1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về lý luận văn học

Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến "Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ." bằng những trải nghiệm thơ


I. Mở bài: - Thơ là nghệ thuật của ngôn từ, nhưng thơ chưa bao giờ chỉ là sự sắp đặt những con chữ trên trang giấy. Đằng sau mỗi câu thơ là một cách nhìn, một nhịp rung, một thế giới tinh thần riêng của người nghệ sĩ.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài:

- Thơ là nghệ thuật của ngôn từ, nhưng thơ chưa bao giờ chỉ là sự sắp đặt những con chữ trên trang giấy. Đằng sau mỗi câu thơ là một cách nhìn, một nhịp rung, một thế giới tinh thần riêng của người nghệ sĩ.

- Nếu ngôn từ là phương tiện để thơ tồn tại thì tâm hồn và cá tính sáng tạo mới là nơi làm nên căn cước của bài thơ. Bởi vậy, Thanh Thảo từng cho rằng: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ.”

- Nhận định vừa khẳng định đặc trưng ngôn ngữ của thơ, vừa nhấn mạnh bản chất biểu hiện của thơ ca: thơ phải là nơi nhà thơ gửi vào đó những rung động, suy tư, trải nghiệm và cá tính sâu xa nhất của mình.

II. Thân bài:

1. Giải thích:

- “Thơ là chữ nghĩa”: Thơ là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu. Nhà thơ không thể vượt ra ngoài chữ nghĩa để sáng tác thơ. Nhưng chữ trong thơ không phải chữ của lời nói thông thường.

→ Ngôn ngữ thơ được: chắt lọc; cô đọng; tổ chức đặc biệt; giàu hình ảnh; giàu nhạc điệu; đa nghĩa và sức gợi. Vì vậy, “chữ nghĩa” là phương tiện đầu tiên để nhà thơ kiến tạo thế giới nghệ thuật.

- “Cũng không là chữ nghĩa” Thanh Thảo không phủ nhận vai trò của ngôn từ mà muốn nhấn mạnh: Thơ không thể chỉ là trò chơi của chữ. Nếu nhà thơ chỉ chú ý đến sự bóng bẩy, lạ hóa, cầu kì của câu chữ mà không có một đời sống tâm hồn phía sau thì tác phẩm có thể đẹp về hình thức nhưng thiếu sức sống.

→ Đằng sau chữ phải có: cảm xúc; suy tư; trải nghiệm; cách nhìn; thế giới tinh thần; cá tính sáng tạo của nhà thơ.

- “Sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ”: “Bộc lộ” là sự thể hiện, giãi bày đời sống bên trong thông qua tác phẩm. “Tận cùng” không phải đơn giản là bộc lộ thật nhiều cảm xúc. “Tận cùng” nhấn mạnh độ sâu và tính chân thành đến tận đáy của tâm hồn. Đó có thể là những: rung động sâu kín; nỗi đau; niềm vui; khát vọng; ám ảnh; suy tư về con người và cuộc đời. Đồng thời còn là sự bộc lộ cái tôi và cá tính sáng tạo riêng biệt.

→ “Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ” nghĩa là: Thơ đích thực phải là tiếng nói chân thành và sâu sắc nhất của tâm hồn người nghệ sĩ; qua thơ, nhà thơ không chỉ nói điều mình nghĩ mà còn cho người đọc nhận ra mình là ai, nhìn cuộc đời bằng đôi mắt nào và rung động theo một cách nào.

→ Nhận định của Thanh Thảo bàn về đặc trưng của thơ ca và bản chất của quá trình sáng tạo thơ: thơ là nghệ thuật của ngôn từ nhưng giá trị của thơ không nằm ở chữ nghĩa tự thân; chữ nghĩa chỉ thực sự trở thành thơ khi chuyên chở một đời sống tâm hồn sâu sắc, một cái tôi chân thực và một cá tính nghệ thuật độc đáo. Vì thế, thơ hay là nơi hình thức ngôn từ và thế giới tinh thần của nhà thơ hòa quyện, để mỗi câu chữ trở thành dấu vân tay của một tâm hồn.

