tượng và số phận.
- “Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi” nhấn mạnh giá trị của văn chương không chỉ nằm ở việc kể được một câu chuyện hấp dẫn mà quan trọng hơn là từ câu chuyện ấy khiến con người phải suy nghĩ về những vấn đề sâu xa của sự sống.
=> Như vậy, Milan Kundera đề cao cả hai phía của hoạt động văn học: nhà văn có trách nhiệm khám phá và đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa về đời sống, còn người đọc phải chủ động đối thoại với tác phẩm để tìm kiếm câu trả lời và ý nghĩa cho riêng mình.
2. Bàn luận vấn đề:
- Đối tượng trung tâm của văn học là con người, trong khi con người là một thế giới phức tạp, nhiều chiều, luôn biến đổi và không thể được giải thích đầy đủ bằng những công thức đơn giản.
- Cùng một hành động của con người có thể chứa đựng nhiều nguyên nhân, cùng một lựa chọn có thể vừa đúng ở phương diện này vừa gây tổn thương ở phương diện khác nên văn chương cần tôn trọng sự phức tạp ấy thay vì giản lược cuộc sống thành những kết luận một chiều.
- Nếu nhà văn chỉ đưa ra những chân lí có sẵn và buộc người đọc phải tiếp nhận thì tác phẩm dễ trở thành lời giáo huấn, trong khi sức mạnh của văn chương nằm ở khả năng tạo ra những tình huống khiến người đọc tự cảm nhận, tự suy nghĩ và tự lựa chọn thái độ.
- Câu hỏi mà văn chương đặt ra có sức sống lâu dài bởi mỗi thời đại, mỗi thế hệ và mỗi cá nhân có thể trở lại với tác phẩm bằng những trải nghiệm khác nhau và tìm thấy trong đó những vấn đề mới.
- Văn học vì thế không nhất thiết nói với người đọc “hãy sống thế này” mà có thể đặt người đọc trước một số phận để họ tự hỏi “nếu là mình, mình sẽ sống thế nào”, từ đó biến hoạt động đọc thành một quá trình tự nhận thức.
- Chiều sâu của tác phẩm không chỉ nằm ở câu trả lời nhà văn đưa ra mà còn nằm ở khoảng trống suy tưởng mà tác phẩm để lại sau khi câu chuyện đã kết thúc.
3. Chứng minh thông qua trải nghiệm văn học.
Luận điểm 1: Nhà văn có trách nhiệm khám phá và đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa về đời sống
- Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra câu hỏi: Con người cần nhìn nhận và thấu hiểu người khác như thế nào trước một cuộc sống phức tạp?
+ Nguyễn Minh Châu không bênh vực bạo lực và cũng không cung cấp một giải pháp đơn giản cho gia đình hàng chài mà đặt người đọc trước câu hỏi khó hơn: muốn giúp một con người, liệu lòng tốt thôi đã đủ hay trước hết phải hiểu toàn bộ hoàn cảnh của họ.
+ Từ tác phẩm, ta nhận ra rằng một trong những điều khó nhất trong cuộc sống là học cách trì hoãn phán xét, bởi con người thường phức tạp hơn rất nhiều so với những gì ta nhìn thấy từ bên ngoài. Người đọc khác nhau có thể có những cách lí giải khác nhau về lựa chọn của người đàn bà hàng chài, nhưng chính sự khác biệt ấy chứng minh sức sống của tác phẩm khi câu chuyện đã kết thúc mà vấn đề vẫn tiếp tục được suy nghĩ.
- Lão Hạc của Nam Cao đặt ra câu hỏi: Điều gì làm nên giá trị và sức mạnh của một con người trước những nghịch cảnh của cuộc đời?
+ Qua cách nhìn của ông giáo, Nam Cao đồng thời đặt ra câu hỏi về việc con người nên nhìn nhau như thế nào, bởi nếu chỉ nhìn những biểu hiện bên ngoài thì ta rất dễ thấy người khác “gàn dở”, “xấu xa” hoặc đáng trách mà không hiểu những đau khổ phía sau họ.
+ Câu chuyện của lão Hạc khiến ta nhận ra rằng giá trị con người không được quyết định đơn giản bởi họ sở hữu bao nhiêu mà còn bởi trong nghịch cảnh họ lựa chọn gìn giữ điều gì.
+ Tuy nhiên, tác phẩm cũng không nên chỉ được đọc như một lời ca ngợi cái chết để bảo toàn nhân phẩm, bởi người đọc hôm nay còn có thể đặt thêm câu hỏi về quyền được sống, sự hỗ trợ của cộng đồng và trách nhiệm của xã hội trước những con người bị đẩy tới tuyệt vọng.
+ Chính khả năng khiến những thế hệ khác nhau tiếp tục đặt thêm những câu hỏi mới cho một số phận cũ là biểu hiện của chiều sâu và sức sống văn chương.
- Văn chương còn đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng: Con người nên sống cho mình hay sống vì những người khác?
+ Nhiều tác phẩm văn học cho thấy con người không tồn tại như một cá thể biệt lập mà luôn sống trong những mối quan hệ với gia đình, cộng đồng, quê hương và đất nước.
+ Trong Lặng lẽ Sa Pa, nhân vật anh thanh niên lựa chọn sống và làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn, thực hiện công việc khí tượng tưởng như âm thầm, nhỏ bé nhưng lại có ý nghĩa đối với sản xuất và chiến đấu. Nhân vật khiến người đọc tự hỏi giá trị của một công việc được đo bằng sự nổi tiếng, những gì người khác nhìn thấy hay bằng ích lợi thực sự mà công việc ấy đem lại cho cộng đồng.
Luận điểm 2: Những câu hỏi mà văn chương đặt ra không khép kín trong tác phẩm mà tiếp tục thay đổi theo người đọc và thời đại
- Một tác phẩm có thể chỉ có một hệ thống ngôn từ nhưng không nhất thiết chỉ có một cách hiểu, bởi mỗi người đọc bước vào tác phẩm với vốn sống, tri thức, tuổi tác, hoàn cảnh và hệ giá trị khác nhau.
- Một học sinh có thể đọc Bếp lửa trước hết như câu chuyện về tình bà cháu, trong khi một người đã xa quê lâu năm có thể cảm nhận sâu hơn câu chuyện về nguồn cội, còn một người trưởng thành có thể nhìn thấy trong đó vấn đề về sự biết ơn và những giá trị tinh thần không thể thay thế.
- Người đọc ở những thời đại khác nhau cũng có thể đặt ra những vấn đề mà chính hoàn cảnh lịch sử của họ khiến chúng trở nên nổi bật, như cách người đọc hôm nay có thể từ Lão Hạc suy nghĩ thêm về trách nhiệm xã hội đối với người yếu thế thay vì chỉ tập trung vào phẩm giá cá nhân.
- Sự đa dạng của tiếp nhận không đồng nghĩa với việc mọi cách hiểu đều đúng như nhau, bởi cách lí giải của người đọc vẫn phải xuất phát từ ngôn từ, hình tượng, cấu trúc và logic nghệ thuật của tác phẩm.
- “Theo cách riêng của mình” vì thế là quyền sáng tạo của người đọc trên nền tảng tôn trọng văn bản chứ không phải quyền tùy tiện gán cho tác phẩm bất cứ ý nghĩa nào.
- Chính sự gặp gỡ giữa thế giới do nhà văn tạo ra với kinh nghiệm sống của người đọc khiến tác phẩm được tái sinh trong mỗi lần đọc và có khả năng sống vượt qua thời đại mà nó ra đời.
4. Bàn luận mở rộng:
- Nhà văn đặt câu hỏi nhưng không có nghĩa là nhà văn hoàn toàn không có quan điểm hay câu trả lời của mình
- Không phải cứ đặt ra thật nhiều câu hỏi thì tác phẩm sẽ có chiều sâu: Giá trị của tác phẩm không nằm ở số lượng vấn đề được đề cập mà nằm ở việc những vấn đề ấy có được khám phá bằng trải nghiệm chân thực, tư tưởng sâu sắc và hình tượng nghệ thuật có sức thuyết phục hay không. Một tác phẩm chỉ cố tình tạo ra những nghịch lí khó hiểu hoặc những câu hỏi triết lí nhưng thiếu sự sống của nhân vật và cảm xúc chân thành vẫn có thể trở nên cầu kì mà rỗng.
- Nhận định đặt ra yêu cầu đối với người nghệ sĩ: Người nghệ sĩ phải sống sâu với cuộc đời, quan sát con người trong tính phức tạp và không bằng lòng với những cách giải thích đơn giản, có sẵn. Nhà văn cần có khả năng phát hiện vấn đề phía sau những hiện tượng tưởng như bình thường, bởi một câu chuyện gia đình, một công việc nhỏ bé hay một lựa chọn cá nhân đều có thể chứa đựng những câu hỏi lớn về nhân sinh.
- Nhận định cũng đặt ra yêu cầu đối với người đọc: Người đọc không nên đến với văn chương chỉ để tìm một “đáp án chuẩn” về nội dung mà cần biết đặt câu hỏi, đối thoại và liên hệ những vấn đề của tác phẩm với trải nghiệm sống của mình. Đọc văn không chỉ là hỏi “tác giả muốn nói gì” mà còn cần hỏi “tác phẩm khiến mình nghĩ gì”, “vấn đề ấy có ý nghĩa gì với cuộc sống hôm nay” và “nếu ở trong hoàn cảnh nhân vật, mình sẽ lựa chọn ra sao”. Người đọc cần có tri thức, trải nghiệm, khả năng đồng cảm và tư duy độc lập để phát hiện những tầng ý nghĩa khác nhau của tác phẩm.
III. KẾT BÀI
- Khẳng định lại nhận định: Một tác phẩm lớn vì thế có thể kết thúc ở dấu chấm cuối cùng nhưng những câu hỏi của nó thì chưa kết thúc, bởi chúng còn tiếp tục sống trong người đọc, thay đổi cùng trải nghiệm của mỗi người và đôi khi trở thành những câu hỏi giúp chúng ta hiểu người khác, hiểu cuộc đời và hiểu chính mình sâu sắc hơn.
Bài siêu ngắn Mẫu
Cuộc sống luôn chứa đựng những vấn đề không thể giải đáp bằng một câu trả lời duy nhất. Bởi thế, Milan Kundera cho rằng chiều sâu của tác phẩm nằm ở khả năng đặt ra những câu hỏi về đời sống và chính người đọc sẽ tìm lời giải theo cách riêng. Nhận định đề cao cả hai phía: nhà văn phải khám phá những vấn đề có ý nghĩa, còn người đọc cần chủ động đối thoại với tác phẩm.
