1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về lý luận văn học

Viết bài văn thể hiện cảm nghĩ về đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ Bảo kính cảnh giới - bài 28 (Nguyễn Trãi), đồng thời làm rõ đặc điểm thể loại của thơ Nôm Đường luật nói chung và thơ Nôm Nguyễn Trãi nói riêng trong văn bản


I. Mở bài - Dẫn dắt vấn đề nghị luận: + Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Bảo kính cảnh giới – bài 28 là một tác phẩm tiêu biểu: qua những hình ảnh gần gũi của cuộc sống, Nguyễn Trãi gửi gắm quan niệm nhân sinh, vẻ đẹp nhân cách; đồng thời cho thấy sự kết hợp độc đáo giữa khuôn thức Đường luật với xu hướng Việt hóa mạnh mẽ.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Dẫn dắt vấn đề nghị luận:

+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Bảo kính cảnh giới – bài 28 là một tác phẩm tiêu biểu: qua những hình ảnh gần gũi của cuộc sống, Nguyễn Trãi gửi gắm quan niệm nhân sinh, vẻ đẹp nhân cách; đồng thời cho thấy sự kết hợp độc đáo giữa khuôn thức Đường luật với xu hướng Việt hóa mạnh mẽ.

+ Bởi vậy, cảm nhận bài thơ cũng là hành trình nhận ra vẻ đẹp của một tâm hồn lớn và sức sáng tạo của Nguyễn Trãi trong quá trình kiến tạo diện mạo riêng cho thơ Nôm Đường luật Việt Nam.

II. Thân bài

1. Giá trị nội dung

a) Luận điểm 1: Bài thơ khắc họa một bức tranh ngày hè rực rỡ, sinh động, căng tràn sức sống

- Thiên nhiên hiện lên trong trạng thái sống mãnh liệt

+  “Rồi”: rảnh rỗi, nhàn rỗi.

+ “Ngày trường”: ngày dài.

+ Tư thế “hóng mát” gợi một con người đang tạm rời công việc để thả tâm hồn vào thiên nhiên.

→ Một khoảng thời gian tưởng như nhàn tản nhưng lại mở ra một thế giới đầy sức sống.

+ Hình ảnh “hoè lục” với: “đùn đùn”; “tán rợp trương”: Không phải một cây hòe tĩnh tại mà là sự sống đang sinh sôi, dâng lên mạnh mẽ. “Đùn đùn” đặc biệt giàu giá trị tạo hình: Các lớp lá như liên tục trào lên; màu xanh như không ngừng mở rộng; thiên nhiên mang sức sống nội tại mạnh mẽ.

- Sự sống tiếp tục bừng nở trong màu sắc và hương thơm

+ Bức tranh có sự phối hợp của màu xanh của hòe, màu đỏ của hoa lựu, sắc hồng của sen, hương sen lan tỏa.

→ Thiên nhiên được cảm nhận bằng nhiều giác quan.

+ Động từ “phun” đặc biệt ấn tượng: sắc đỏ dường như không nằm yên trên cánh hoa mà bật ra, trào ra tạo cảm giác mạnh mẽ, nóng bỏng, đầy sinh lực.

+ Các từ “đùn đùn”, “phun” cùng hướng tới việc diễn tả thiên nhiên từ bên trong. Cảnh vật không tĩnh tại mà sinh sôi – vận động – căng đầy sức sống.

- Bức tranh ngày hè không chỉ có thiên nhiên mà còn có sự sống của con người

+ “Lao xao” gợi âm thanh của chợ cá, cảnh mua bán, trao đổi, cuộc sống đông vui, nhộn nhịp.

→ Con người không xuất hiện trực tiếp nhưng hiện diện qua âm thanh của đời sống.

+ “Dắng dỏi” là âm thanh tiếng ve cao, vang được liên tưởng với tiếng “cầm”.

→ Tiếng ve của thiên nhiên trở thành một bản nhạc mùa hè.

=> Bức tranh có sự kết hợp giữa màu sắc, hương thơm, âm thanh, ánh sáng, đường nét, sự vận động tạo ra một ngày hè không tàn úa, mỏi mệt mà rực rỡ, khỏe khoắn, náo nức và tràn đầy sinh khí. Nguyễn Trãi không nhìn thiên nhiên như một người đứng ngoài quan sát, ông cảm nhận cảnh vật bằng một tâm hồn rộng mở, tinh tế, nhạy cảm trước mọi biểu hiện của sự sống.

→ Thiên nhiên càng giàu sức sống càng cho thấy một tâm hồn Nguyễn Trãi tha thiết với sự sống.

b) Luận điểm 2: Đằng sau tình yêu thiên nhiên là tình yêu cuộc sống và tấm lòng tha thiết với nhân dân, đất nước

- Nguyễn Trãi không chỉ hướng đến thiên nhiên mà còn hướng về cuộc sống con người:

+ Giữa bức tranh ngày hè, hình ảnh đáng chú ý là nhưng âm thanh rất đời thường.

+ “Chợ” là nơi biểu hiện trực tiếp đời sống dân sinh “lao xao” vì thế không đơn thuần là một âm thanh mà còn gợi một cuộc sống ấm no, đông vui, yên bình.

- Từ cảnh đời hiện tại, Nguyễn Trãi hướng đến một ước vọng lớn

+ “Ngu cầm” gắn với điển tích vua Nghiêu, vua Thuấn và khúc đàn Nam phong biểu tượng cho thời đại thái bình, nhân dân no đủ.

+ “Lẽ có” có thể hiểu là ước gì có được cây đàn của vua Thuấn để gảy lên khúc nhạc thái bình.

→ Ước muốn của Nguyễn Trãi không hướng về bản thân. Đằng sau tâm hồn nghệ sĩ là trái tim của một con người suốt đời mang nặng nỗi niềm dân nước. Điều đó thống nhất với tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt sự nghiệp Nguyễn Trãi: lấy cuộc sống bình yên, no đủ của nhân dân làm thước đo cho một xã hội tốt đẹp.

2. Giá trị nghệ thuật

a) Luận điểm 1: Nghệ thuật xây dựng bức tranh thiên nhiên giàu sức sống

- Nguyễn Trãi sử dụng một hệ thống hình ảnh giàu màu sắc: hòe lục, thạch lựu đỏ, hồng liên, tịch dương → Màu sắc vừa rực rỡ vừa hài hòa.

- Cảnh vật được cảm nhận bằng nhiều giác quan:

+ Thị giác: xanh, đỏ, hồng;

+ Khứu giác: hương sen;

+ Thính giác: tiếng chợ cá, tiếng ve.

→ Bức tranh có tính lập thể, giàu sức gợi.

b) Luận điểm 2: Hệ thống động từ mạnh làm thiên nhiên hiện lên trong trạng thái vận động

- “Đùn đùn”: sức sống từ bên trong đang liên tục dâng lên.

- “Phun”: màu đỏ như bật ra khỏi cành lựu.

→ Nguyễn Trãi không miêu tả thiên nhiên như một bức tranh tĩnh mà phát hiện dòng sinh lực đang chuyển động bên trong cảnh vật.

→ Đây là nét đặc sắc trong cái nhìn thiên nhiên của Nguyễn Trãi: thiên nhiên là một thế giới sống.

c) Luận điểm 3: Nghệ thuật lấy âm thanh để làm nổi bật nhịp sống

- Hai từ láy giàu giá trị biểu cảm:

+ “lao xao”: âm thanh của cuộc sống con người;

+ “dắng dỏi”: âm thanh cao, vang của thiên nhiên.

→ Bức tranh mùa hè không chỉ có “sắc” mà còn có “thanh”.

Đặc biệt, tiếng “lao xao” của chợ cá cho thấy nhà thơ không chỉ tìm cái đẹp nơi thiên nhiên thanh cao mà còn tìm thấy vẻ đẹp ngay trong nhịp sống bình dị của nhân dân.