2. Bàn luận và chứng minh

a) Luận điểm 1: “Thơ là chữ nghĩa” – bởi thơ trước hết là nghệ thuật của ngôn từ, và chữ nghĩa trong thơ phải được tổ chức thành một thế giới nghệ thuật riêng

- Thơ không thể tồn tại nếu không có ngôn từ. Nhưng ngôn từ thơ khác lời nói thông thường ở tính: hàm súc; cô đọng; giàu hình ảnh; giàu nhạc tính; giàu liên tưởng; có khả năng tạo nhiều tầng nghĩa.

- Nhà thơ phải lựa chọn một chữ, một hình ảnh, một nhịp thơ sao cho có thể chứa đựng nhiều hơn những gì nó trực tiếp nói ra. Trong thơ, chữ không chỉ gọi tên sự vật mà còn đánh thức một thế giới liên tưởng phía sau sự vật.

* Chứng minh qua Tây Tiến – Quang Dũng

Quang Dũng sử dụng hàng loạt địa danh: “Sông Mã”, “Mường Hịch”, “Pha Luông”, “Mai Châu”...

→ Không chỉ xác định không gian mà còn tạo nên màu sắc riêng của miền Tây.

Những từ ngữ: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”

→ Không chỉ tả địa hình mà còn tạo cảm giác về sự hiểm trở, dữ dội.

Cách kết hợp: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

→ Không gian đang dữ dội bỗng trở nên mơ hồ, bảng lảng.

→ Chữ nghĩa vì thế vừa có chất họa, vừa có chất nhạc, vừa tạo ra một miền Tây vừa thực vừa mộng.

* Liên hệ: Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

Nếu Quang Dũng tạo thế giới Tây Bắc bằng địa danh, từ láy, nhịp điệu thì Hàn Mặc Tử tạo thế giới Vĩ Dạ bằng những hình ảnh giàu tính hội họa:

“Nắng hàng cau nắng mới lên”

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

→ Hai nhà thơ đều cho thấy chữ nghĩa trong thơ không phải vật liệu thô mà là chất liệu đã được nhà thơ nhào nặn thành một thế giới thẩm mĩ riêng

b) Luận điểm 2: Nhưng thơ “cũng không là chữ nghĩa” – bởi chữ chỉ có linh hồn khi phía sau nó là một đời sống tâm hồn chân thực

- Nếu thơ chỉ là sự sắp xếp câu chữ thì thơ sẽ trở thành một thứ kĩ xảo ngôn ngữ. Chữ đẹp chưa chắc tạo nên thơ hay. Điều khiến câu chữ có sức sống là: một tâm hồn đã thực sự sống, thực sự cảm, thực sự đau, thực sự yêu. Nhà thơ phải có một đời sống nội tâm đủ sâu để chữ nghĩa không chỉ “được viết ra” mà như được bật ra từ nhu cầu tự thân của tâm hồn.

* Chứng minh qua Sóng – Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh không viết về tình yêu bằng những khái niệm trừu tượng mà hóa thân vào hình tượng sóng:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

→ Những đối cực của sóng chính là những đối cực trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

Đằng sau hình tượng sóng là một cái tôi: mãnh liệt; chân thành; nhiều khát vọng; nhưng cũng nhiều lo âu trước sự mong manh của tình yêu.

Đến:

“Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

→ cảm xúc đã vượt qua sự trau chuốt để trở thành sự thú nhận trực tiếp, chân thành của một trái tim yêu.

* Liên hệ: Tự tình II – Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương cũng đưa những giằng xé sâu kín của người phụ nữ vào thơ:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”

→ Nếu Xuân Quỳnh bộc lộ khát vọng được yêu và được sống trọn vẹn thì Hồ Xuân Hương bộc lộ nỗi cô đơn, bất hạnh và khát vọng hạnh phúc bị dồn nén.

→ Hai tiếng nói khác nhau nhưng cùng chứng minh:

Thơ chỉ thực sự có sức lay động khi chữ nghĩa được thắp sáng bởi một đời sống tâm hồn chân thật.

c) Luận điểm 3: “Sự bộc lộ tận cùng” còn là sự bộc lộ cái tôi, cá tính và cách nhìn riêng của nhà thơ

- Nhà thơ không chỉ đưa cảm xúc vào thơ mà còn đưa vào đó cách nhìn riêng về thế giới.