Đối tượng trung tâm của văn học là con người – một thế giới phức tạp, nhiều chiều. Vì vậy, văn chương lớn thường không áp đặt những chân lí có sẵn mà đặt chúng ta trước những số phận, lựa chọn để tự suy ngẫm. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đặt ra câu hỏi: cần nhìn nhận con người thế nào trước cuộc sống phức tạp? Ban đầu, Đẩu và Phùng muốn người đàn bà hàng chài rời bỏ người chồng vũ phu, nhưng câu chuyện của chị khiến họ nhận ra phía sau một hiện tượng tưởng dễ phán xét là bao nghịch lí của đói nghèo, gia đình và tình mẫu tử. Tác phẩm nhắc người đọc không thể nhìn cuộc đời đơn giản, một chiều.
Với Lão Hạc, Nam Cao lại khiến ta tự hỏi: điều gì giúp con người giữ được phẩm giá trước nghịch cảnh? Nghèo đói đẩy lão Hạc vào đường cùng, nhưng lão vẫn không muốn tiêu vào mảnh vườn dành cho con, cũng không muốn sống bằng cách làm tổn hại người khác. Cái chết đau đớn của lão khiến người đọc nhận ra sức mạnh của lòng tự trọng và tình phụ tử trong một con người nghèo khổ. Còn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long gợi câu hỏi về quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Anh thanh niên chấp nhận cuộc sống cô độc trên đỉnh Yên Sơn, âm thầm làm công tác khí tượng vì hiểu rằng công việc của mình gắn với công việc chung. Từ đó, người đọc có thể tự suy nghĩ: một cuộc đời có ý nghĩa phải chăng không chỉ là sống cho bản thân mà còn biết đóng góp cho người khác?
Đặc biệt, những câu hỏi của văn chương không khép lại khi tác phẩm kết thúc. Bếp lửa của Bằng Việt có thể khiến mỗi người đọc ở những hoàn cảnh khác nhau tự hỏi mình đã thực sự trân trọng gia đình và nguồn cội hay chưa. Với người xa quê, bếp lửa có thể đánh thức nỗi nhớ; với người trẻ hôm nay, hình ảnh ấy còn nhắc nhở về lòng biết ơn đối với những người đã âm thầm nuôi dưỡng mình. Bởi vậy, cùng một tác phẩm nhưng mỗi thế hệ có thể tìm thấy những ý nghĩa mới từ trải nghiệm riêng.
Tuy nhiên, nhà văn đặt câu hỏi không có nghĩa là hoàn toàn không bộc lộ quan điểm. Thông qua cách xây dựng nhân vật, tình huống và giọng điệu, người viết vẫn kín đáo thể hiện thái độ của mình. Chiều sâu của tác phẩm cũng không phụ thuộc vào số lượng câu hỏi mà ở việc những vấn đề ấy có được khám phá bằng trải nghiệm chân thực và hình tượng nghệ thuật thuyết phục hay không. Một tác phẩm cố tạo ra những câu hỏi cầu kì nhưng thiếu hơi thở cuộc sống vẫn có thể trở nên rỗng.
Nhận định của Milan Kundera vì thế đặt ra yêu cầu với cả người viết và người đọc. Nhà văn cần sống sâu với cuộc đời để phát hiện những câu hỏi lớn phía sau những điều bình thường; người đọc cần có tư duy độc lập để đối thoại với tác phẩm thay vì chỉ tìm kiếm một “đáp án chuẩn”. Văn học không chỉ hỏi “con người là gì?” mà còn khiến mỗi chúng ta tự hỏi: “Tôi sẽ sống như thế nào?”. Chính những câu hỏi còn vang lên sau trang sách đã làm nên chiều sâu và sức sống lâu bền của văn chương.
Bài tham khảo Mẫu 1
Có những tác phẩm đọc xong, câu chuyện đã khép lại nhưng suy nghĩ của người đọc thì chưa. Một số phận, một lựa chọn, một tình huống tưởng chỉ thuộc về nhân vật lại tiếp tục trở thành câu hỏi dành cho chính ta: nếu đứng trong hoàn cảnh ấy, ta sẽ nghĩ gì, chọn gì, sống thế nào? Có lẽ sức mạnh sâu xa của văn chương nằm ở khả năng không chỉ kể chuyện mà còn khơi mở suy tưởng. Mi-lan Ken-de-ra từng khẳng định: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”. Ý kiến đã đề cao vai trò của cả người viết và người đọc: nhà văn có trách nhiệm khám phá, đặt vấn đề; còn người đọc phải chủ động đối thoại với tác phẩm để tìm ra ý nghĩa phù hợp với trải nghiệm của chính mình.
Trước hết, câu nói của Milan Kundera cho thấy văn học không nhất thiết tồn tại để cung cấp những câu trả lời có sẵn. “Đặt ra nhiều câu hỏi” nghĩa là nhà văn đi sâu vào đời sống, phát hiện những vấn đề phức tạp và buộc con người phải suy nghĩ về chúng. “Chiều sâu của tác phẩm” không chỉ nằm ở việc tác phẩm nói bao nhiêu điều, mà còn ở khả năng làm người đọc trăn trở về những vấn đề ấy sau khi trang sách đã khép. Còn việc “chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình” nhấn mạnh tính chủ động của tiếp nhận văn học. Mỗi người đọc mang theo một vốn sống, một hoàn cảnh, một hệ giá trị khác nhau, vì vậy cùng một tác phẩm có thể mở ra những suy nghĩ không hoàn toàn giống nhau.
Điều đó hoàn toàn hợp lí bởi đối tượng trung tâm của văn học là con người, mà con người chưa bao giờ đơn giản. Một hành động có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân; một lựa chọn có thể đúng ở góc nhìn này nhưng lại gây tổn thương ở góc nhìn khác. Nếu văn chương chỉ chia thế giới thành đúng – sai, tốt – xấu, đáng khen – đáng trách bằng những đường ranh quá rõ, nó sẽ dễ làm nghèo đi sự phức tạp của đời sống. Nhà văn lớn thường không vội kết luận thay người đọc. Họ đặt nhân vật vào những tình huống có sức gợi, để từ đó người đọc buộc phải tự suy nghĩ.
Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm như vậy. Tác phẩm đặt ra một câu hỏi rất lớn: con người cần nhìn nhận và thấu hiểu người khác như thế nào trước một đời sống nhiều nghịch lí? Ban đầu, Phùng say mê trước cảnh chiếc thuyền trong sương đẹp như một bức tranh hoàn hảo. Nhưng ngay sau đó, anh lại chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ tàn nhẫn. Cái đẹp và sự thật đau đớn cùng xuất hiện trong một không gian khiến người nghệ sĩ buộc phải thay đổi cách nhìn.
Câu chuyện của người đàn bà hàng chài càng làm vấn đề trở nên phức tạp. Từ bên ngoài, việc khuyên chị bỏ chồng có vẻ là một giải pháp đúng. Nhưng khi nghe chị nói về đàn con, về cuộc sống trên thuyền, về những nhọc nhằn của nghề biển, Đẩu và Phùng hiểu rằng một số phận không thể bị giải quyết bằng một phán quyết đơn giản. Nguyễn Minh Châu không phủ nhận bạo lực, nhưng ông cũng không cho phép người đọc dừng lại ở một kết luận dễ dàng. Tác phẩm khiến ta tự hỏi: liệu hiểu một con người có phải là nhìn đủ lâu vào hoàn cảnh của họ? Liệu lòng tốt nếu thiếu thấu hiểu có thể vẫn chưa đủ để giúp người khác? Chính những câu hỏi ấy làm tác phẩm còn khả năng đối thoại với người đọc hôm nay.
Lão Hạc của Nam Cao lại đặt ra một câu hỏi khác: điều gì làm nên giá trị và sức mạnh của một con người trước nghịch cảnh? Lão Hạc nghèo, cô độc, mất con, phải bán cậu Vàng và cuối cùng lựa chọn cái chết. Nếu chỉ nhìn ở bề mặt, đó là một cuộc đời thất bại. Nhưng Nam Cao lại khiến người đọc nhận ra một phẩm giá rất lớn trong con người ấy. Lão cố giữ lại mảnh vườn cho con, không muốn sống bám vào người khác và đau đớn vì cảm thấy mình đã lừa một con chó.
Cái chết của lão Hạc vì thế không chỉ gợi thương cảm mà còn buộc người đọc suy nghĩ về lòng tự trọng, tình phụ tử và giới hạn chịu đựng của con người. Nam Cao không đơn giản nói rằng lão Hạc “đáng thương” hay “đáng kính”. Ông để người đọc tự cảm nhận cả sự yếu đuối lẫn vẻ đẹp, cả bi kịch lẫn phẩm giá. Từ đó, mỗi người có thể tìm thấy cho mình một câu hỏi riêng: có phải giá trị của con người nằm ở điều họ giữ được khi mọi thứ khác đã mất? Có phải nghịch cảnh càng khắc nghiệt thì phẩm chất bên trong càng hiện rõ?
Văn chương cũng thường đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long gợi ra vấn đề: con người nên sống thế nào để đời mình có ý nghĩa? Anh thanh niên làm công việc khí tượng trên đỉnh Yên Sơn, sống một mình, công việc lặp lại, ít ai biết tới. Nhưng anh vẫn làm việc nghiêm túc bởi hiểu rằng công việc của mình có ích cho sản xuất và chiến đấu.
Điều đáng chú ý là anh không xem mình là người đặc biệt. Khi được ông họa sĩ muốn vẽ chân dung, anh còn giới thiệu những người khác mà anh cho là đáng được ghi nhận hơn. Tác phẩm vì thế không áp đặt một công thức sống “phải hi sinh bản thân vì tập thể”. Nó chỉ đặt trước người đọc một con người tìm thấy ý nghĩa cá nhân trong việc sống có ích. Từ đó, ta có thể tự hỏi: hạnh phúc có nhất thiết gắn với việc được nhìn thấy, được công nhận? Một đời sống thầm lặng nhưng có ích liệu có phải là một đời sống đẹp? Câu trả lời có thể khác nhau tùy người đọc, nhưng chính việc bị thôi thúc phải trả lời đã làm nên sức sống của tác phẩm.