3. Đánh giá đặc điểm thơ Nôm Đường luật nói chung và thơ Nôm Nguyễn Trãi nói riêng qua Bảo kính cảnh giới – bài 28

- Nếu thơ Nôm Đường luật nói chung là sản phẩm của quá trình tiếp thu và dân tộc hóa thể thơ Đường, thì thơ Nguyễn Trãi là một bước tiến quan trọng của quá trình ấy. Có thể khái quát đặc điểm thơ Nôm Nguyễn Trãi qua bốn phương diện:

+ “Đường luật” nhưng không hoàn toàn lệ thuộc Đường luật: Tiếp nhận khuôn thức nhưng chủ động biến đổi. Quy phạm và phá cách cùng tồn tại.

+ “bác học” nhưng rất gần đời sống. Những vấn đề về đạo lí, nhân cách, thế sự được diễn đạt qua ngôn ngữ và hình ảnh gần gũi.

+ Nói những vấn đề lớn bằng tiếng nói dân tộc. Nguyễn Trãi chứng minh tiếng Việt hoàn toàn có khả năng biểu đạt tư tưởng, chuyên chở triết lí, diễn tả những rung động tinh tế.

+ Trong cái chung của thể loại luôn có dấu ấn cá nhân Nguyễn Trãi - một con người từng trải mà không lạnh lùng, tỉnh táo mà vẫn thiết tha với đời; hướng tới đạo lí nhưng không xa rời cuộc sống; mang tư tưởng của nhà nho nhưng có tâm hồn rất gần với nhân dân.

→ Vì thế, thơ Nôm Nguyễn Trãi vừa mang ý nghĩa văn chương vừa mang ý nghĩa lịch sử: góp phần khẳng định vị thế của tiếng Việt và thúc đẩy tiến trình dân tộc hóa văn học trung đại.

4. Mở rộng, nâng cao

a. Mối quan hệ giữa thể loại và sáng tạo cá nhân

- Một tác phẩm lớn không nhất thiết phải đoạn tuyệt với truyền thống.

- Nguyễn Trãi tiếp nhận thể thơ Đường luật nhưng không sao chép nguyên trạng.

→ Đây chính là quy luật sáng tạo của văn học: truyền thống cung cấp điểm tựa, tài năng nghệ sĩ tạo nên bước đi mới.

b. Ý nghĩa của việc Nguyễn Trãi sáng tác bằng chữ Nôm

- Trong bối cảnh văn học chữ Hán giữ địa vị quan trọng, lựa chọn chữ Nôm cho thấy khả năng và ý thức khai thác tiếng nói dân tộc.

- Quốc âm thi tập góp phần chứng minh tiếng Việt có thể bước vào văn chương bác học, có khả năng diễn đạt những suy tưởng sâu sắc. Bản sắc dân tộc có thể được kiến tạo ngay trong một hình thức nghệ thuật có nguồn gốc ngoại lai.

→ Đóng góp của Nguyễn Trãi không chỉ nằm ở những bài thơ hay mà còn ở việc mở rộng biên độ biểu đạt cho tiếng Việt trong văn học viết.

III. Kết bài

- Bảo kính cảnh giới – bài 28 là sự kết hợp hài hòa giữa chiều sâu tư tưởng và sức sáng tạo nghệ thuật. Qua những suy nghiệm về cuộc đời, bài thơ làm hiện lên một Nguyễn Trãi từng trải, tỉnh táo, luôn hướng tới việc giữ gìn nhân cách và những giá trị bền vững của con người.

- Đồng thời, tác phẩm cho thấy diện mạo đặc sắc của thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi: tiếp thu mà không lệ thuộc, tuân thủ mà biết phá cách, bác học mà gần gũi, mang khuôn thức Đường thi mà thấm đẫm tiếng nói và tâm hồn Việt.

- Bởi vậy, giá trị của bài thơ không chỉ nằm trong những lời “bảo kính cảnh giới” dành cho một con người cách chúng ta nhiều thế kỉ. Qua đó, ta còn thấy một Nguyễn Trãi đang âm thầm làm một công việc có ý nghĩa lâu dài đối với văn chương dân tộc: đưa tiếng Việt bước vào thơ ca bác học và khiến một thể thơ ngoại nhập dần mang nhịp điệu, lời ăn tiếng nói và tâm hồn của người Việt.

Bài siêu ngắn Mẫu

Trong dòng chảy văn học trung đại, Nguyễn Trãi không chỉ hiện lên như một bậc anh hùng, một nhà tư tưởng lớn mà còn là một thi nhân có tâm hồn tinh tế, luôn tha thiết với thiên nhiên và cuộc sống con người. Bài thơ Bảo kính cảnh giới là minh chứng tiêu biểu cho vẻ đẹp ấy, đồng thời cho thấy những sáng tạo đặc sắc của ông trong quá trình Việt hóa thơ Đường luật.

Trước hết, bài thơ mở ra một bức tranh ngày hè rực rỡ, sinh động và căng tràn sức sống. Từ tư thế “Rồi hóng mát thuở ngày trường”, nhà thơ thả lòng mình vào thiên nhiên. Cây hòe hiện lên với sắc xanh “đùn đùn”, tán lá “rợp trương”, gợi cảm giác sức sống đang liên tục dâng trào. Hoa lựu không chỉ đỏ mà còn “phun thức đỏ”, khiến màu sắc như bật ra mạnh mẽ, nóng bỏng. Sen hồng lại lan tỏa hương thơm dịu mát. Bức tranh vì thế có đủ sắc, hương, ánh sáng và chuyển động. Đặc biệt, thiên nhiên không tĩnh lặng mà hòa cùng nhịp sống con người qua tiếng “lao xao” của chợ cá, tiếng ve “dắng dỏi” như một khúc đàn mùa hạ. Qua đó, Nguyễn Trãi cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, rộng mở và tha thiết với sự sống.

Nhưng đằng sau tình yêu thiên nhiên còn là tấm lòng sâu nặng với nhân dân, đất nước. Âm thanh chợ cá không chỉ gợi cảnh sinh hoạt đời thường mà còn gợi một cuộc sống ấm no, yên bình. Từ đó, nhà thơ hướng đến ước vọng lớn lao: “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Điển tích “Ngu cầm” gắn với thời thái bình thịnh trị, qua đó bộc lộ mong muốn nhân dân khắp nơi được no đủ. Giữa lúc tưởng như nhàn tản, Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nỗi niềm dân nước.

Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật ở khả năng dựng cảnh giàu sức sống bằng hệ thống động từ mạnh như “đùn đùn”, “phun”, cùng những từ láy giàu âm hưởng như “lao xao”, “dắng dỏi”. Thể thơ Đường luật được tiếp nhận nhưng không hoàn toàn rập khuôn. Nguyễn Trãi chủ động sử dụng ngôn ngữ Nôm, hình ảnh đời thường, cách nói tự nhiên, kết hợp chất bác học với chất dân gian. Chính điều đó tạo nên một diện mạo thơ vừa cổ điển vừa đậm đà bản sắc Việt.

Qua bài thơ, có thể thấy thơ Nôm Đường luật nói chung là kết quả của quá trình tiếp thu và dân tộc hóa thể thơ Đường, còn thơ Nôm Nguyễn Trãi đánh dấu một bước phát triển quan trọng của quá trình ấy. Ông không chỉ làm thơ bằng tiếng Việt mà còn chứng minh tiếng Việt đủ sức diễn đạt tư tưởng lớn, cảm xúc sâu và những rung động tinh tế. Truyền thống cung cấp khuôn mẫu, nhưng chính tài năng nghệ sĩ mới làm nên sức sống mới cho thể loại.

Bảo kính cảnh giới vì thế không chỉ đẹp ở bức tranh ngày hè đầy sinh khí mà còn sáng lên bởi một tấm lòng luôn hướng về dân, về nước. Qua tác phẩm, Nguyễn Trãi đồng thời khẳng định vị thế của tiếng Việt và góp phần mở rộng con đường phát triển của thơ ca dân tộc.

Bài tham khảo Mẫu 1

Trong văn học trung đại, Nguyễn Trãi là một gương mặt đặc biệt: một con người từng đi qua những biến động lớn của lịch sử nhưng vẫn giữ được một tâm hồn luôn hướng về thiên nhiên, cuộc sống và nhân dân. Với Quốc âm thi tập, ông còn góp phần quan trọng trong việc đưa tiếng Việt vào văn chương bác học. Bài thơ Bảo kính cảnh giới là một minh chứng tiêu biểu. Qua tám câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Trãi vừa dựng nên bức tranh ngày hè giàu sức sống, vừa bộc lộ tấm lòng ưu dân ái quốc, đồng thời cho thấy khả năng sáng tạo độc đáo trên nền thể thơ Đường luật.