Hai nhà thơ có thể cùng viết về: tình yêu; thiên nhiên; đất nước; con người nhưng vẫn tạo ra những thế giới nghệ thuật khác nhau.

→ Bởi mỗi người có: một trải nghiệm riêng, một cách cảm riêng, một giọng điệu riêng, một thế giới nghệ thuật riêng. Đây chính là dấu ấn phong cách. Bộc lộ tận cùng không chỉ là nói hết lòng mình mà còn là nói theo cách không ai có thể thay mình nói được.

* Chứng minh qua Đàn ghi ta của Lorca – Thanh Thảo

Thanh Thảo không kể lại cuộc đời Lorca theo lối tiểu sử. Ông lựa chọn những hình ảnh giàu tính tượng trưng: “tiếng ghi ta nâu” “tiếng ghi ta lá xanh biết mấy” “tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” “tiếng ghi ta ròng ròng / máu chảy”

→ Những hình ảnh ấy cho thấy một tư duy thơ giàu tính tượng trưng, siêu thực. Đặc biệt, hình tượng: “đường chỉ tay đã đứt”  vừa gợi cái chết của Lorca, vừa gợi sự đứt gãy của một số phận nghệ sĩ. Đó không đơn thuần là chữ nghĩa đẹp mà là cách Thanh Thảo cảm nhận Lorca, nghệ thuật và cái chết.

* Liên hệ: Tây Tiến – Quang Dũng

Cùng viết về chiến tranh nhưng Quang Dũng nhìn người lính bằng cái nhìn: lãng mạn, hào hoa, bi tráng. Thanh Thảo lại tiếp cận Lorca bằng tư duy: tượng trưng, liên tưởng, giàu tính hiện đại.

→ Cùng là thơ, cùng viết về những con người lí tưởng nhưng mỗi nhà thơ để lại một “dấu vân tay tinh thần” khác nhau.

3. Mở rộng, phản đề

a. “Bộc lộ tận cùng” không đồng nghĩa với phơi bày toàn bộ đời tư

- Nhà thơ không cần kể hết cuộc đời mình mới có thể tạo nên thơ chân chính. Điều quan trọng là chân thật về tinh thần, chứ không phải phô bày đời tư. Nhà thơ có thể sáng tạo, hóa thân, tưởng tượng nhưng đằng sau đó vẫn phải có một sự thật của tâm hồn.

→ Nghệ thuật không phải nhật kí cá nhân.

Thơ có thể không kể đúng những gì nhà thơ đã sống, nhưng phải nói đúng điều sâu xa mà nhà thơ đã cảm.

b. Sứ mệnh của nhà thơ

- Nhà thơ phải vừa là người lắng nghe tận cùng tâm hồn mình, vừa là người lao động tận cùng với ngôn từ.

- Chỉ có cảm xúc mà không có tài năng thơ dễ thành lời tâm sự. Chỉ có kĩ thuật mà thiếu tâm hồn: thơ dễ thành trò chơi chữ nghĩa. Người nghệ sĩ chân chính phải thống nhất: chiều sâu của trái tim + chiều cao của tài năng nghệ thuật.

- Sứ mệnh của nhà thơ không phải nói thật nhiều về mình mà là biến cái riêng của mình thành một giá trị có khả năng chạm đến cái chung của con người.

c. Vai trò của bạn đọc

- Người đọc không nên chỉ dừng ở việc hiểu nghĩa bề mặt của câu chữ.

- Người đọc phải tham gia vào quá trình giải mã những khoảng trống, liên tưởng và biểu tượng mà nhà thơ tạo ra. Bởi: Nhà thơ gửi tâm hồn mình vào chữ; người đọc phải đi qua chữ để gặp được tâm hồn ấy.

d. Phản đề

- Không nên hiểu “sự bộc lộ tận cùng” là sự tuôn trào cảm xúc tự phát. Thơ chân chính không phải cứ càng đau đớn, càng khóc than, càng bộc lộ nhiều thì càng hay.

- Cảm xúc trong thơ cần được: chọn lọc; chiêm nghiệm; tổ chức; nghệ thuật hóa.