Những câu hỏi mà văn chương đặt ra còn có khả năng thay đổi theo thời gian và trải nghiệm của người đọc. Bếp lửa của Bằng Việt là một ví dụ rõ nét. Khi còn nhỏ, người đọc có thể thấy bài thơ chủ yếu nói về tình bà cháu. Nhưng khi lớn hơn, từng trải qua chia xa, có thể ta lại thấy trong đó câu hỏi về kí ức, nguồn cội và cách con người gìn giữ những gì đã làm nên mình.
Hình ảnh bếp lửa từ một sự vật quen thuộc dần trở thành biểu tượng của tình thương, sự chắt chiu, niềm tin và sự truyền trao giữa các thế hệ. Người đọc ở những thời điểm khác nhau có thể tìm thấy những lớp ý nghĩa khác nhau: khi là một đứa trẻ, ta thấy bóng dáng bà; khi trưởng thành, ta hiểu hơn sự hi sinh; khi đi xa, ta lại cảm sâu hơn câu hỏi về việc mình có đang nhớ và giữ gìn nguồn cội hay không. Vì thế, tác phẩm không hề đứng yên. Nó thay đổi phần nào theo người đọc.
Đây cũng là lí do chiều sâu của văn chương không chỉ nằm ở câu trả lời nhà văn đưa ra mà còn ở “khoảng trống” tác phẩm để lại. Nếu mọi ý nghĩa đều được giải thích hết, người đọc chỉ còn việc tiếp nhận. Nhưng khi tác phẩm mở ra những khả năng suy nghĩ, việc đọc trở thành một quá trình tự nhận thức. Văn học không chỉ hỏi “nhân vật đã sống thế nào” mà còn khiến ta hỏi “mình sẽ sống thế nào”.
Tuy nhiên, nói nhà văn đặt câu hỏi không có nghĩa nhà văn hoàn toàn không có quan điểm. Nguyễn Minh Châu rõ ràng hướng người đọc tới một cái nhìn đa diện và nhân ái; Nam Cao trân trọng phẩm giá con người; Nguyễn Thành Long đề cao lối sống có ích; Bằng Việt nâng niu tình thân và nguồn cội. Nhà văn vẫn có thái độ, nhưng thay vì áp đặt nó bằng lời giáo huấn, họ để thái độ ấy thấm vào hình tượng, tình huống và số phận nhân vật. Chính vì vậy, tác phẩm có sức thuyết phục hơn.
Cũng không phải cứ đặt ra càng nhiều câu hỏi thì tác phẩm càng sâu. Một tác phẩm cố tình tạo ra thật nhiều nghịch lí, những vấn đề tưởng triết lí nhưng thiếu trải nghiệm chân thật và nhân vật sống động vẫn có thể trở nên cầu kì mà rỗng. Giá trị không nằm ở số lượng câu hỏi, mà ở việc câu hỏi ấy có được sinh ra từ đời sống, có chạm đến những vấn đề thật sự của con người và có được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật đủ sức lay động hay không.
Nhận định của Milan Kundera vì thế cũng đặt ra yêu cầu đối với người nghệ sĩ. Nhà văn phải sống sâu với đời, không bằng lòng với những cách giải thích quá đơn giản. Một bữa cơm gia đình, một công việc nhỏ, một hành động tưởng bình thường đều có thể chứa bên trong một câu hỏi lớn về tình yêu, trách nhiệm, phẩm giá hay tự do. Người nghệ sĩ phải đủ nhạy cảm để phát hiện điều đó.
Ở chiều ngược lại, người đọc cũng phải chủ động. Đọc văn không chỉ là tìm “ý chính” hay đoán “tác giả muốn nói gì”. Quan trọng hơn là tự hỏi: tác phẩm khiến mình nghĩ gì, vấn đề ấy còn ý nghĩa gì trong đời sống hôm nay, nếu đặt mình vào hoàn cảnh nhân vật thì mình sẽ lựa chọn ra sao? Khi ấy, đọc văn không còn là ghi nhớ nội dung mà trở thành một cuộc đối thoại giữa tác phẩm và chính mình.
Với riêng tôi, văn học đã gợi ra rất nhiều câu hỏi về cuộc sống: con người nên nhìn nhau thế nào để bớt phán xét; điều gì giúp ta giữ được phẩm giá trong nghịch cảnh; sống cho mình và sống cho người khác nên được cân bằng ra sao; kí ức và nguồn cội có ý nghĩa gì trong một đời người. Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng có đáp án cố định. Nhưng có lẽ chính vì không dễ trả lời nên chúng mới khiến ta tiếp tục suy nghĩ và trưởng thành.
Bởi vậy, nhận định của Milan Kundera đã chỉ ra một đặc trưng quan trọng của văn học chân chính. Nhà văn không chỉ kể chuyện mà còn đặt con người trước những vấn đề có khả năng làm họ suy nghĩ; người đọc không chỉ tiếp nhận mà còn phải tự đối thoại, tự tìm kiếm ý nghĩa. Một tác phẩm lớn vì thế không kết thúc ở trang cuối cùng. Nó vẫn tiếp tục sống trong những câu hỏi còn vang lại sau khi người đọc đã khép sách, và đôi khi chính những câu hỏi ấy giúp ta hiểu rõ hơn không chỉ về cuộc đời, mà còn về chính mình.
Bài tham khảo Mẫu 2
Có những cuốn sách ta đọc xong rồi đặt xuống rất nhanh. Nhưng cũng có những tác phẩm, dù câu chuyện đã kết thúc, vẫn để lại trong đầu người đọc một chuỗi câu hỏi chưa thể trả lời ngay. Tại sao con người lại lựa chọn như thế? Nếu ở vào hoàn cảnh ấy, ta sẽ hành động ra sao? Điều gì là đúng, điều gì là đủ, điều gì khiến một con người giữ được phẩm giá giữa những biến động của đời sống? Chính khả năng khiến người đọc không ngừng suy nghĩ đã làm nên chiều sâu của văn chương. Bởi thế, Mi-lan Ken-de-ra từng khẳng định: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”. Ý kiến đã đề cao cả hai phía của hoạt động văn học: nhà văn phải biết phát hiện và đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa về đời sống, còn người đọc cần chủ động đối thoại với tác phẩm để tìm kiếm câu trả lời cho riêng mình.
Trước hết, điều Mi-lan Ken-de-ra muốn nhấn mạnh là văn chương không chỉ tồn tại để cung cấp những đáp án có sẵn. Nhà văn viết bởi họ nhìn thấy ở cuộc sống những vấn đề chưa thể giải thích bằng một kết luận đơn giản. “Đặt ra nhiều câu hỏi” là cách người nghệ sĩ đi sâu vào đời sống, phát hiện những xung đột, nghịch lí và những vùng mờ trong số phận con người. “Chiều sâu của tác phẩm” vì thế không chỉ nằm ở việc nhà văn nói điều gì, mà còn ở việc tác phẩm khiến người đọc phải nghĩ thêm điều gì. Còn “chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình” nhấn mạnh tính mở của văn học: mỗi người đến với tác phẩm bằng vốn sống, tri thức, trải nghiệm và hệ giá trị khác nhau nên có thể tìm thấy những lớp ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau.
Điều đó hoàn toàn hợp lí, bởi đối tượng trung tâm của văn học là con người, mà con người luôn phức tạp. Một lựa chọn có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân; một hành động có thể đúng ở phương diện này nhưng lại gây tổn thương ở phương diện khác. Nếu văn chương chỉ chia thế giới thành những cặp đối lập đơn giản như tốt – xấu, đúng – sai, đáng khen – đáng trách, nó sẽ làm nghèo đi sự thật của đời sống. Sức mạnh của văn học nằm ở việc tạo ra những tình huống buộc người đọc phải nhìn nhiều chiều hơn.
Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là một tác phẩm như vậy. Qua nhân vật cô Hiền, nhà văn đặt ra một câu hỏi rất đáng suy nghĩ: con người cần nhìn nhận và thấu hiểu người khác như thế nào trong một cuộc sống nhiều biến động? Cô Hiền là một người Hà Nội có cá tính rõ ràng, sống thực tế, tỉnh táo, biết tính toán, nhưng cũng có ý thức sâu sắc về nhân cách và nếp sống. Trong những thời điểm lịch sử thay đổi, cô không dễ bị cuốn theo những phán xét đơn giản của đám đông.
Điều thú vị là Nguyễn Khải không xây dựng cô Hiền như một nhân vật hoàn hảo theo nghĩa thông thường. Ở cô có sự sắc sảo, có phần lạnh lùng, có cách ứng xử rất riêng. Nhưng càng đi sâu, người đọc càng nhận ra phía sau đó là một bản lĩnh sống: biết mình là ai, biết điều gì cần giữ và biết truyền cho con cái ý thức về danh dự. Khi hai người con trai lên đường nhập ngũ, cô không ngăn cản vì hiểu rằng đó là trách nhiệm của một công dân. Từ cô Hiền, người đọc buộc phải tự hỏi: liệu có nên đánh giá một con người chỉ bằng vài biểu hiện bề ngoài? Có những phẩm chất nào chỉ lộ ra khi con người được đặt trong thử thách? Nguyễn Khải không trả lời thay người đọc, nhưng ông mở ra một cách nhìn: muốn hiểu người khác, phải nhìn họ trong chiều sâu của cả đời sống, hoàn cảnh và lựa chọn.
Nếu Một người Hà Nội đặt ra câu hỏi về cách nhìn con người, thì Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài lại gợi ra một vấn đề khác: điều gì làm nên sức mạnh của con người trước nghịch cảnh? Mị từng là một cô gái trẻ, yêu đời, có tài thổi sáo, nhưng vì món nợ truyền kiếp mà trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Cuộc sống bị áp bức lâu ngày khiến Mị gần như tê liệt cảm xúc, sống “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.
Nhưng Tô Hoài không để nhân vật bị đóng khung trong sự cam chịu. Đêm tình mùa xuân, tiếng sáo, men rượu và kí ức tuổi trẻ đã đánh thức trong Mị khát vọng sống. Đến khi nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ, sự đồng cảm khiến Mị nhớ lại chính nỗi đau của mình. Hành động cắt dây trói cứu A Phủ rồi chạy theo anh là một lựa chọn quyết liệt. Từ đó, tác phẩm đặt ra hàng loạt câu hỏi: sức sống của con người có thể bị vùi lấp đến mức nào? Điều gì khiến một người đã gần như mất hết ý thức phản kháng lại có thể đứng dậy? Có phải tình thương với người khác đôi khi cũng là con đường để con người tìm lại chính mình? Mỗi câu hỏi đều mở rộng hiểu biết của người đọc về sức mạnh bên trong của con người.