Mở đầu bài thơ là tư thế “Rồi hóng mát thuở ngày trường”. “Rồi” nghĩa là rảnh rỗi, “ngày trường” là ngày dài. Tưởng như đó chỉ là một khoảnh khắc nhàn tản, nhưng chính trong khoảng lặng ấy, tâm hồn Nguyễn Trãi lại mở ra trước một thế giới đầy sinh khí. Trước mắt ông, cây hòe hiện lên với sắc xanh “đùn đùn”, tán lá “rợp trương”. Từ “đùn đùn” đặc biệt giàu sức gợi, khiến người đọc cảm nhận được những lớp lá đang liên tiếp sinh sôi, màu xanh như trào lên không ngừng. Thiên nhiên không đứng yên mà đang vận động từ bên trong.

Sức sống ấy tiếp tục bừng nở ở sắc đỏ của hoa lựu và hương sen trong ao. Câu thơ “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” gây ấn tượng bởi động từ “phun”. Sắc đỏ không chỉ hiện ra trên cánh hoa mà dường như bật ra, trào ra, nóng bỏng và mạnh mẽ. Bên cạnh đó là “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, đem đến một lớp cảm nhận khác bằng khứu giác. Chỉ trong vài câu thơ, Nguyễn Trãi đã phối hợp màu xanh của hòe, màu đỏ của lựu, sắc hồng của sen cùng hương thơm dìu dịu để tạo nên một bức tranh ngày hè rực rỡ mà không hề gay gắt, phong phú mà vẫn hài hòa.

Đáng chú ý, bức tranh ấy không chỉ có cây cỏ mà còn có nhịp sống con người. “Lao xao chợ cá làng ngư phủ” gợi lên tiếng mua bán, trò chuyện, trao đổi của một cộng đồng đang sống trong sự yên ổn, đông vui. Con người không xuất hiện trực tiếp, nhưng âm thanh của họ khiến cảnh vật bỗng có hơi ấm. Cùng với đó, tiếng ve “dắng dỏi” được ví như tiếng đàn, khiến thiên nhiên cũng cất lên một bản nhạc riêng. Có thể nói, Nguyễn Trãi cảm nhận ngày hè bằng nhiều giác quan: nhìn màu sắc, ngửi hương thơm, nghe tiếng chợ, nghe tiếng ve. Vì thế, thiên nhiên trong thơ ông không phải bức tranh trang trí mà là một thế giới đang sống, đang chuyển động và đang đối thoại với tâm hồn thi nhân.

Từ đó, ta nhận ra một Nguyễn Trãi rất tha thiết với sự sống. Nhưng tình yêu thiên nhiên ở ông không dừng lại ở việc thưởng ngoạn. Giữa bức tranh ngày hè, âm thanh “chợ cá” mang một ý nghĩa quan trọng. Chợ là nơi biểu hiện trực tiếp của đời sống dân sinh; “lao xao” vì vậy không chỉ gợi náo nhiệt mà còn gợi cảm giác no đủ, yên bình. Và từ hiện thực ấy, tâm hồn Nguyễn Trãi hướng tới một ước vọng lớn hơn: “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Điển tích “Ngu cầm” gắn với vua Thuấn và khúc Nam phong, biểu tượng cho thời thái bình thịnh trị. Nguyễn Trãi ước có cây đàn ấy để cất lên khúc nhạc của một xã hội yên vui, nơi nhân dân được “giàu đủ khắp đòi phương”. Điều đáng nói là mong ước cuối cùng của bài thơ không dành cho riêng ông. Sau tất cả cảnh sắc đẹp đẽ, điều còn lại trong tâm trí thi nhân vẫn là đời sống của dân. Chính ở đây, vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi hiện lên rõ nhất: có thể lui về với thiên nhiên nhưng chưa bao giờ quay lưng với cuộc đời; có thể sống trong phút nhàn nhưng lòng vẫn không nguôi nỗi dân nước. Đó cũng là sự tiếp nối nhất quán của tư tưởng nhân nghĩa trong toàn bộ sự nghiệp Nguyễn Trãi: một xã hội tốt đẹp trước hết phải là nơi nhân dân được sống yên ổn, đủ đầy.

Giá trị nội dung ấy được nâng đỡ bởi nhiều phương diện nghệ thuật đặc sắc. Trước hết là nghệ thuật xây dựng bức tranh thiên nhiên giàu sức sống. Hình ảnh được chọn lọc vừa có màu sắc vừa có hương vị, vừa có độ mở về không gian. Đặc biệt, hệ thống động từ như “đùn đùn”, “phun” khiến cảnh vật luôn trong trạng thái vận động. Thiên nhiên không phải cái đã hoàn tất mà là sự sống đang tiếp tục sinh thành. Bên cạnh đó, nghệ thuật sử dụng âm thanh “lao xao”, “dắng dỏi” làm bức tranh có chiều sâu, khiến người đọc không chỉ nhìn thấy ngày hè mà còn nghe được nhịp sống của ngày hè ấy.

Từ bài thơ, có thể thấy khá rõ đặc điểm của thơ Nôm Đường luật nói chung và thơ Nôm Nguyễn Trãi nói riêng. Về cơ bản, Nguyễn Trãi vẫn tiếp nhận khuôn thức thơ Đường luật với kết cấu chặt chẽ, tính hàm súc, phép đối và cách tổ chức hình ảnh cân xứng. Tuy nhiên, ông không để mình bị trói buộc hoàn toàn bởi quy phạm. Thơ Nôm Nguyễn Trãi vừa giữ nền tảng Đường luật vừa chủ động biến đổi, tạo nên sự song hành giữa khuôn phép và phá cách.

Đặc biệt, thơ ông mang chất bác học nhưng không xa đời sống. Điển tích “Ngu cầm” cùng tồn tại bên “chợ cá”, “làng ngư phủ”, tiếng ve và những từ thuần Việt rất tự nhiên. Chính sự kết hợp ấy làm nên một giọng thơ riêng: vừa có chiều sâu tư tưởng của một nhà nho, vừa gần gũi với hơi thở đời thường. Qua chữ Nôm, Nguyễn Trãi chứng minh rằng tiếng Việt hoàn toàn có khả năng biểu đạt những suy tưởng lớn, những rung động tinh tế và những vấn đề có chiều sâu triết lí.

Điều này cũng gợi ra một quy luật quan trọng của sáng tạo văn học. Một tác phẩm lớn không nhất thiết phải phủ định truyền thống. Truyền thống có thể là điểm tựa, còn tài năng nghệ sĩ quyết định cách biến đổi nó. Nguyễn Trãi tiếp nhận thể thơ có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng bằng chữ Nôm, bằng hình ảnh Việt, bằng cách cảm Việt, ông đã khiến khuôn thức ấy mang một đời sống mới. Trong bối cảnh chữ Hán còn giữ vị trí quan trọng, việc sáng tác bằng chữ Nôm vì thế không chỉ có ý nghĩa nghệ thuật mà còn có ý nghĩa lịch sử: góp phần nâng vị thế của tiếng Việt và mở rộng khả năng biểu đạt của văn học dân tộc.