- Nếu cảm xúc chỉ tuôn ra mà không qua lao động nghệ thuật dễ trở thành lời tâm sự cá nhân.

- Ngược lại, nếu chỉ chăm chút chữ nghĩa để tạo sự lạ hóa mà không có một đời sống tâm hồn thực sự thì thơ dễ trở thành trò chơi của chữ.

→ “Bộc lộ tận cùng” không phải là nói hết những gì mình có, mà là đi đến tận cùng của điều mình muốn nói. Nhà thơ có thể chỉ viết một vài câu, nhưng phía sau vài câu ấy phải là cả một chiều sâu tâm hồn, trải nghiệm và suy tư.

→ Vì thế, thơ hay không phải là sự phơi mở tối đa của cái tôi mà là sự kết tinh tối đa của cái tôi trong nghệ thuật.

III. Kết bài

- Nhận định của Thanh Thảo đã chạm đến hai phương diện cốt lõi của thơ: thơ là nghệ thuật của chữ nghĩa, nhưng vượt lên trên chữ nghĩa để trở thành sự hiện hữu của một tâm hồn.

- Qua Sóng, Tây Tiến, Đây thôn Vĩ Dạ, Đàn ghi ta của Lorca..., có thể thấy mỗi bài thơ hay đều là nơi: chữ nghĩa mang dấu ấn của một tâm hồn, và tâm hồn tìm thấy hình hài trong chữ nghĩa.

- Sau cùng, thơ đích thực không phải là khi nhà thơ viết được những câu chữ đẹp nhất, mà là khi không ai có thể thay nhà thơ nói điều ấy theo đúng cách ấy. Bởi thơ đúng nghĩa là khi chữ đã mang hơi thở của người viết, và người viết đã để lại dấu vân tay của mình trong từng con chữ.

Bài siêu ngắn Mẫu

Nếu ngôn từ là phương tiện để thơ tồn tại thì tâm hồn và cá tính sáng tạo mới là nơi làm nên căn cước của một bài thơ. Bởi vậy, Thanh Thảo từng khẳng định: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ.” Ý kiến đã chạm đến bản chất sâu xa của thơ ca: thơ được tạo nên từ chữ, nhưng không dừng lại ở chữ; đằng sau mỗi câu thơ phải là một đời sống tâm hồn chân thực và một cái tôi nghệ thuật độc đáo.

Trước hết, “thơ là chữ nghĩa” bởi thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Tuy nhiên, chữ trong thơ không phải những con chữ thông thường mà đã được chắt lọc, cô đọng và tổ chức giàu sức gợi. Trong Tràng giang, Huy Cận chỉ bằng những hình ảnh “sóng gợn”, “thuyền xuôi mái”, “củi một cành khô” đã dựng nên cả không gian sông nước mênh mang, qua đó gợi nỗi cô đơn trước vũ trụ. Nhưng thơ “cũng không là chữ nghĩa”, bởi phía sau những con chữ ấy phải là một tâm hồn thực sự rung động. Đọc Sóng của Xuân Quỳnh, ta bắt gặp một trái tim phụ nữ vừa nồng nàn, vừa lo âu trước tình yêu: “Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức”. Câu thơ giản dị mà chứa đựng một tình yêu mãnh liệt, chân thành, khiến chữ nghĩa trở thành tiếng nói tự nhiên của tâm hồn.

Hơn thế, “bộc lộ tận cùng” còn là bộc lộ cái tôi và cá tính sáng tạo. Cùng viết về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm nhìn đất nước từ đời sống nhân dân qua lời thơ “Đất Nước của Nhân dân”, trong khi Tố Hữu lại cảm nhận đất nước qua cảm hứng sử thi và tình cảm cách mạng. Chính cách cảm riêng đã tạo nên dấu vân tay của mỗi nhà thơ.

Tuy nhiên, bộc lộ tận cùng không đồng nghĩa với phơi bày đời tư hay tuôn trào cảm xúc tự phát. Cảm xúc phải được chắt lọc bằng lao động nghệ thuật. Nhà thơ vừa phải lắng nghe sâu sắc tâm hồn mình, vừa phải lao động nghiêm túc với ngôn từ; còn người đọc cần đi qua lớp chữ để gặp được thế giới tinh thần phía sau. Vì thế, thơ hay không phải là sự phơi mở tối đa của cái tôi, mà là sự kết tinh tối đa của cái tôi trong nghệ thuật. Nhận định của Thanh Thảo vì vậy đã khẳng định một chân lí: thơ đích thực là khi chữ nghĩa mang hơi thở của người viết và người viết để lại dấu vân tay của mình trong từng con chữ.