Văn chương còn thường xuyên đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi cho thấy điều ấy qua Việt và Chiến. Hai chị em đều còn rất trẻ, vẫn mang những nét hồn nhiên, trẻ con, vẫn có những suy nghĩ rất riêng. Nhưng họ lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, đã chứng kiến những mất mát do chiến tranh gây ra và tự nguyện tiếp nối con đường của thế hệ trước.
Tác phẩm khiến người đọc nghĩ về câu hỏi: con người nên sống cho mình hay sống vì người khác? Câu trả lời ở đây không phải là xóa bỏ cái tôi cá nhân. Việt và Chiến vẫn có đời sống riêng, tình cảm riêng, cá tính riêng. Nhưng chính vì gắn mình với gia đình và cộng đồng, họ tìm thấy một ý nghĩa sống lớn hơn. Dòng sông truyền thống trong tác phẩm là một hình ảnh gợi nhiều suy nghĩ: mỗi con người là một nhánh nhỏ, nhưng chỉ khi hòa vào dòng chảy chung, cuộc đời cá nhân mới được đặt trong một chiều dài rộng lớn hơn.
Điều đáng nói là những câu hỏi văn chương đặt ra không hề khép kín trong hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Chúng có thể thay đổi theo người đọc và thời đại. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một minh chứng rõ rệt. Có thời, người ta đọc tác phẩm chủ yếu để thương xót số phận Thúy Kiều và lên án xã hội phong kiến. Nhưng ở những thời điểm khác, người đọc có thể tìm thấy trong đó nhiều câu hỏi mới: con người có thể giữ phẩm giá đến đâu khi bị hoàn cảnh đẩy vào những lựa chọn khắc nghiệt? Tình yêu và chữ hiếu có thể xung đột như thế nào? Một con người có quyền sống cho chính mình đến mức nào khi bị ràng buộc bởi gia đình, lễ giáo và xã hội?
Cùng một Thúy Kiều, mỗi thế hệ có thể có một cách đối thoại khác. Có người nhìn nàng từ góc độ hi sinh, có người suy nghĩ về quyền lựa chọn của người phụ nữ, có người chú ý đến bi kịch của tài năng trong một xã hội bất công. Chính điều đó cho thấy tác phẩm lớn không bị đóng lại bởi một cách hiểu duy nhất. Nó tiếp tục sống vì những câu hỏi bên trong nó vẫn còn khả năng gặp gỡ những vấn đề mới của con người.
Chiều sâu của tác phẩm vì thế không chỉ nằm ở câu trả lời mà còn nằm ở khoảng trống suy tưởng. Nếu nhà văn giải thích tất cả, người đọc sẽ chỉ còn việc tiếp nhận. Nhưng nếu tác phẩm tạo ra những vùng chưa khép kín, người đọc buộc phải bước vào bằng trải nghiệm riêng. Khi ấy, đọc văn không còn là ghi nhớ nội dung mà trở thành một quá trình tự nhận thức.
Tuy nhiên, nói nhà văn đặt câu hỏi không có nghĩa là nhà văn hoàn toàn không có quan điểm. Nguyễn Khải rõ ràng trân trọng bản lĩnh văn hóa của cô Hiền; Tô Hoài tin vào sức sống tiềm tàng của con người; Nguyễn Thi đề cao sự gắn bó giữa cá nhân với gia đình, cộng đồng; Nguyễn Du đau đớn trước số phận và phẩm giá bị chà đạp. Nhà văn vẫn có thái độ, nhưng họ không nhất thiết biến thái độ ấy thành một bài giảng. Quan điểm được gửi vào tình huống, hình tượng và số phận nhân vật để người đọc tự cảm nhận.
Cũng không phải cứ đặt thật nhiều câu hỏi thì tác phẩm sẽ sâu sắc. Một tác phẩm cố tình tạo ra những nghịch lí rối rắm hay những vấn đề tưởng như triết lí nhưng thiếu trải nghiệm chân thực vẫn có thể trở nên cầu kì mà rỗng. Điều quan trọng không phải số lượng câu hỏi, mà là câu hỏi ấy có được sinh ra từ đời sống thật, có chạm đến những vấn đề thiết thân của con người và có được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật thuyết phục hay không.
Nhận định của Mi-lan Ken-de-ra vì thế cũng đặt ra yêu cầu đối với người nghệ sĩ. Nhà văn phải sống sâu với cuộc đời, không dễ thỏa mãn với những cách giải thích có sẵn. Một câu chuyện gia đình, một lựa chọn cá nhân, một biến động nhỏ đều có thể chứa đựng những vấn đề lớn. Người nghệ sĩ phải đủ nhạy cảm để nhìn thấy chúng, đủ can đảm để đặt ra câu hỏi và đủ tài năng để làm câu hỏi ấy sống trong hình tượng nghệ thuật.
Ở phía người đọc, trách nhiệm cũng không hề nhỏ. Đọc văn không chỉ là hỏi “tác giả muốn nói gì” mà còn phải tự hỏi “tác phẩm khiến mình nghĩ gì”, “vấn đề ấy có ý nghĩa gì hôm nay”, “nếu là mình, mình sẽ lựa chọn ra sao”. Người đọc cần tri thức, trải nghiệm, khả năng đồng cảm và tư duy độc lập để khám phá nhiều tầng nghĩa khác nhau. Khi ấy, mỗi lần đọc có thể trở thành một lần hiểu thêm không chỉ về tác phẩm mà còn về chính mình.
Với riêng tôi, văn học đã gợi ra rất nhiều câu hỏi về cuộc sống. Ta cần nhìn người khác như thế nào để bớt vội vàng phán xét? Điều gì giúp con người không bị nghiền nát bởi nghịch cảnh? Sống cho mình và sống vì cộng đồng nên được cân bằng ra sao? Một con người có thể giữ phẩm giá đến mức nào trước những sức ép từ hoàn cảnh? Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng có một đáp án duy nhất. Nhưng chính việc suy nghĩ về chúng khiến ta trưởng thành hơn trong cách nhìn đời.
Bởi thế, nhận định của Mi-lan Ken-de-ra đã chạm tới một bản chất quan trọng của văn chương. Nhà văn không chỉ kể chuyện, mà còn tạo ra những câu hỏi đủ sức đi cùng người đọc ra khỏi trang sách. Người đọc cũng không chỉ tiếp nhận, mà phải tiếp tục đối thoại bằng chính trải nghiệm của mình. Một tác phẩm thật sự có chiều sâu vì thế không kết thúc ở dấu chấm cuối cùng. Nó vẫn tiếp tục sống trong những câu hỏi còn vang lại, và đôi khi chính những câu hỏi ấy giúp con người nhìn thế giới rộng hơn, hiểu người khác sâu hơn và hiểu chính mình rõ hơn.
Bài tham khảo Mẫu 3
Từ thuở con người biết gửi tâm sự vào câu hát, câu thơ, văn chương đã không chỉ làm nhiệm vụ kể lại những gì mắt thấy tai nghe. Đằng sau mỗi cuộc đời được dựng lên bằng ngôn từ thường là những nỗi niềm chưa nguôi, những lẽ đời chưa dễ phân định, những câu hỏi mà người cầm bút muốn gửi lại cho hậu thế. Có những câu hỏi sinh ra từ một thời nhưng có thể theo tác phẩm đi qua nhiều thế hệ, mỗi lần lại được soi chiếu bằng một tâm thế khác. Bởi vậy, Mi-lan Ken-de-ra cho rằng: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”. Đó là một quan niệm sâu sắc về bản chất của sáng tạo và tiếp nhận văn học: người nghệ sĩ khám phá, khơi mở những vấn đề của nhân sinh, còn người đọc tiếp tục hành trình ấy bằng suy ngẫm và trải nghiệm riêng.
“Đặt ra nhiều câu hỏi” trước hết là thái độ của nhà văn trước cuộc đời. Người nghệ sĩ không bằng lòng nhìn sự việc ở bề mặt mà luôn muốn tìm hiểu những nguyên nhân ẩn kín, những nghịch lí và những chiều sâu khó thấy trong số phận con người. Bởi vậy, “chiều sâu của tác phẩm” không chỉ được đo bằng câu trả lời mà tác giả đưa ra, mà còn bằng sức mạnh của những vấn đề tác phẩm khơi dậy. Khi nói “chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”, Mi-lan Ken-de-ra còn trao cho người đọc một vị trí quan trọng. Tác phẩm khi rời khỏi bàn viết không còn chỉ thuộc về nhà văn; nó bước vào đời sống tinh thần của nhiều con người khác nhau. Mỗi người, với tuổi tác, hoàn cảnh, vốn sống và cách nghĩ riêng, sẽ đối thoại với tác phẩm và tìm ra những ý nghĩa riêng. Như vậy, văn chương là cuộc gặp gỡ giữa câu hỏi của người viết và suy tư của người đọc.
Điều ấy trước hết bắt nguồn từ chính đối tượng của văn học: con người. Con người vốn là một thế giới sâu thẳm, không dễ đo lường bằng những khuôn mẫu đơn giản. Có khi một lựa chọn tưởng như yếu đuối lại ẩn chứa lòng vị tha; một con người mang nhiều thương tích vẫn có thể gìn giữ vẻ đẹp tâm hồn; một hành động đúng trong hoàn cảnh này lại chưa chắc thích hợp trong hoàn cảnh khác. Bởi vậy, văn chương chân chính không thể giản lược đời sống thành những phán quyết một chiều.
Nếu nhà văn chỉ đem đến những chân lí có sẵn, tác phẩm rất dễ trở thành một lời giáo huấn. Văn học có con đường riêng để tác động đến con người: đặt ta trước một số phận, khiến ta thương, day dứt rồi tự hỏi mình sẽ nghĩ gì, làm gì nếu sống trong hoàn cảnh ấy. Câu hỏi càng chạm tới những vấn đề căn cốt của con người thì càng có khả năng vượt khỏi giới hạn thời gian. Bởi thế, một tác phẩm lớn không thực sự kết thúc ở dấu chấm cuối cùng. Phần còn lại của nó tiếp tục sống trong tâm trí người đọc.