Bảo kính cảnh giới vì thế không chỉ hấp dẫn ở bức tranh ngày hè rực rỡ, căng đầy sinh khí mà còn ở hình ảnh một Nguyễn Trãi có tâm hồn tinh tế, yêu cuộc sống và luôn hướng về nhân dân. Qua bài thơ, ta cũng thấy rõ sức sáng tạo của ông trong việc tiếp nhận mà không lệ thuộc, kế thừa mà vẫn đổi mới. Chính sự kết hợp giữa tư tưởng nhân nghĩa, tâm hồn nghệ sĩ và bản lĩnh dân tộc hóa thể thơ đã làm nên giá trị lâu bền của tác phẩm cũng như vị trí đặc biệt của Nguyễn Trãi trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

Bài tham khảo Mẫu 2

Trong thi ca xưa, một cảnh đẹp hiếm khi chỉ dừng lại ở chuyện cỏ cây. Người có tâm gửi tâm vào cảnh, người mang nỗi đời nhìn đâu cũng thấy bóng dáng nhân sinh. Bởi vậy, sau một nhành hoa, một tiếng ve, một phiên chợ chiều đôi khi là cả một tấm lòng chưa từng thôi nghĩ đến thế cuộc. Nguyễn Trãi là người như thế. Trải bao phen đem tài trí phò đời, khi lui về cùng cỏ cây, ông vẫn chẳng thể ngoảnh mặt với dân sinh. Bảo kính cảnh giới trong Quốc âm thi tập là một khúc thơ đẹp về ngày hè, nhưng sâu hơn sắc hòe, màu lựu, hương sen còn là một tâm hồn yêu đời, thương dân; đồng thời, tác phẩm cũng lưu dấu tài năng của Nguyễn Trãi trong việc biến thể thơ Đường luật thành tiếng nói mang cốt cách Việt Nam.

Câu thơ mở đầu đưa người đọc đến một phút thư nhàn hiếm hoi:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

“Rồi” là rảnh rang, “ngày trường” là ngày dài. Sau bao phen vướng bận thế sự, thi nhân dường như đang tạm gác mọi ưu tư để tìm về với thiên nhiên. Song đó không phải cái nhàn lạnh lẽo của một người đã quay lưng với cuộc thế. Trái lại, tâm hồn vừa thảnh thơi thì muôn vẻ của sự sống lập tức ùa vào:

“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.”

Chỉ hai chữ “đùn đùn”, cây hòe đã không còn là một vật thể đứng yên. Từng tầng lá như nối nhau trỗi dậy, màu xanh chồng lên màu xanh, sức sống từ bên trong cứ thế trào ra, phủ rộng cả không gian. Cách dùng từ khỏe khoắn ấy khiến cảnh ngày hè hiện lên không êm đềm, tĩnh tại theo lối ước lệ quen thuộc mà căng đầy một nguồn sinh lực.

Sắc xanh của hòe chưa kịp lắng thì sắc đỏ của lựu đã bừng lên:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tịn mùi hương.”

Một chữ “phun” khiến hoa lựu như mang lửa. Sắc đỏ không nằm yên trên cánh hoa mà bật ra, trào ra giữa nắng hè. Cạnh cái nồng nàn ấy là hương sen từ ao nước đưa tới, tạo nên một nét thanh dịu. Màu xanh của hòe, đỏ của lựu, hồng của sen cùng hương thơm hòa quyện khiến cảnh vật có tầng, có sắc, có hương. Nguyễn Trãi không ngắm thiên nhiên bằng một giác quan đơn độc; ông đón nhận tạo vật bằng cả một tâm hồn đang rộng mở. Vì thế, cảnh không chỉ có hình mà dường như có cả mạch sống âm thầm vận chuyển bên trong.

Cái tài của thi nhân còn ở chỗ không để bức tranh ngày hè chỉ có hoa lá. Từ khu vườn, tâm hồn ông hướng ra xa hơn, đến nơi có cuộc sống con người:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”

“Lao xao” là tiếng người mua bán nơi chợ cá, là thanh âm rất đỗi đời thường của một làng chài. Không cần một bóng người cụ thể, chỉ tiếng chợ thôi cũng đủ gọi dậy cảnh dân sinh đông vui. Còn “dắng dỏi” là tiếng ve cao và vang, được thi nhân nghe thành tiếng “cầm” giữa buổi chiều. Một bên là tiếng của nhân gian, một bên là thanh âm của tạo vật; cả hai cùng hòa thành nhạc khúc mùa hè. Nếu bốn câu trước chủ yếu làm người đọc thấy màu, ngửi hương thì đến đây, bức tranh lại ngân lên bằng âm thanh. Cảnh ngày hè bởi vậy hiện ra toàn vẹn: có sắc, có hương, có thanh, có động, có thiên nhiên và có hơi ấm con người.

Nhưng điều làm nên chiều sâu của bài thơ không chỉ là một cảnh hè đẹp. Từ tiếng chợ cá, Nguyễn Trãi đã đi rất tự nhiên từ thiên nhiên đến dân sinh. Chợ đông vui nghĩa là cuộc sống đang vận động; tiếng mua bán lao xao còn có thể gợi một cảnh đời yên ổn, sung túc. Chính từ niềm vui nhỏ bé ấy, lòng thi nhân bỗng hướng đến một ước vọng lớn lao:

“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

Điển “Ngu cầm” gợi chuyện vua Thuấn gảy khúc Nam phong, biểu tượng cho thời thái bình, thịnh trị. Nguyễn Trãi ước có cây đàn ấy để cất lên một tiếng, nhưng tiếng đàn ông mong đợi rốt cuộc không phải để tiêu khiển cho riêng mình. Đích đến của mọi ước nguyện nằm trong sáu chữ: “Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Câu thơ cuối ngắn mà nặng. Không phải “ta” được nhàn, cũng chẳng phải bản thân được phú quý, mà là “dân” được “giàu đủ”; không phải dân một xứ mà là “khắp đòi phương”. Cái tôi của thi nhân đã lùi lại phía sau để nhường chỗ cho muôn dân. Bởi thế, chữ “rồi” ở đầu bài càng đọc càng thấy có ý vị: thân có thể đang nhàn, nhưng lòng nào đã nhàn. Nguyễn Trãi có thể rời chốn quan trường nhưng chưa bao giờ rời khỏi nỗi lo về cuộc sống nhân dân. Tình yêu thiên nhiên cuối cùng vẫn trở về với tình yêu con người; thú nhàn cuối cùng vẫn quy tụ vào nỗi niềm dân nước. Đó chính là mạch nhân nghĩa nhất quán trong con người Nguyễn Trãi: thái bình chỉ thật sự có nghĩa khi dân chúng được sống yên vui, no đủ.

Vẻ đẹp ấy được nâng đỡ bởi một nghệ thuật giàu bản sắc. Trước hết, Nguyễn Trãi dựng cảnh bằng những nét bút có sức tạo hình mạnh. “Đùn đùn”, “phun” khiến thiên nhiên vận động; “lao xao”, “dắng dỏi” khiến cảnh vật có thanh âm. Nhà thơ còn huy động nhiều giác quan để cảm nhận mùa hè, nhờ đó cảnh thơ không phẳng mà có chiều sâu, không tĩnh mà đầy sinh khí. Đáng nói hơn, cảnh và tình không chia lìa: càng thấy thiên nhiên tươi tốt, càng nghe cuộc đời náo nức, ta càng nhận rõ một tâm hồn thiết tha với sự sống.

Qua tác phẩm, diện mạo của thơ Nôm Đường luật cũng hiện lên khá rõ. Nguyễn Trãi tiếp nhận khuôn thức Đường thi với sự cô đọng, phép đối và cách tổ chức câu chữ chặt chẽ, nhưng không biến mình thành người sao chép cổ nhân. Trong cái khuôn của Đường luật đã có những biến đổi linh hoạt, tiêu biểu là sự xen kẽ câu sáu chữ với câu bảy chữ. Câu đầu “Rồi hóng mát thuở ngày trường” và đặc biệt câu kết “Dân giàu đủ khắp đòi phương” tạo nên nhịp thơ tự nhiên, khỏe khoắn, khiến lời thơ gần với tiếng Việt hơn. Khuôn phép vẫn còn đó, nhưng bên trong khuôn phép đã có một nhịp điệu riêng của dân tộc.

Sự hòa hợp giữa bác học và bình dị cũng là nét đáng quý. “Ngu cầm” mang vẻ cổ kính của điển tích, trong khi “chợ cá”, “lao xao”, “đùn đùn” lại mang hơi thở đời thường. Nguyễn Trãi đưa tiếng nói dân tộc, cảnh sắc dân tộc và cuộc sống dân gian vào một thể thơ vốn có nguồn gốc ngoại lai. Nhờ vậy, thơ ông vừa có phong vị trang nhã của văn chương nhà nho, vừa giữ được cái mộc mạc, sinh động của đời sống Việt. Có thể nói, Nguyễn Trãi không phá bỏ truyền thống để tìm cái mới; ông đứng trên truyền thống rồi khiến truyền thống sinh thành một dáng vẻ khác. Đó cũng là quy luật của sáng tạo chân chính: khuôn mẫu chỉ là nơi khởi đầu, tài năng mới quyết định nghệ thuật có thể đi xa đến đâu.