Bài tham khảo Mẫu 1

Có những câu thơ chỉ gồm vài chữ nhưng đủ sức mở ra trước người đọc cả một thế giới. Một chữ “buồn”, “nhớ”, “thương” trong đời sống thường ngày có thể chỉ là một trạng thái; nhưng khi đi vào thơ, nó có thể trở thành một miền kí ức, một nỗi ám ảnh, thậm chí là dấu hiệu nhận diện của cả một tâm hồn. Bởi vậy, nếu ngôn từ là phương tiện để thơ tồn tại thì tâm hồn và cá tính sáng tạo mới là nơi làm nên căn cước của bài thơ. Thanh Thảo từng viết: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ.” Nhận định ấy vừa khẳng định đặc trưng ngôn ngữ của thơ, vừa chạm tới bản chất sâu xa của sáng tạo thi ca: thơ chỉ thực sự sống khi câu chữ mang theo một đời sống tinh thần riêng biệt của người viết.

Trước hết, “Thơ là chữ nghĩa” bởi thơ là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu. Không có chữ, không thể có câu thơ; không có sự tổ chức đặc biệt của chữ, không thể có thế giới nghệ thuật của thơ. Tuy nhiên, chữ trong thơ không phải thứ chữ nghĩa thông thường. Nó được chắt lọc, cô đọng, giàu hình ảnh, nhạc điệu, liên tưởng và sức gợi. Chỉ một sự lựa chọn khác đi cũng có thể làm thay đổi thần thái của cả câu thơ. Đọc “Tràng giang” của Huy Cận, ta bắt gặp một hệ thống ngôn từ vừa cổ điển vừa hiện đại: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”, “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Những chữ “điệp điệp”, “trăm ngả”, “lạc” không chỉ tả cảnh mà còn tạo nên một trường cảm xúc về sự chia lìa, trôi dạt. Đặc biệt, hình ảnh “củi một cành khô” rất đời thường nhưng khi đặt giữa không gian “tràng giang”, nó trở thành biểu tượng của một kiếp người nhỏ bé, vô định. Chữ nghĩa ở đây đã vượt khỏi chức năng gọi tên để trở thành phương tiện kiến tạo tâm trạng.

Cũng bằng nghệ thuật tổ chức ngôn từ, Xuân Diệu trong “Vội vàng” đã biến những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên thành một thế giới căng tràn sức sống: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật / Này đây hoa của đồng nội xanh rì”. Điệp từ “này đây” khiến cảnh vật như liên tục hiện ra trước mắt, vừa gần gũi vừa quyến rũ. Nếu Huy Cận dùng những từ ngữ gợi sự vắng lặng, chia lìa thì Xuân Diệu lại huy động một hệ thống ngôn ngữ giàu sức sống để diễn tả niềm say mê cuộc đời. Hai thi sĩ cùng sử dụng chữ nghĩa nhưng mỗi người lại nhào nặn chữ theo một cách khác, tạo thành một thế giới thẩm mĩ riêng. Như vậy, chữ trong thơ không phải vật liệu thô mà là chất liệu đã được cá tính sáng tạo biến đổi.

Nhưng Thanh Thảo không dừng lại ở mệnh đề “thơ là chữ nghĩa”. Ông lập tức thêm vào đó một sự phủ định: “cũng không là chữ nghĩa”. Điều ấy có nghĩa thơ không thể chỉ là trò chơi của ngôn từ. Một câu thơ dù lạ, đẹp, cầu kì đến đâu cũng khó tồn tại lâu dài nếu phía sau nó không có một tâm hồn thực sự sống. “Tràng giang” sở dĩ ám ảnh không phải chỉ bởi những từ ngữ cổ kính hay những hình ảnh đẹp mà bởi trong từng con chữ có một nỗi cô đơn mang tầm vóc thời đại. Đằng sau cảnh “bờ xanh tiếp bãi vàng” là một cái tôi cảm thấy mình nhỏ bé trước vũ trụ rộng lớn. Đằng sau “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” là một nỗi nhớ quê hương không cần đến một tác nhân ngoại cảnh cụ thể. Huy Cận đã không kể lể về nỗi cô đơn của mình; ông để nỗi cô đơn thấm vào cảnh vật, nhịp thơ và hình ảnh. Vì thế, câu chữ tuy ít mà dư ba rất dài.