Truyện ngắn Người ở bến sông Châu của Sương Nguyệt Minh gợi lên một câu hỏi đầy day dứt: con người cần nhìn nhận và thấu hiểu người khác như thế nào trước một cuộc đời phức tạp? Nhân vật dì Mây trở về sau chiến tranh với một cơ thể mang thương tích. Nhưng vết thương chiến tranh đâu chỉ nằm trên thân thể. Ngày trở về cũng là lúc Mây phải đối diện với sự thật San – người mình từng yêu – đã có một mái ấm khác. Một người phụ nữ đã đi qua bom đạn, đã trở về quê hương, tưởng như từ đây sẽ được sống những ngày bình yên, lại tiếp tục phải chịu những mất mát âm thầm trong đời sống riêng.
Sương Nguyệt Minh không biến Mây thành một con người chỉ biết oán trách số phận. Ở chị vẫn có lòng tự trọng, sự bao dung và khả năng sống vì người khác. Chính điều ấy khiến người đọc phải nghĩ xa hơn câu chuyện của một người phụ nữ sau chiến tranh. Chiến tranh thực sự kết thúc vào lúc nào? Có phải khi tiếng súng ngừng thì mọi vết thương đều lành? Chúng ta phải nhìn những con người trở về từ chiến tranh bằng sự thương hại hay bằng sự thấu hiểu và trân trọng? Tác phẩm không đưa ra một lời giải giản đơn. Nó để số phận dì Mây âm thầm cất lên câu hỏi về những tổn thương vô hình và trách nhiệm của con người trước nỗi đau của đồng loại. Đó chính là sức nặng của văn chương: nhìn sau một cuộc đời riêng để thấy những vấn đề rộng lớn hơn về chiến tranh, tình yêu và lòng nhân ái.
Nếu Người ở bến sông Châu khiến ta suy nghĩ về cách thấu hiểu con người, thì Không gia đình của Hector Malot lại gợi ra câu hỏi: điều gì làm nên giá trị và sức mạnh của một con người trước nghịch cảnh? Cuộc đời Rémi từ nhỏ đã là một hành trình đầy gian truân. Cậu phải rời xa mái nhà quen thuộc, theo cụ Vitalis đi khắp nơi, nếm trải đói rét, chia lìa và những bất trắc mà một đứa trẻ đáng lẽ không phải chịu đựng. Thế nhưng nghịch cảnh không biến Rémi thành một con người cay nghiệt.
Trên những nẻo đường lưu lạc, Rémi học lao động, học yêu thương, học cách đối diện với mất mát và giữ gìn lòng tử tế. Bởi thế, sức mạnh của nhân vật không nằm ở khả năng chiến thắng mọi gian nan một cách dễ dàng, mà ở việc gian nan không làm mất đi phần tốt đẹp trong tâm hồn cậu. Từ hành trình ấy, người đọc có thể tự hỏi: khi hoàn cảnh lấy khỏi con người những điểm tựa quen thuộc, điều gì còn lại? Có phải nguồn gốc, tiền bạc hay địa vị quyết định giá trị của một con người? Hay chính lòng nhân hậu, nghị lực, khả năng yêu thương và ý chí tự đứng lên mới làm nên phẩm giá? Câu chuyện về một đứa trẻ lưu lạc vì thế vượt khỏi giới hạn của một cuộc phiêu lưu để trở thành suy tư về cách con người trưởng thành qua thử thách.
Văn chương còn không ngừng đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa cuộc đời cá nhân và trách nhiệm với cộng đồng. Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là một tiếng nói đẹp đẽ về vấn đề ấy. Việt và Chiến bước vào cuộc chiến khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ vẫn mang những nét hồn nhiên của tuổi mới lớn: tranh nhau ghi tên tòng quân, chuyện lớn chuyện nhỏ trong nhà vẫn có lúc khiến hai chị em lời qua tiếng lại. Nhưng phía sau nét trẻ trung ấy là một dòng chảy truyền thống gia đình bền bỉ, được ghi lại trong cuốn sổ của chú Năm và được tiếp nối qua các thế hệ.
Việt, Chiến ra trận không phải vì họ không có đời sống riêng, mà chính bởi những tình cảm riêng tư đã gắn với vận mệnh chung. Nỗi đau mất cha mẹ, tình thương chị em, kí ức gia đình và lòng căm thù giặc gặp nhau trong ý thức trách nhiệm. Qua đó, tác phẩm gợi lên câu hỏi: con người nên sống cho mình hay sống vì người khác? Có lẽ Nguyễn Thi không đặt hai cách sống ấy ở thế loại trừ. Khi cái tôi biết tìm thấy mình trong gia đình, quê hương và cộng đồng, sự cống hiến không còn là sự xóa bỏ cá nhân mà trở thành một cách làm cho cuộc đời cá nhân có ý nghĩa hơn. Một con người là một khúc sông, nhưng khúc sông ấy chỉ thực sự có chiều sâu khi được nối với dòng sông lớn của gia đình và dân tộc.
Đặc biệt, những câu hỏi do văn chương đặt ra không đứng yên. Chúng có thể được mỗi thế hệ đọc lại và tìm thấy những âm vang mới. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một trường hợp như thế. Trước hết, đó là tiếng lòng của một nhà thơ tha thiết với mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước và mong muốn được góp một phần nhỏ bé cho cuộc đời. Ước nguyện làm “con chim hót”, “một nhành hoa”, “một nốt trầm” gợi ra quan niệm sống khiêm nhường mà đẹp đẽ: sống là trao tặng phần tốt đẹp của mình cho cuộc sống chung.
Nhưng mỗi người đọc ở một thời điểm khác nhau lại có thể nghe từ bài thơ một câu hỏi khác. Khi còn trẻ, ta có thể tự hỏi mình sẽ cống hiến điều gì. Khi đã trải qua nhiều năm tháng, ta lại suy nghĩ về giá trị còn lại của một đời người. Trong một thời đại đề cao cá tính và quyền được sống cho bản thân, câu thơ của Thanh Hải còn khiến ta suy ngẫm: làm thế nào để vừa sống cuộc đời riêng của mình vừa không trở nên thờ ơ với cộng đồng? “Mùa xuân nho nhỏ” vì thế không chỉ thuộc về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Hình tượng ấy vẫn có thể đối thoại với hôm nay bởi câu hỏi về sống đẹp, sống hữu ích chưa bao giờ cũ.
Từ những tác phẩm ấy có thể thấy, khoảng trống mà nhà văn để lại nhiều khi chính là nơi người đọc bước vào. Tuy nhiên, nói nhà văn đặt câu hỏi không có nghĩa nhà văn hoàn toàn đứng ngoài mọi câu trả lời. Sương Nguyệt Minh rõ ràng hướng tới sự cảm thông đối với những con người chịu thương tổn bởi chiến tranh; Hector Malot trân trọng nghị lực và lòng nhân hậu; Nguyễn Thi đề cao truyền thống gia đình, tinh thần yêu nước; Thanh Hải gửi gắm một quan niệm sống cống hiến. Nhà văn vẫn có tư tưởng và thái độ của mình, nhưng tư tưởng ấy được hóa thân vào số phận, hình tượng và cảm xúc nghệ thuật chứ không tồn tại như một lời răn dạy khô cứng.
Cũng không phải một tác phẩm cứ chứa thật nhiều câu hỏi là mặc nhiên có chiều sâu. Những câu hỏi lớn chỉ có giá trị khi được sinh ra từ trải nghiệm chân thực, từ sự am hiểu đời sống và được chuyên chở bằng một hình thức nghệ thuật có sức thuyết phục. Nếu nhân vật thiếu sức sống, cảm xúc thiếu chân thành, những vấn đề triết lí dù cầu kì đến đâu cũng dễ trở thành lớp trang sức bên ngoài. Cái sâu của văn chương không nằm ở sự khó hiểu mà nằm ở khả năng khiến người đọc nhận ra một phần sự thật của đời sống và tiếp tục nghĩ về nó.
Quan niệm của Mi-lan Ken-de-ra vì thế đặt ra yêu cầu nghiêm túc đối với người cầm bút. Muốn đặt được câu hỏi có ý nghĩa, nhà văn phải sống giữa cuộc đời bằng một tâm hồn rộng mở, phải quan sát con người trong những mâu thuẫn và những phần khuất lấp của họ. Đằng sau một chuyện gia đình có thể là vấn đề về trách nhiệm; sau một cuộc chia lìa có thể là di chứng của lịch sử; sau một lựa chọn riêng có thể là câu hỏi về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Chỉ khi nhìn sâu hơn bề mặt hiện tượng, người nghệ sĩ mới có thể tìm thấy những câu hỏi đáng để văn chương cất tiếng.
Về phía người đọc, văn chương cũng đòi hỏi một thái độ chủ động. Đọc một tác phẩm không nên chỉ dừng ở câu hỏi “tác giả muốn nói gì”, càng không phải chỉ tìm một đáp án duy nhất rồi ghi nhớ. Ta còn cần hỏi: “Tác phẩm khiến mình nghĩ gì?”, “Vấn đề ấy còn có ý nghĩa thế nào trong cuộc sống hôm nay?”, “Nếu đứng trước lựa chọn của nhân vật, mình sẽ làm gì?”. Tri thức giúp ta hiểu tác phẩm, trải nghiệm giúp ta cảm tác phẩm, còn tư duy độc lập giúp ta đối thoại với tác phẩm. Bởi vậy, một cuốn sách có thể vẫn là cuốn sách ấy nhưng khi đọc lại sau nhiều năm, ta đôi khi gặp một tác phẩm dường như khác trước – thực ra bởi chính ta đã khác.
Với tôi, văn học đã đặt ra những câu hỏi không dễ nguôi ngoai: phải làm thế nào để hiểu một người trước khi phán xét họ; điều gì giúp con người đứng vững khi nghịch cảnh lấy đi những điểm tựa; cái tôi nên sống ra sao trong mối quan hệ với gia đình và cộng đồng; một đời người phải để lại điều gì để những năm tháng mình sống không trôi qua vô nghĩa? Văn chương không trao cho tôi một chiếc chìa khóa có thể mở mọi cánh cửa. Nhưng nó dạy tôi biết đứng trước mỗi cánh cửa mà suy nghĩ lâu hơn, nhìn con người bằng nhiều phía hơn và dè dặt hơn trước những phán quyết quá dễ dàng.
Một tác phẩm thực sự có sức sống, vì thế, không nhất thiết phải khép lại mọi vấn đề nó đã mở ra. Có khi giá trị bền lâu nhất của nó chính là để lại một câu hỏi chưa hoàn toàn có lời giải. Nhận định của Mi-lan Ken-de-ra đã chạm tới bản chất ấy của văn chương: nhà văn khơi nguồn cuộc đối thoại bằng những khám phá về đời sống, còn người đọc tiếp tục cuộc đối thoại bằng kinh nghiệm và suy tư của chính mình. Trang sách có thể khép, câu chuyện có thể dừng, nhưng một khi câu hỏi của văn chương đã đi vào lòng người, hành trình của tác phẩm vẫn còn tiếp tục.