Đặc biệt, việc lựa chọn chữ Nôm trong Quốc âm thi tập mang một ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một tập thơ. Giữa thời đại chữ Hán còn giữ vị trí quan trọng trong văn chương bác học, Nguyễn Trãi đã cho thấy tiếng Việt có thể nói chuyện cỏ cây mà cũng có thể luận chuyện nhân sinh; có thể diễn tả tiếng chợ dân gian mà cũng có thể chuyên chở một lí tưởng trị quốc, an dân. Ông không chỉ để lại những câu thơ đẹp mà còn góp phần mở rộng cõi bờ nghệ thuật cho tiếng mẹ đẻ, thúc đẩy quá trình dân tộc hóa văn học trung đại.

Khép lại Bảo kính cảnh giới, dư âm còn lại không chỉ là màu hòe xanh, sắc lựu đỏ hay tiếng ve trong buổi tịch dương. Đọng lại sâu hơn là một Nguyễn Trãi giữa phút nhàn vẫn canh cánh chuyện muôn dân, giữa cảnh đẹp vẫn hướng lòng về một cõi thái bình. Bằng việc dung hòa khuôn phép Đường thi với tiếng Việt, chất bác học với đời thường, truyền thống với sáng tạo, ông đã khiến bài thơ vừa mang phong vị cổ kính vừa có sức sống riêng của tâm hồn dân tộc. Và có lẽ, câu “Dân giàu đủ khắp đòi phương” chính là nơi cảnh, tình, tài và tâm Nguyễn Trãi cùng gặp nhau: một câu thơ ngắn mà đủ soi sáng cả nhân cách của một bậc đại nhân, đại trí, đại văn trong lịch sử nước nhà.

Bài tham khảo Mẫu 3

Có những buổi chiều, thiên nhiên dường như không còn đứng ngoài con người mà bước rất khẽ vào tâm tưởng: một vòm cây xanh cũng đủ làm lòng người dịu lại, một đóa hoa đỏ cũng có thể thắp sáng cả khoảng trời, một tiếng ve xa bỗng ngân thành tiếng đàn của mùa hạ. Với Nguyễn Trãi, sự giao cảm ấy càng trở nên sâu sắc bởi sau đôi mắt của một thi nhân yêu cái đẹp luôn là trái tim của một con người chưa phút nào thôi nghĩ về cuộc đời. Bảo kính cảnh giới trong Quốc âm thi tập là một bài thơ như thế. Từ một ngày hè rực rỡ sắc màu, ngan ngát hương sen và xôn xao tiếng sống, Nguyễn Trãi đã để tâm hồn mình đi từ thiên nhiên đến nhân thế, từ niềm vui trước tạo vật đến khát vọng thái bình cho muôn dân. Qua đó, tác phẩm còn cho thấy một bước đi đẹp đẽ của thơ Nôm Đường luật trên hành trình tìm về tiếng nói riêng của dân tộc.

Bài thơ bắt đầu bằng một khoảnh khắc tưởng như hoàn toàn thanh thản:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Chữ “rồi” gợi phút rảnh rang, còn “ngày trường” gợi một ngày dài như đang chậm lại. Sau bao phen gánh vác việc đời, con người ấy giờ đây có thể ngồi hóng mát, để lòng mình thảnh thơi cùng cây cỏ. Nhưng điều thú vị là phút nhàn không làm thế giới trở nên vắng lặng. Trái lại, khi tâm hồn thi nhân mở ra, sự sống cũng lập tức ùa vào thơ:

“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.”

Cây hòe không chỉ có màu xanh. Qua hai chữ “đùn đùn”, sắc xanh ấy dường như đang sinh sôi, từng tầng lá nối tiếp nhau dâng lên, mở rộng, phủ đầy không gian. “Tán rợp trương” lại khiến vòm hòe như căng ra giữa trời hè. Nguyễn Trãi không nhìn thấy một cái cây đã đứng yên trong hình dáng của nó; ông nhìn thấy sức sống đang vận động bên trong cái cây ấy. Bởi vậy, thiên nhiên trong thơ mang một vẻ khỏe khoắn, sung mãn đến lạ thường.

Từ màu xanh của hòe, bức tranh tiếp tục được thắp sáng bởi hoa lựu và làm dịu đi bằng hương sen:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tịn mùi hương.”

Chữ “phun” khiến sắc đỏ của hoa lựu trở nên có sức nóng. Màu hoa tưởng như không thể nằm yên mà phải bật ra, trào ra dưới ánh nắng. Nếu “đùn đùn” là sức sống đang dâng lên thành tầng lớp thì “phun” là sức sống bừng nở thành màu sắc. Hai động từ cùng làm cho cảnh vật như có một mạch nguồn bên trong, cứ đầy lên rồi tự tìm đường biểu hiện. Bên cạnh sắc đỏ rực rỡ ấy là sen hồng với hương thơm còn vương trong không gian. Một nét nồng nàn, một nét thanh dịu; một sắc nóng, một làn hương nhẹ – tất cả hòa lại thành vẻ đẹp vừa rực rỡ vừa nên thơ của mùa hè.

Song có lẽ bức tranh ấy sẽ chưa thật trọn vẹn nếu chỉ có cỏ cây. Nguyễn Trãi còn nghe thấy giữa cảnh chiều tiếng nói của một cuộc đời đang sống:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”

Từ “lao xao” đưa vào thơ bao âm thanh bình dị của chợ cá: tiếng gọi nhau, tiếng mua bán, tiếng chuyện trò của những con người lao động. Không một bóng người được khắc họa trực tiếp mà hơi ấm con người vẫn lan đầy câu chữ. Rồi trên nền thanh âm ấy, tiếng ve “dắng dỏi” cất lên cao và vang, được cảm nhận như tiếng đàn giữa buổi tịch dương. Tiếng chợ là khúc nhạc của nhân gian; tiếng ve là khúc nhạc của thiên nhiên. Một bên xôn xao, một bên ngân vang, cùng làm cho chiều hè tưởng sắp chìm vào tĩnh lặng lại đầy ắp nhịp sống.

Bởi thế, cảnh ngày hè trong thơ Nguyễn Trãi được cảm nhận bằng gần như mọi giác quan. Mắt thấy xanh hòe, đỏ lựu, hồng sen; mũi nhận hương thơm; tai nghe tiếng chợ, tiếng ve. Có ánh sáng, màu sắc, hương vị, thanh âm và những chuyển động không ngừng. Đó không phải mùa hè mệt mỏi trong cái nóng mà là mùa hè đang ở độ viên mãn của sự sống. Cảnh vật càng rực rỡ bao nhiêu, người đọc càng nhận ra một tâm hồn yêu đời bấy nhiêu. Phải thiết tha với cuộc sống đến thế nào, thi nhân mới có thể lắng nghe được từng nhịp rung rất nhỏ của thế giới quanh mình?

Nhưng tâm hồn Nguyễn Trãi không dừng lại bên một nhành hoa đẹp. Từ thiên nhiên, ông tự nhiên hướng về con người. Trong toàn bộ bức tranh, “chợ cá” là một nét rất đáng chú ý. Chợ đông nghĩa là có người mua kẻ bán, có sản vật, có một đời sống đang vận hành bình thường và yên ổn. Bởi vậy, tiếng “lao xao” không chỉ đem lại âm thanh cho bài thơ mà còn gợi một niềm vui dân sinh. Dường như nghe chợ vui, Nguyễn Trãi cũng vui; thấy cuộc đời có hơi ấm, lòng ông cũng được an ủi.

Và chính từ một phiên chợ nhỏ, ước vọng của thi nhân bỗng mở rộng đến muôn phương:

“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

“Ngu cầm” gợi điển tích về cây đàn của vua Thuấn và khúc Nam phong, gắn với ước vọng về một thời đại thái bình, thịnh trị. Nguyễn Trãi mong có được cây đàn ấy để gảy lên một tiếng. Nhưng điều đẹp nhất nằm ở mục đích của tiếng đàn: “Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Tâm hồn ông vừa đi qua bao sắc màu của thiên nhiên, cuối cùng vẫn neo lại nơi cuộc sống của nhân dân.