Bài tham khảo Mẫu 4
Có những tác phẩm trao cho người đọc một câu chuyện, nhưng cũng có những tác phẩm trao cho người đọc một nỗi băn khoăn. Câu chuyện có thể dừng lại ở trang sách cuối cùng, còn nỗi băn khoăn lại theo con người rất lâu: thế nào là đẹp và xấu, điều gì làm nên phẩm giá, con người nên sống cho mình hay cho người khác, mỗi cá nhân có trách nhiệm gì với nơi mình thuộc về? Có lẽ văn chương trở nên cần thiết không chỉ bởi nó giúp ta biết thêm về cuộc đời mà còn bởi nó khiến ta không thể nhìn cuộc đời một cách quá dễ dàng. Mi-lan Ken-de-ra từng khẳng định: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”. Nhận định đã gợi mở một đặc trưng quan trọng của văn học: nhà văn đặt những vấn đề của đời sống vào tác phẩm, còn người đọc tiếp tục khám phá chúng bằng trải nghiệm và suy nghĩ của chính mình.
Nhà văn “đặt ra nhiều câu hỏi” bởi sáng tạo văn chương trước hết là một hành trình khám phá. Người nghệ sĩ không chỉ ghi lại những gì xảy ra mà còn muốn tìm hiểu vì sao nó xảy ra, điều gì ẩn sau một số phận, một hành động, một lựa chọn. Bởi vậy, “chiều sâu của tác phẩm” được thể hiện ở khả năng từ một câu chuyện cụ thể mở ra những vấn đề rộng lớn về con người và xã hội. Khi cho rằng “chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”, Mi-lan Ken-de-ra nhấn mạnh vai trò sáng tạo của người tiếp nhận. Mỗi người bước vào trang sách với một vốn sống khác nhau nên có thể nghe được những âm vang khác nhau từ cùng một tác phẩm. Như vậy, nhà văn có trách nhiệm khám phá và khơi mở câu hỏi, còn người đọc chủ động đối thoại với tác phẩm để tìm kiếm ý nghĩa cho riêng mình.
Điều ấy trước hết bắt nguồn từ bản chất của văn học. Đối tượng trung tâm của văn chương là con người, trong khi con người chưa bao giờ là một phương trình chỉ có một đáp số. Một hành động có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân; một lựa chọn đôi khi vừa chứa đựng cái đúng vừa kéo theo mất mát. Nếu nhà văn vội vàng phân chia con người thành tốt và xấu, đúng và sai bằng những đường ranh cứng nhắc thì đời sống sẽ bị giản lược. Văn chương chân chính phải đủ rộng để chứa được những nghịch lí ấy.
Bởi vậy, sức mạnh của tác phẩm không nằm ở việc tác giả liên tục nói với người đọc rằng phải nghĩ gì, sống thế nào. Nếu mọi chân lí đều được phát biểu thành những lời giáo huấn có sẵn, người đọc chỉ còn việc tiếp nhận thụ động. Trái lại, một tình huống giàu sức gợi, một nhân vật có số phận phức tạp có thể khiến ta tự hỏi: nếu là mình, mình sẽ lựa chọn ra sao? Khi ấy, đọc văn trở thành hành trình tự nhận thức. Và bởi mỗi thế hệ có một hoàn cảnh sống khác nhau, những câu hỏi của văn chương cũng có khả năng được đọc lại, hiểu lại. Chính những “khoảng trống” chưa hoàn toàn khép kín ấy làm nên sức sống lâu dài của tác phẩm.
Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo là một minh chứng tiêu biểu. Từ câu chuyện đầy bi kịch của Quasimodo, Esmeralda và những con người trong xã hội Paris trung cổ, tác phẩm đặt ra một vấn đề vẫn còn sức ám ảnh: chúng ta phải nhìn nhận và thấu hiểu một con người như thế nào khi vẻ bề ngoài và bản chất bên trong có thể hoàn toàn khác nhau?
Quasimodo hiện ra với một ngoại hình dị dạng, lại sống cô độc trong nhà thờ. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt của đám đông, chàng dễ bị xem như một kẻ đáng sợ. Nhưng Victor Hugo từng bước đưa người đọc vượt qua lớp vỏ ấy để nhận ra bên trong con người bất hạnh là một tâm hồn biết yêu thương, biết hi sinh và khát khao được đối xử như một con người. Ngược lại, những kẻ mang vẻ ngoài đáng kính chưa chắc đã có một tâm hồn cao đẹp. Chính sự đối lập giữa hình thức và bản chất khiến người đọc phải đặt lại câu hỏi về cách mình đánh giá người khác.
Từ Quasimodo, vấn đề của tác phẩm vượt xa một câu chuyện tình buồn. Ai có quyền quyết định một con người đẹp hay xấu? Phải chăng định kiến của đám đông đôi khi còn đáng sợ hơn một khuôn mặt dị dạng? Nếu chỉ nhìn một con người qua hình thức, địa vị hay những điều người khác nói về họ, liệu ta đã thực sự hiểu họ chưa? Victor Hugo không viết một bài luận để trả lời từng câu hỏi ấy. Ông để số phận nhân vật tự cất tiếng. Chính vì vậy, người đọc không bị buộc phải chấp nhận một lời giáo huấn mà được dẫn đến sự tự vấn về lòng nhân ái và cách nhìn người.
Nếu Nhà thờ Đức Bà Paris đặt ra câu hỏi về sự thấu hiểu, thì Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê lại khiến người đọc suy nghĩ: điều gì làm nên giá trị và sức mạnh của con người trước nghịch cảnh? Ba cô gái Phương Định, Nho, Thao sống và chiến đấu trên một cao điểm giữa tuyến đường Trường Sơn ác liệt. Công việc của họ là quan sát máy bay địch, đo khối lượng đất đá, đánh dấu bom chưa nổ và phá bom khi cần thiết. Cái chết luôn ở rất gần.
Nhưng Lê Minh Khuê không biến những cô gái ấy thành những biểu tượng xa cách đời thường. Họ vẫn là những cô gái trẻ với sở thích, tính cách và những phút yếu mềm rất riêng. Phương Định thích hát, hay nhớ về Hà Nội; chị Thao bình tĩnh trong công việc nhưng lại sợ máu; Nho trẻ trung, hồn nhiên. Chính những nét bình thường ấy khiến lòng dũng cảm của họ càng đáng quý. Họ không phải những con người không biết sợ, mà là những con người biết sợ nhưng vẫn làm điều cần phải làm.
Tác phẩm vì thế gợi một câu hỏi có ý nghĩa vượt khỏi hoàn cảnh chiến tranh: sức mạnh thực sự của con người đến từ đâu? Có lẽ can đảm không phải là không bao giờ run sợ; can đảm là vẫn bước tới khi hiểu rất rõ hiểm nguy. Sức mạnh cũng không nhất thiết biểu hiện bằng những lời lớn lao. Nó có thể nằm trong việc hoàn thành công việc, chăm sóc đồng đội, giữ lại sự trong trẻo của tâm hồn giữa hoàn cảnh khốc liệt. Qua ba cô gái thanh niên xung phong, văn chương giúp người đọc nhận ra rằng nghịch cảnh không chỉ thử thách con người mà còn có thể làm những phẩm chất đẹp đẽ nhất trong họ tỏa sáng.
Một câu hỏi khác thường trở đi trở lại trong văn học là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng: con người nên sống cho mình hay sống vì người khác? Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi đã đặt vấn đề ấy trong câu chuyện của Việt và Chiến. Hai chị em còn rất trẻ, có những nét hồn nhiên, những tình cảm riêng và cả những cuộc tranh giành rất trẻ con. Nhưng phía sau họ là một gia đình chịu nhiều đau thương vì chiến tranh và một truyền thống được các thế hệ nối tiếp.
Cuốn sổ gia đình của chú Năm giống như nơi lưu giữ dòng chảy ấy. Việt và Chiến bước vào cuộc chiến không phải vì họ không có cuộc đời riêng, mà bởi cái riêng đã gắn với cái chung. Tình yêu cha mẹ, tình chị em, kí ức về những người đã khuất và tình yêu quê hương cùng hội tụ trong lựa chọn cầm súng. Nguyễn Thi vì vậy không buộc người đọc phải lựa chọn tuyệt đối giữa “sống cho mình” và “sống vì người khác”. Tác phẩm gợi ra một khả năng sâu sắc hơn: con người có thể tìm thấy ý nghĩa của chính mình trong mối liên hệ với gia đình và cộng đồng. Cái tôi không nhất thiết mất đi khi hòa vào cái chung; đôi khi chính cái chung lại giúp cái tôi trưởng thành.
Những câu hỏi văn chương đặt ra còn có khả năng biến đổi theo từng người đọc và từng thời đại. Đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm là một trường hợp rõ nét. Nhà thơ không tìm đất nước chủ yếu trong những khái niệm xa xôi mà đưa đất nước trở về với đời sống gần gũi: câu chuyện mẹ kể, miếng trầu của bà, mái tóc của mẹ, cái kèo cái cột trong nhà, hạt gạo qua bao nắng sương. Đất nước vì thế không chỉ là lãnh thổ trên bản đồ mà hiện diện trong văn hóa, kí ức và đời sống của mỗi con người.
Từ đó, tác phẩm đặt ra một câu hỏi lớn: ai đã làm nên đất nước? Nguyễn Khoa Điềm hướng tới tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, nhìn lịch sử không chỉ qua tên tuổi những người nổi tiếng mà còn qua biết bao con người bình dị đã lao động, chiến đấu, gìn giữ và truyền lại những giá trị cho đời sau. Nhưng câu hỏi ấy không dừng lại ở thời điểm bài thơ ra đời.
Với người đọc hôm nay, Đất Nước còn có thể khơi dậy một vấn đề khác: nếu đất nước được tạo nên từ sự góp sức của bao thế hệ bình thường thì mỗi chúng ta đang góp phần gì vào đất nước của mình? Tình yêu đất nước có nhất thiết chỉ được chứng minh trong những thời khắc lớn lao, hay còn nằm trong cách một người học tập, lao động, gìn giữ văn hóa và sống có trách nhiệm mỗi ngày? Một tác phẩm được viết trong hoàn cảnh chiến tranh vì thế vẫn có thể đối thoại với thế hệ sống trong hòa bình. Câu hỏi cũ bước vào một hoàn cảnh mới và mang thêm những tầng ý nghĩa mới.
Qua những tác phẩm ấy có thể thấy, nhà văn đặt câu hỏi không đồng nghĩa với việc nhà văn không có quan điểm. Victor Hugo đứng về phía những con người bị định kiến và bất công làm tổn thương; Lê Minh Khuê trân trọng vẻ đẹp của thế hệ trẻ trong chiến tranh; Nguyễn Thi đề cao truyền thống gia đình và lòng yêu nước; Nguyễn Khoa Điềm khẳng định vai trò của nhân dân trong hành trình dựng xây đất nước. Người nghệ sĩ vẫn có thái độ riêng, nhưng quan điểm ấy được gửi vào hình tượng và số phận chứ không phải áp đặt bằng những mệnh lệnh khô cứng.
Cũng không nên cho rằng cứ đặt ra thật nhiều vấn đề thì tác phẩm sẽ tự nhiên trở nên sâu sắc. Một câu hỏi chỉ có sức nặng khi được sinh ra từ sự am hiểu đời sống, từ những trải nghiệm chân thành và được chuyển hóa thành hình tượng nghệ thuật có sức thuyết phục. Những nghịch lí cố tình tạo ra để gây khó hiểu hay những lời triết lí thiếu nền tảng của cảm xúc và số phận con người có thể khiến tác phẩm cầu kì nhưng không sâu. Chiều sâu không phải sự tối nghĩa; chiều sâu là khả năng khiến người đọc nhìn một vấn đề quen thuộc bằng một ánh sáng khác.
Nhận định của Mi-lan Ken-de-ra do đó đặt ra yêu cầu cao đối với người nghệ sĩ. Muốn đặt được câu hỏi đáng suy nghĩ, nhà văn phải sống sâu giữa cuộc đời, quan sát con người trong tính nhiều mặt của họ và không bằng lòng với những kết luận quá dễ dàng. Phía sau một khuôn mặt có thể là một tâm hồn chưa được thấu hiểu; phía sau một công việc bình thường có thể là lòng dũng cảm; phía sau một lựa chọn cá nhân có thể là trách nhiệm với cộng đồng. Nhiệm vụ của người viết là phát hiện những tầng sâu ấy và trao cho chúng một hình thức nghệ thuật đủ sức sống.
Nhưng tác phẩm chỉ hoàn tất hành trình khi gặp người đọc. Người đọc văn không nên chỉ chăm chú tìm một “đáp án chuẩn” rồi xem đó là ý nghĩa duy nhất. Đọc văn còn là đặt câu hỏi với tác phẩm, với nhân vật và với chính mình: vì sao nhân vật lại hành động như vậy, mình có đồng tình không, vấn đề ấy hôm nay còn ý nghĩa gì, nếu ở vào hoàn cảnh ấy mình sẽ lựa chọn thế nào? Muốn làm được điều đó, người đọc cần cả tri thức, vốn sống, khả năng đồng cảm và tư duy độc lập. Khi người đọc trưởng thành hơn, một tác phẩm cũ cũng có thể mở ra một ý nghĩa mới.
Với tôi, văn học đã gợi ra nhiều vấn đề tưởng xa mà rất gần: liệu ta có đủ kiên nhẫn để hiểu một con người trước khi phán xét họ; lòng dũng cảm bắt đầu ở đâu; sống cho bản thân và sống vì cộng đồng có thật sự đối lập; tình yêu đất nước trong một đời sống bình thường cần được biểu hiện như thế nào? Văn chương không luôn trả lời thay tôi. Nhưng chính điều đó làm nó trở nên có ý nghĩa, bởi mỗi câu hỏi buộc người đọc phải soi lại cách mình nhìn người, nhìn đời và nhìn chính mình.
Có lẽ một tác phẩm lớn không phải là tác phẩm nói lời cuối cùng về cuộc sống, mà là tác phẩm khiến cuộc đối thoại về cuộc sống còn tiếp tục. Nhận định của Mi-lan Ken-de-ra vì thế đã chạm tới sức sống sâu xa của văn chương: người viết khởi đầu bằng những câu hỏi chân thành trước con người và thời đại, người đọc tiếp nhận rồi tiếp tục những câu hỏi ấy bằng kinh nghiệm của riêng mình. Nhà thờ Đức Bà có thể đã im tiếng chuông của một thời xa xưa, chiến tranh trong Những ngôi sao xa xôi và Những đứa con trong gia đình đã lùi vào quá khứ, nhưng những vấn đề về lòng nhân ái, phẩm giá, trách nhiệm và cách con người thuộc về cộng đồng vẫn còn ở lại. Khi một câu hỏi của trang sách vẫn khiến con người hôm nay phải suy nghĩ, tác phẩm ấy vẫn đang sống.
Bài tham khảo Mẫu 5
Có những tác phẩm khiến ta nhớ vì một câu văn đẹp, một nhân vật đặc biệt hay một câu chuyện xúc động. Nhưng có những tác phẩm còn ở lại lâu hơn bởi sau khi đọc xong, người đọc vẫn chưa thể thôi suy nghĩ. Ta tự hỏi vì sao con người lại sống như thế, điều gì khiến họ chịu đựng, điều gì giúp họ đứng dậy, một lựa chọn có thật sự đúng hay không, và nếu đặt mình vào hoàn cảnh ấy, ta sẽ hành động thế nào. Chính những câu hỏi còn vang lại sau trang sách đã làm nên sức sống của văn chương. Bởi thế, Mi-lan Ken-de-ra từng khẳng định: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở khả năng đặt ra câu hỏi về mọi vấn đề trong xã hội. Chính người đọc sẽ tìm được vấn đề chính xác theo cách riêng của mình”. Ý kiến đã nhấn mạnh hai phía của hoạt động văn học: nhà văn có trách nhiệm khám phá và đặt ra những vấn đề có ý nghĩa, còn người đọc phải chủ động đối thoại với tác phẩm để tìm kiếm câu trả lời cho riêng mình.
Trước hết, “đặt ra nhiều câu hỏi” không có nghĩa nhà văn chỉ liên tiếp nêu những vấn đề trực tiếp trên trang giấy. Đó là cách người nghệ sĩ đi sâu vào đời sống, phát hiện những mâu thuẫn, những nghịch lí và những điều chưa dễ giải thích trong số phận con người. “Chiều sâu của tác phẩm” vì vậy không chỉ nằm ở câu trả lời mà còn ở khả năng khiến người đọc tiếp tục suy nghĩ. Khi Mi-lan Ken-de-ra cho rằng người đọc sẽ tìm được vấn đề “theo cách riêng của mình”, ông đề cao tính chủ động của tiếp nhận văn học. Mỗi người bước vào tác phẩm bằng một vốn sống, một hoàn cảnh và một hệ giá trị khác nhau, nên cùng một câu chuyện có thể mở ra những suy nghĩ không hoàn toàn giống nhau. Văn chương vì thế là một cuộc đối thoại: nhà văn mở vấn đề, người đọc tiếp tục hành trình khám phá.
Điều đó bắt nguồn từ chính đối tượng trung tâm của văn học là con người. Mà con người luôn phức tạp, nhiều chiều. Một hành động có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân; một lựa chọn có thể đúng ở phương diện này nhưng lại gây tổn thương ở phương diện khác. Nếu nhà văn chỉ đưa ra những kết luận đơn giản, chia mọi thứ thành đúng – sai, tốt – xấu một cách rạch ròi, tác phẩm dễ trở nên nghèo nàn. Văn chương chân chính cần tôn trọng sự phức tạp ấy và để người đọc tự tham gia vào quá trình nhận thức.
Nếu tác phẩm chỉ nói với người đọc rằng “hãy sống thế này”, “hãy nghĩ thế kia”, nó rất dễ trở thành lời giáo huấn. Sức mạnh của văn học nằm ở chỗ nó đặt ta trước một số phận để ta tự hỏi: nếu là mình, mình có thể làm gì? Chính những khoảng trống ấy khiến hoạt động đọc trở thành quá trình tự nhận thức. Một câu hỏi văn chương có thể sống rất lâu bởi mỗi thời đại, mỗi thế hệ lại quay trở lại với tác phẩm bằng những trải nghiệm mới.
Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một tác phẩm như vậy. Tác phẩm không có những biến cố dữ dội, chỉ là một buổi chiều rồi một đêm nơi phố huyện nghèo. Nhưng từ cuộc sống tưởng rất lặng lẽ ấy, nhà văn đặt ra một câu hỏi sâu xa: con người cần nhìn nhận và thấu hiểu những số phận nhỏ bé như thế nào trong một cuộc sống nhiều thiếu thốn và mỏi mòn?
Phố huyện hiện lên với những con người rất bình thường: chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối dọn hàng nước nhưng chẳng kiếm được bao nhiêu; bác Siêu với gánh phở xa xỉ đối với người nghèo; gia đình bác xẩm sống lay lắt; chị em Liên và An trông một cửa hàng nhỏ. Họ không phải những nhân vật làm nên sự kiện lớn. Cuộc đời họ gần như lặp lại, quẩn quanh trong bóng tối. Nhưng Thạch Lam không nhìn họ bằng sự thương hại từ xa. Ông quan sát họ bằng một tấm lòng dịu dàng, nhận ra ngay trong những kiếp sống nhỏ bé ấy vẫn có một niềm mong đợi.
Đoàn tàu đêm đi qua phố huyện là một chi tiết đặc biệt. Liên và An cố thức chờ tàu dù chỉ để nhìn thấy ánh sáng, nghe âm thanh của một thế giới khác. Đối với Liên, đoàn tàu còn gợi nhớ Hà Nội, gợi về một quãng đời sáng hơn. Khoảnh khắc ấy khiến người đọc tự hỏi: điều gì đang giữ những con người này ở lại với cuộc sống? Phải chăng ngay trong cảnh nghèo khó, con người vẫn cần một chút ánh sáng, một niềm hi vọng, dù mong manh? Hai đứa trẻ không đưa ra một lời kết luận trực tiếp, nhưng chính sự lặng lẽ ấy khiến người đọc phải nhìn những cuộc đời bình thường bằng nhiều cảm thông hơn.