Nếu câu đầu là một chữ “rồi” tưởng như nhàn tản thì câu cuối lại cho thấy cái nhàn ấy chỉ thuộc về dáng vẻ bên ngoài. Thân có thể hóng mát mà lòng chưa từng nguôi việc nước. Nguyễn Trãi không ước cho mình thêm một ngày thanh thản; ông ước cho nhân dân khắp nơi được no đủ. Tình yêu thiên nhiên vì thế không tách khỏi tình yêu con người. Đằng sau tâm hồn nghệ sĩ biết say trước sắc hoa, hương sen vẫn là trái tim của một bậc đại thần lấy dân sinh làm nỗi niềm. Đó cũng chính là chiều sâu nhân nghĩa trong Nguyễn Trãi: thái bình không phải một khái niệm xa xôi mà phải hiện hữu trong cuộc sống bình yên, sung túc của muôn dân.

Để chuyên chở vẻ đẹp ấy, Nguyễn Trãi đã tạo nên một hình thức nghệ thuật vừa tinh luyện vừa giàu sức sống. Ông phối hợp màu sắc, hương thơm, âm thanh để dựng nên một không gian mùa hè đa chiều; dùng những từ ngữ giàu sức tạo hình như “đùn đùn”, “phun” để khiến thiên nhiên vận động; dùng “lao xao”, “dắng dỏi” để biến cảnh vật thành một thế giới có nhạc điệu. Đặc biệt, nghệ thuật lấy âm thanh gợi sự sống khiến con người dù không hiện diện trực tiếp vẫn trở thành một phần quan trọng của bức tranh.

Qua Bảo kính cảnh giới, đặc điểm của thơ Nôm Đường luật cũng hiện lên khá rõ. Đó là kết quả của quá trình tiếp nhận thể thơ Đường rồi từng bước dân tộc hóa nó. Nguyễn Trãi vẫn sử dụng những yếu tố quen thuộc của thơ Đường luật: kết cấu cô đọng, phép đối, tính hàm súc, điển tích; nhưng ông không để khuôn thức trở thành chiếc áo quá chật. Những câu sáu chữ xen với câu bảy chữ đã làm nhịp thơ biến hóa, tự nhiên hơn. Đặc biệt, câu kết “Dân giàu đủ khắp đòi phương” chỉ sáu tiếng nhưng lại có sức ngân vang mạnh mẽ, như toàn bộ tình cảm và tư tưởng của bài thơ cùng dồn tụ về đó.

Thơ ông cũng là cuộc gặp gỡ đẹp giữa bác học và bình dân. Có “Ngu cầm” của sách vở cổ điển, nhưng cũng có “chợ cá”, có tiếng ve, có những chữ thuần Việt như “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi”. Những vấn đề lớn lao về nhân nghĩa, dân sinh không bị đóng kín trong lớp ngôn ngữ trang trọng mà bước gần hơn với đời sống. Bởi vậy, trong thơ Nguyễn Trãi, ta gặp một nhà nho uyên bác mà vẫn nghe rất rõ nhịp đập của làng quê và tiếng nói của nhân dân.

Đó cũng là ý nghĩa lớn lao của việc Nguyễn Trãi viết bằng chữ Nôm. Trong một thời đại mà chữ Hán giữ vị trí quan trọng của văn chương bác học, Quốc âm thi tập chứng minh rằng tiếng Việt hoàn toàn có thể đi vào những miền sâu của tư tưởng và nghệ thuật. Tiếng Việt có thể tả một vòm hòe xanh, một đóa lựu đỏ, một phiên chợ cá; cũng có thể chuyên chở ước vọng về một xã hội thái bình. Nguyễn Trãi tiếp nhận một thể thơ ngoại lai nhưng không đánh mất mình trong khuôn mẫu ấy. Ông cho thấy sáng tạo không nhất thiết bắt đầu bằng việc phủ định truyền thống: truyền thống có thể là bờ đất, còn tài năng nghệ sĩ là dòng nước tìm ra lối chảy của riêng mình.

Đọc Bảo kính cảnh giới, ta như đứng trước một buổi chiều hè từ hơn năm thế kỉ trước mà màu xanh vẫn tươi, hoa lựu vẫn đỏ, tiếng chợ vẫn lao xao và tiếng ve dường như chưa hề tắt. Nhưng đẹp hơn cả cảnh vật là tấm lòng người ngắm cảnh. Từ một phút “hóng mát”, Nguyễn Trãi đã để tâm hồn đi qua cỏ cây mà trở về với muôn dân; từ khuôn phép của thơ Đường, ông đã tìm ra một tiếng thơ mang nhịp điệu Việt Nam. Bởi vậy, bài thơ không chỉ giữ lại một mùa hè trong thi ca mà còn giữ lại một Nguyễn Trãi rất đẹp: giữa bao thăng trầm vẫn yêu sự sống, giữa phút riêng tư vẫn nhớ cuộc đời, và giữa những ràng buộc của khuôn phép vẫn tìm cách để tiếng Việt cất lên bằng giọng điệu của chính mình.

Bài tham khảo Mẫu 4

Đôi khi chỉ cần một vòm cây xanh, một sắc hoa chợt đỏ, một tiếng ve vọng qua không trung cũng đủ níu bước người thi sĩ. Nhưng với Nguyễn Trãi, cảnh đẹp chưa bao giờ chỉ để ngắm. Thiên nhiên đi vào thơ ông thường mang theo cả hơi thở của cuộc đời, cả nỗi niềm về nhân thế và một tấm lòng luôn nghiêng về muôn dân. Bởi thế, Bảo kính cảnh giới trong Quốc âm thi tập không chỉ là bức họa mùa hè đầy sắc màu và âm thanh, mà còn là nơi hội tụ vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi cùng sức sáng tạo đặc biệt của ông trong việc đưa thể thơ Đường luật đến gần hơn với tiếng nói dân tộc.

Bài thơ mở đầu bằng một phút nhàn:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

“Rồi” là rảnh rang, “ngày trường” là ngày dài. Người đọc có thể hình dung Nguyễn Trãi trong một khoảnh khắc tạm rời việc đời, thả mình vào bóng mát giữa buổi hè. Thế nhưng sự nhàn tản ấy không dẫn đến tĩnh lặng. Trái lại, vừa mở lòng ra với thiên nhiên, thi nhân lập tức bắt gặp một thế giới đang căng đầy sức sống:

“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.”

Cây hòe không chỉ hiện lên bằng sắc xanh mà còn bằng thế sống. Hai chữ “đùn đùn” khiến từng lớp lá như nối nhau dâng lên, trào ra, liên tục mở rộng. “Tán rợp trương” lại gợi một vòm cây như đang căng hết sức mình để che phủ khoảng trời. Thiên nhiên vì thế không có dáng vẻ tĩnh tại mà dường như đang tự vận động từ bên trong.

Sức sống ấy tiếp tục bừng nở trong hai câu:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tịn mùi hương.”

Nếu hòe đem đến màu xanh no đầy thì lựu lại thắp lên một sắc đỏ rực rỡ. Động từ “phun” làm màu hoa như không thể nằm yên trên cành mà phải bật ra, trào ra dưới nắng hè. Cạnh sắc đỏ ấy là sen hồng cùng hương thơm còn vương trong ao. Một bên rực cháy, một bên thanh dịu; một bên nồng nàn thị giác, một bên nhẹ nhàng khứu giác. Nguyễn Trãi đã dùng nhiều giác quan để chạm vào mùa hè, khiến cảnh vật vừa có màu, có hương, vừa có độ rung của sự sống.