Nếu Thạch Lam khiến ta suy nghĩ về cách nhìn những số phận nhỏ bé thì Vợ nhặt của Kim Lân lại đặt ra câu hỏi: điều gì làm nên giá trị và sức mạnh của con người trước nghịch cảnh? Tác phẩm được đặt trong nạn đói năm 1945, khi cái chết hiện diện khắp nơi. Trong hoàn cảnh ấy, tưởng như con người chỉ còn biết tìm cách tồn tại, nhưng Kim Lân lại phát hiện một điều khác: họ vẫn khao khát gia đình, tình thương và tương lai.
Tràng nghèo, xấu xí, là dân ngụ cư, vậy mà giữa ngày đói lại có vợ. Tình huống ấy vừa éo le vừa chứa đựng sức sống mãnh liệt. Người vợ nhặt theo Tràng về không chỉ vì đói mà sâu xa hơn là bởi vẫn muốn tìm một nơi nương tựa, một mái ấm. Tràng từ một người sống có phần vô tư bỗng thấy mình có trách nhiệm với gia đình. Bà cụ Tứ dù nghèo đến tận cùng vẫn cố gieo vào các con niềm hi vọng về ngày mai.
Từ đó, tác phẩm đặt ra một câu hỏi rất đẹp: khi mọi thứ gần như đã bị lấy đi, con người còn có thể giữ lại điều gì? Kim Lân dường như trả lời bằng tình thương và khát vọng sống. Nhưng ông không biến điều đó thành một bài học khô cứng. Chính những chi tiết đời thường – bữa cơm ngày đói, câu chuyện tương lai, sự thay đổi của Tràng và người vợ – khiến người đọc tự nhận ra sức mạnh của con người. Nghịch cảnh càng khắc nghiệt, những giá trị nhân bản càng trở nên sáng rõ.
Văn chương cũng không ngừng đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi gợi ra vấn đề: con người nên sống cho mình hay sống vì những người khác? Việt và Chiến đều còn rất trẻ, vẫn mang trong mình những nét hồn nhiên, trẻ con. Nhưng họ sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, đã chứng kiến những mất mát lớn và tự nguyện nối tiếp con đường của cha mẹ.
Cuốn sổ gia đình của chú Năm giống như một dòng chảy truyền thống. Mỗi người là một phần của dòng sông ấy. Việt và Chiến đi chiến đấu không có nghĩa họ từ bỏ cái tôi cá nhân. Ngược lại, chính tình cảm gia đình, nỗi nhớ cha mẹ, tình chị em và sự gắn bó với quê hương đã đưa họ đến với trách nhiệm lớn hơn. Từ đó, tác phẩm khiến ta nghĩ rằng “sống cho mình” và “sống vì người khác” không nhất thiết phải đối lập. Một con người có thể tìm thấy ý nghĩa của đời mình khi biết đặt cái tôi trong mối liên hệ với gia đình, cộng đồng và đất nước.
Những câu hỏi văn chương đặt ra còn không ngừng thay đổi theo người đọc và thời đại. Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là một ví dụ rõ nét. Qua nhân vật cô Hiền, tác phẩm trước hết đặt ra câu hỏi về cách gìn giữ bản sắc và phẩm giá giữa những biến động lịch sử. Cô Hiền là một người phụ nữ Hà Nội sắc sảo, thực tế, có cá tính rõ ràng. Bà biết tính toán, biết thích nghi, nhưng đồng thời rất có ý thức về nếp sống, danh dự và trách nhiệm.
Khi các con lên đường nhập ngũ, cô Hiền không ngăn cản, bởi bà hiểu đó là trách nhiệm của một công dân. Khi Hà Nội đổi thay, bà vẫn giữ những chuẩn mực mà mình coi trọng. Với người đọc ở thời điểm tác phẩm ra đời, cô Hiền có thể là biểu tượng cho “hạt bụi vàng” của văn hóa Hà Nội. Nhưng với người đọc hôm nay, nhân vật còn gợi ra những câu hỏi mới: giữa một đời sống thay đổi nhanh chóng, con người nên giữ lại điều gì? Làm thế nào để thích nghi mà không đánh mất bản sắc? Văn hóa của một thành phố nằm ở kiến trúc, phong tục hay trong cách con người ứng xử mỗi ngày?
Chính khả năng mở ra những câu hỏi mới khiến tác phẩm không bị đóng kín trong hoàn cảnh lịch sử của nó. Mỗi thời đại có thể đọc lại Một người Hà Nội theo một cách khác. Người trẻ hôm nay có thể quan tâm nhiều hơn đến chuyện bản sắc cá nhân, ứng xử văn minh, ý thức công dân hay cách truyền lại những giá trị văn hóa trong gia đình. Tác phẩm vì vậy tiếp tục sống qua những cuộc đối thoại mới.
Tuy nhiên, nói nhà văn đặt câu hỏi không có nghĩa nhà văn hoàn toàn không có quan điểm. Thạch Lam rõ ràng dành tình thương cho những con người nhỏ bé; Kim Lân tin vào sức sống và tình người; Nguyễn Thi đề cao sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng; Nguyễn Khải trân trọng bản lĩnh văn hóa của cô Hiền. Nhà văn vẫn có thái độ của mình, nhưng thái độ ấy được gửi vào nhân vật, tình huống và hình tượng nghệ thuật chứ không áp đặt thành một mệnh lệnh.
Cũng không phải cứ đặt ra thật nhiều câu hỏi thì tác phẩm sẽ có chiều sâu. Giá trị của văn chương không nằm ở số lượng vấn đề mà ở chất lượng khám phá. Một tác phẩm cố tình tạo ra thật nhiều nghịch lí, những lời triết lí tưởng như sâu sắc nhưng thiếu trải nghiệm chân thực và nhân vật sống động vẫn có thể trở nên cầu kì mà rỗng. Câu hỏi văn chương chỉ thật sự có sức nặng khi nó được sinh ra từ đời sống, từ sự quan sát sâu sắc và được chuyên chở bằng hình tượng nghệ thuật thuyết phục.
Nhận định của Mi-lan Ken-de-ra vì thế đặt ra yêu cầu cao đối với nhà văn. Người nghệ sĩ phải sống sâu với cuộc đời, không bằng lòng với những cách giải thích có sẵn. Một phố huyện nhỏ, một gia đình trong nạn đói, một câu chuyện chiến tranh hay một người phụ nữ Hà Nội đều có thể chứa đựng những vấn đề lớn về con người. Nhà văn phải đủ nhạy cảm để phát hiện điều đó và đủ tài năng để biến phát hiện thành nghệ thuật.
Ở phía người đọc, yêu cầu cũng không hề nhỏ. Đọc văn không nên chỉ là tìm một “đáp án chuẩn”. Người đọc cần biết hỏi lại tác phẩm: nhân vật vì sao hành động như vậy, mình có đồng tình không, vấn đề ấy còn ý nghĩa gì hôm nay, nếu ở trong hoàn cảnh ấy mình sẽ lựa chọn ra sao? Tri thức giúp ta hiểu, trải nghiệm giúp ta cảm, còn tư duy độc lập giúp ta tìm ra những tầng nghĩa mới. Vì thế, đọc một tác phẩm ở những độ tuổi khác nhau đôi khi giống như đọc những tác phẩm khác nhau, bởi chính người đọc đã thay đổi.
Với tôi, văn học đã gợi ra rất nhiều vấn đề về cuộc sống. Nó khiến tôi tự hỏi phải nhìn những số phận nhỏ bé như thế nào để bớt vô tâm; điều gì giúp con người giữ được niềm tin giữa nghịch cảnh; sống cho bản thân và sống vì cộng đồng nên được dung hòa ra sao; con người cần giữ gìn điều gì trong một thế giới luôn thay đổi. Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng có một câu trả lời duy nhất. Nhưng chính việc suy nghĩ về chúng khiến ta nhìn đời chậm hơn, hiểu người khác sâu hơn và hiểu chính mình rõ hơn.
Có lẽ một tác phẩm thật sự có chiều sâu không phải là tác phẩm nói lời cuối cùng về cuộc sống, mà là tác phẩm khiến cuộc đối thoại với cuộc sống còn tiếp tục. Ý kiến của Mi-lan Ken-de-ra vì thế đã chạm tới bản chất quan trọng của văn học: nhà văn đặt ra những câu hỏi có sức lay động, còn người đọc tiếp tục tìm câu trả lời bằng trải nghiệm riêng. Khi trang sách khép lại mà một câu hỏi vẫn còn vang trong tâm trí, văn chương chưa kết thúc. Nó chỉ vừa bắt đầu một đời sống khác – đời sống trong suy nghĩ của người đọc.
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” qua một bài thơ trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn 7 hay nhất
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định “Thơ ca dân gian là tiếng nói trái tim của ngươi dân lao động. Nó thể hiện sâu sắc những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta.” qua những câu ca dao, tục ngữ mà em đã được học và đọc thêm hay nhất
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định: “ Phần lớn nhà văn, nhà thơ nào khi sáng tác đều thể hiện cá tính sáng tạo, ra sức đi tìm cái mới, thể hiện cái không lặp lại bên cạnh cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống” ....
- Top 45 Bài văn nêu ý kiến về nhận định: “Một tác phẩm văn học hay, theo tôi quan niệm, lõi phải dày, vỏ phải mỏng; mọi vấn đề đặt ra trong đó phải thẳng căng, những tình cảm phải được đẩy đến mức tột cùng.” (Nguyễn Khải) và phân tích một tác phẩm ...
- Top 45 Bài văn nêu ý kiến về nhận định: “Đọc là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình là hành động trung tâm của việc đọc thơ” và làm sáng tỏ qua bài thơ Áo cũ của Lưu Quang Vũ hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn bàn luận về nhận định “Một trong những sứ mệnh của người nghệ sĩ là phát hiện cho được cái âm thanh kì diệu của cuộc sống rất đỗi bình thường” và làm sáng tỏ bằng một tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 8 hay nhất
- Top 45 Bài văn bàn luận về nhận định “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý” và làm sáng tỏ qua việc chứng minh bài hát Khát vọng của Phạm Minh Tuấn...
- Top 45 Bài văn bàn luận về nhận định “Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống. Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ ” ...
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích: "Ôm lòng đòi đoạn xa gần...Giấc hương quan luống lần mơ canh dài."(Truyện Kiều - Nguyễn Du) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích nhân vật Thầy Đuy - sen trong phần trích của tác phẩm “ Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai - tơ - ma - tốp. Trong bài viết có liên hệ với phẩm chất của một người thầy tiêu biểu mà em khâm phục nhất hay nhất




Danh sách bình luận