Nhưng mùa hè ấy chưa dừng lại ở cỏ cây. Từ khu vườn, tâm hồn thi nhân mở rộng đến đời sống con người:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”

“Lao xao” là tiếng người mua bán, trao đổi ở chợ cá. Chỉ một âm thanh thôi mà cả một không gian sinh hoạt dân gian đã hiện lên. Không cần tả người, vẫn thấy có người; không cần tả cảnh buôn bán, vẫn cảm nhận được sự đông vui, ấm áp. Bên cạnh đó, tiếng ve “dắng dỏi” vang lên như tiếng “cầm”, khiến thiên nhiên cũng hóa thành một nhạc cụ. Một bên là tiếng đời, một bên là tiếng trời; cả hai cộng hưởng thành nhịp điệu mùa hè.

Bức tranh vì thế vừa rực rỡ vừa sống động. Có màu xanh của hòe, đỏ của lựu, hồng của sen; có hương thơm, ánh chiều, tiếng chợ, tiếng ve; có thiên nhiên và có con người. Nguyễn Trãi không đứng ngoài cảnh vật để quan sát mà thực sự hòa mình vào nó. Thiên nhiên càng căng tràn sinh lực, ta càng thấy một tâm hồn rất mực tha thiết với sự sống.

Song nếu chỉ thấy ở đây một người yêu cảnh thì vẫn chưa đủ. Giữa bức tranh mùa hè, “chợ cá” là một chi tiết quan trọng bởi nó đưa Nguyễn Trãi từ thiên nhiên đến dân sinh. Chợ đông vui nghĩa là cuộc sống đang yên ổn; tiếng “lao xao” không chỉ là âm thanh mà còn gợi cảm giác sung túc, no ấm. Từ niềm vui ấy, lòng thi nhân hướng đến một ước vọng lớn hơn:

“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

Điển “Ngu cầm” gắn với vua Thuấn và khúc Nam phong, biểu tượng cho thời thái bình, nhân dân đủ đầy. Nguyễn Trãi ước có cây đàn ấy để gảy lên một tiếng, nhưng điều ông mong mỏi không phải cho riêng mình. Câu thơ cuối cùng quy tụ tất cả vào bốn chữ đầy sức nặng: “Dân giàu đủ”. Đó là cái đích sâu xa của mọi niềm vui và mọi ước vọng.

Có thể nói, hành trình cảm xúc của bài thơ rất đẹp: từ một phút nhàn mà mở ra thiên nhiên; từ thiên nhiên mà bước tới cuộc đời; từ cuộc đời mà trở về với nhân dân. Thân có thể “rồi”, nhưng lòng chưa bao giờ thực sự nhàn. Nguyễn Trãi có thể lùi khỏi chốn quan trường, song vẫn đau đáu với chuyện dân sinh. Đó chính là chiều sâu nhân nghĩa trong con người ông: thái bình không thể chỉ là khái niệm nơi sách vở, mà phải hiện thành đời sống no đủ của muôn dân.

Nội dung ấy được chuyển tải qua một hình thức nghệ thuật giàu sức biểu đạt. Trước hết là nghệ thuật dựng cảnh bằng những đường nét khỏe khoắn. Các từ “đùn đùn”, “phun” khiến thiên nhiên như có nội lực đang bật ra. Những từ láy “lao xao”, “dắng dỏi” lại khiến cảnh vật có nhịp điệu và chiều sâu âm thanh. Cảnh không chỉ để nhìn mà còn để nghe, để cảm. Nguyễn Trãi đã biến một buổi hè thành một không gian đa giác quan, nơi sự sống hiện diện trong từng màu sắc và thanh âm.

Qua bài thơ cũng có thể thấy rõ đặc điểm của thơ Nôm Đường luật. Đây là thể thơ được hình thành trên cơ sở tiếp nhận luật thơ Đường, nhưng khi đi vào văn học dân tộc đã được Việt hóa mạnh mẽ. Nguyễn Trãi vẫn giữ những yếu tố của thơ Đường như cấu trúc chặt chẽ, phép đối, tính hàm súc, điển tích, song ông không hoàn toàn chịu sự chi phối của khuôn mẫu. Những câu sáu chữ xen với câu bảy chữ tạo nên nhịp điệu linh hoạt, tự nhiên hơn. Quy phạm vẫn còn, nhưng bên trong quy phạm đã có sự cựa mình của sáng tạo.

Đặc biệt, thơ Nguyễn Trãi là nơi gặp gỡ giữa bác học và đời thường. “Ngu cầm” mang vẻ cổ kính, trang trọng; nhưng “chợ cá”, “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi” lại rất gần với tiếng nói dân gian. Những vấn đề lớn về đạo lí và dân sinh được trình bày bằng thứ ngôn ngữ giàu sức sống của tiếng Việt. Bởi thế, thơ ông không xa cách mà có một chất riêng: thanh nhã nhưng không lạnh, uyên bác nhưng vẫn gần đời.

Đó cũng là ý nghĩa lớn lao của việc Nguyễn Trãi sáng tác bằng chữ Nôm. Trong bối cảnh văn chương chữ Hán giữ vị trí quan trọng, Quốc âm thi tập đã chứng minh tiếng Việt hoàn toàn có thể bước vào địa hạt văn chương bác học. Tiếng Việt có thể tả sắc hoa, tiếng chợ, hương sen; cũng có thể chuyên chở tư tưởng nhân nghĩa, khát vọng thái bình. Nguyễn Trãi tiếp nhận truyền thống nhưng không sao chép truyền thống. Ông dùng cái cũ như một điểm tựa để tạo nên cái mới, và đó chính là quy luật bền vững của sáng tạo nghệ thuật.

Khép lại Bảo kính cảnh giới, bức tranh mùa hè vẫn còn nguyên độ tươi sáng: hòe xanh, lựu đỏ, sen thơm, chợ cá lao xao, ve ngân trong nắng chiều. Nhưng đẹp hơn cảnh vật là tấm lòng người thi sĩ. Nguyễn Trãi đã từ một buổi hóng mát mà nghĩ đến đời, từ niềm vui trước sự sống mà hướng tới ước nguyện “Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Qua đó, bài thơ vừa cho thấy một tâm hồn lãng mạn, tinh tế trước thiên nhiên, vừa khắc họa cốt cách của một bậc trí giả suốt đời lấy dân làm gốc. Đồng thời, tác phẩm còn là minh chứng đẹp cho khả năng Nguyễn Trãi biến khuôn thức thơ Đường thành tiếng thơ giàu bản sắc Việt: cổ điển mà không cũ, trang nhã mà vẫn gần đời, giữ được khuôn phép nhưng luôn mở ra những khoảng trời mới cho tiếng nói dân tộc.

Bài tham khảo Mẫu 5

Có những tác phẩm càng đọc kĩ càng thấy rõ một điều: vẻ đẹp của thơ không nằm ở sự phô trương mà ở khả năng khiến một khoảnh khắc bình thường trở nên có chiều sâu. Một buổi chiều mùa hạ, một bóng cây, một tiếng chợ, một tiếng ve – tất cả vốn rất quen thuộc, nhưng dưới cái nhìn của Nguyễn Trãi lại trở thành nơi hội tụ của cảm xúc, tư tưởng và nhân cách. Bảo kính cảnh giới trong Quốc âm thi tập là một bài thơ như thế. Từ bức tranh ngày hè tràn đầy sức sống, Nguyễn Trãi bộc lộ tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời, luôn hướng về nhân dân; đồng thời, tác phẩm còn cho thấy tài năng của ông trong việc làm mới thể thơ Đường luật bằng tiếng nói dân tộc.

Mở đầu bài thơ là một khoảnh khắc thư nhàn:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

“Rồi” gợi trạng thái rảnh rỗi, “ngày trường” gợi một ngày dài. Sau những bận rộn của việc đời, thi nhân tạm dừng lại để sống chậm hơn cùng thiên nhiên. Nhưng điều đáng chú ý là sự nhàn rỗi ấy không kéo theo cảm giác buồn vắng. Ngược lại, chính khi tâm hồn thảnh thơi, Nguyễn Trãi lại nhìn thấy rõ hơn nguồn sống đang dâng lên quanh mình:

“Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.”

Cây hòe hiện ra không phải bằng một nét chấm phá tĩnh mà trong trạng thái vận động. “Đùn đùn” khiến ta cảm nhận từng lớp lá đang liên tiếp sinh sôi, màu xanh như dâng lên, phủ đầy khoảng không. “Tán rợp trương” lại tạo cảm giác vòm cây đang mở rộng, căng tràn sức sống. Thiên nhiên không đứng im; nó đang lớn lên ngay trước mắt người đọc.

Sự sống ấy tiếp tục được đẩy lên trong hai câu thơ:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
 Hồng liên trì đã tịn mùi hương.”

Nếu hòe gợi sắc xanh thì lựu tạo điểm nhấn bằng sắc đỏ nóng bỏng. Động từ “phun” khiến màu hoa như bật khỏi cành, trào ra dưới ánh sáng mùa hè. Sắc đỏ ấy không lạnh, không tĩnh, mà mang cảm giác sống động, mãnh liệt. Bên cạnh đó là hương sen còn lan trong ao, tạo nên một nét dịu mát. Màu xanh, đỏ, hồng cùng hương thơm hòa vào nhau, khiến bức tranh vừa rực rỡ vừa có chiều sâu cảm giác.

Nguyễn Trãi không chỉ nhìn cảnh bằng mắt mà còn cảm nhận bằng nhiều giác quan. Thiên nhiên trong thơ vì thế không phải một bức tranh phẳng. Nó có sắc, có hương, có chuyển động. Đặc biệt, những từ “đùn đùn”, “phun” cho thấy nhà thơ không dừng ở việc tả vẻ ngoài của cảnh vật mà còn nhận ra sức sống đang vận hành bên trong chúng. Cái nhìn ấy chỉ có thể xuất hiện ở một tâm hồn thực sự yêu cuộc sống.

Nhưng bức tranh ngày hè chưa dừng lại ở thiên nhiên. Nó còn có con người, dù con người không xuất hiện trực tiếp:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
 Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”

“Lao xao” là tiếng chợ cá, tiếng trao đổi, mua bán, tiếng của một đời sống đang vận hành bình thường và nhộn nhịp. Chỉ một âm thanh mà cả không gian dân sinh đã hiện ra. Bên cạnh đó, tiếng ve “dắng dỏi” vang lên cao và rõ, được nhà thơ cảm nhận như tiếng đàn. Một bên là âm thanh của con người, một bên là âm thanh của thiên nhiên; hai thanh âm cùng hòa vào nhau, khiến buổi chiều hè trở nên có nhịp điệu.

Nhờ vậy, bức tranh không chỉ có màu sắc mà còn có âm thanh, không chỉ có thiên nhiên mà còn có hơi ấm nhân gian. Nguyễn Trãi không đứng ngoài cảnh vật để quan sát mà hòa vào nó bằng sự nhạy cảm của một tâm hồn nghệ sĩ. Cảnh càng sống động bao nhiêu thì tình yêu cuộc sống của ông càng hiện rõ bấy nhiêu.

Tuy nhiên, chiều sâu của bài thơ không chỉ nằm ở niềm say mê trước thiên nhiên. Giữa bức tranh mùa hè, âm thanh “chợ cá” là chi tiết rất đáng chú ý. Chợ là nơi phản ánh trực tiếp đời sống dân sinh. Một phiên chợ đông vui thường gợi cảm giác ổn định, đủ đầy. Bởi thế, “lao xao” không chỉ là âm thanh mà còn là dấu hiệu của một cuộc sống yên bình.

Từ niềm vui trước cảnh đời ấy, Nguyễn Trãi hướng đến một mong ước rộng lớn hơn:

“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
 Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

“Ngu cầm” gắn với điển tích vua Thuấn và khúc Nam phong, biểu tượng cho thời đại thái bình, dân chúng no đủ. “Lẽ có” có thể hiểu là ước gì có được cây đàn ấy để cất lên một khúc nhạc của đời sống thịnh trị. Điều đáng chú ý là ước mơ của Nguyễn Trãi không xoay quanh bản thân. Sau tất cả, điều ông mong vẫn là “Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Chỉ một câu thơ cuối đã bộc lộ rõ tầm vóc tư tưởng của Nguyễn Trãi. Ông không lấy sự an nhàn của riêng mình làm đích đến mà lấy đời sống của nhân dân làm thước đo cho một xã hội tốt đẹp. Dù đang trong phút thư nhàn, lòng ông vẫn hướng ra ngoài, hướng về dân, về nước. Đằng sau tâm hồn biết rung động trước màu hoa, tiếng ve là trái tim của một con người suốt đời mang nặng nỗi lo dân sinh.

Giá trị nội dung ấy được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật rất giàu sức gợi. Trước hết, Nguyễn Trãi xây dựng bức tranh ngày hè bằng hệ thống hình ảnh đa dạng, giàu màu sắc và hương vị. Tiếp đó, hệ thống động từ “đùn đùn”, “phun” khiến thiên nhiên luôn trong trạng thái vận động. Bên cạnh đó, những từ láy “lao xao”, “dắng dỏi” làm không gian thơ có âm thanh, có nhịp sống. Nghệ thuật không đứng riêng mà trực tiếp góp phần làm nổi bật tư tưởng: thế giới trong thơ Nguyễn Trãi là một thế giới đang sống.

Qua bài thơ, đặc điểm của thơ Nôm Đường luật cũng được thể hiện rõ. Đây là một thể thơ hình thành trên cơ sở tiếp nhận luật thơ Đường nhưng được Việt hóa bằng ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu và cách cảm của người Việt. Nguyễn Trãi vẫn giữ tinh thần chặt chẽ, cô đọng, đối xứng của thơ Đường luật nhưng không hoàn toàn lệ thuộc vào khuôn mẫu. Ông chủ động biến đổi câu thơ, đưa câu sáu chữ xen vào câu bảy chữ, tạo nên nhịp điệu linh hoạt và tự nhiên hơn.

Đồng thời, thơ Nguyễn Trãi cho thấy sự kết hợp thú vị giữa chất bác học và đời sống bình dân. “Ngu cầm” là một điển tích cổ điển, nhưng bên cạnh đó lại có “chợ cá”, có tiếng ve, có những từ rất gần với lời nói đời thường như “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi”. Những vấn đề lớn về đạo lí, dân sinh được diễn đạt bằng một ngôn ngữ không xa cách. Chính điều ấy khiến thơ ông vừa có chiều sâu trí tuệ, vừa giữ được sức sống của tiếng Việt.

Từ đây có thể thấy một quy luật đáng chú ý của sáng tạo nghệ thuật: cái mới không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc phủ nhận cái cũ. Nguyễn Trãi không đoạn tuyệt với thơ Đường luật; ông kế thừa nó nhưng đồng thời điều chỉnh, biến đổi để phù hợp hơn với tiếng nói dân tộc. Truyền thống là nền tảng, còn tài năng cá nhân là lực đẩy giúp nghệ thuật đi xa hơn.

Việc Nguyễn Trãi lựa chọn sáng tác bằng chữ Nôm cũng có ý nghĩa đặc biệt. Trong bối cảnh chữ Hán giữ vị trí quan trọng trong văn chương bác học, Quốc âm thi tập cho thấy tiếng Việt hoàn toàn có thể bước vào những lĩnh vực biểu đạt sâu sắc. Tiếng Việt có thể tả thiên nhiên, ghi lại đời sống, thể hiện cảm xúc và đồng thời chuyên chở tư tưởng lớn. Đóng góp của Nguyễn Trãi vì thế không chỉ nằm ở giá trị từng bài thơ mà còn ở việc mở rộng khả năng biểu đạt cho tiếng Việt trong văn học viết.

Bảo kính cảnh giới là một bài thơ đẹp bởi nó kết hợp được nhiều lớp giá trị. Có vẻ đẹp của thiên nhiên, có nhịp sống của con người, có một tâm hồn tinh tế và có một tấm lòng luôn hướng về dân, về nước. Đồng thời, tác phẩm cũng cho thấy bản lĩnh sáng tạo của Nguyễn Trãi trong việc tiếp nhận mà không sao chép, kế thừa mà vẫn đổi mới. Từ một buổi “hóng mát”, ông đã mở ra cả một thế giới của sự sống; từ một bài thơ Nôm, ông góp phần khẳng định sức mạnh của tiếng Việt và để lại một dấu ấn bền vững trong lịch sử thơ ca dân tộc.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...

Các bài khác cùng chuyên mục


Gửi bài tập - Có ngay lời giải