Nếu “cũng không là chữ nghĩa” nhấn mạnh chiều sâu tâm hồn thì “sự bộc lộ tận cùng” còn là sự bộc lộ cái tôi và cá tính sáng tạo. Nhà thơ không chỉ nói điều mình cảm mà còn phải nói theo cách không ai có thể thay mình nói. Cùng viết về thiên nhiên, Hàn Mặc Tử trong “Đây thôn Vĩ Dạ” lại tạo nên một thế giới vừa trong trẻo vừa mơ hồ: “Gió theo lối gió, mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Những hình ảnh vốn quen thuộc được tổ chức thành một không gian chia lìa. “Gió” và “mây” vốn cùng tồn tại trong thiên nhiên nhưng lại “đường ai nấy đi”; “dòng nước” được nhân hóa thành “buồn thiu”. Cảnh vật dường như mang hình dáng của một tâm hồn đang khao khát giao cảm nhưng luôn cảm thấy xa cách. Đó chính là dấu vân tay tinh thần của Hàn Mặc Tử: một thế giới đẹp mà buồn, trong trẻo mà bất an, thực mà mộng.

Tuy nhiên, “bộc lộ tận cùng” không đồng nghĩa với việc phơi bày toàn bộ đời tư. Nghệ thuật không phải nhật kí. Nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân, sáng tạo nhưng phải trung thành với một sự thật sâu xa của tâm hồn. Hàn Mặc Tử không cần kể hết hoàn cảnh riêng của mình; chỉ bằng vài câu thơ, ông đã khiến người đọc cảm nhận một nỗi khát khao được giao hòa với cuộc sống. Vì thế, cái “tận cùng” của thơ nằm ở độ sâu chứ không nằm ở lượng thông tin về đời tư.

Từ đây có thể thấy sứ mệnh của người nghệ sĩ là vừa lắng nghe tận cùng tâm hồn mình, vừa lao động tận cùng với ngôn từ. Chỉ có cảm xúc mà thiếu tài năng, thơ dễ biến thành lời tâm sự; chỉ có kĩ thuật mà thiếu tâm hồn, thơ dễ trở thành trò chơi chữ nghĩa. Nhà thơ chân chính phải làm cho trái tim và tài năng gặp nhau. Người đọc cũng không nên dừng ở nghĩa bề mặt của câu chữ. Nhà thơ gửi tâm hồn vào chữ, còn người đọc phải đi qua chữ để gặp được tâm hồn ấy.

Dẫu vậy, cũng cần hiểu đúng “bộc lộ tận cùng”. Thơ không phải sự tuôn trào cảm xúc tự phát. Cảm xúc phải được chọn lọc, chiêm nghiệm và nghệ thuật hóa. Một nỗi đau càng lớn chưa chắc tạo nên một bài thơ hay nếu ngôn từ không đủ sức nâng đỡ nó; ngược lại, một bài thơ ngắn vẫn có thể chứa đựng cả một đời sống tinh thần nếu câu chữ được kết tinh. Bởi vậy, “bộc lộ tận cùng” không phải nói hết những gì mình có mà là đi đến tận cùng của điều mình muốn nói.

Nhận định của Thanh Thảo vì thế đã chạm tới hai phương diện cốt lõi của thơ ca: thơ là nghệ thuật của chữ nghĩa, nhưng vượt lên trên chữ nghĩa để trở thành sự hiện hữu của một tâm hồn. Sau cùng, thơ đích thực không phải khi nhà thơ viết ra những câu chữ đẹp nhất, mà là khi không ai có thể thay nhà thơ nói điều ấy theo đúng cách ấy. Khi đó, chữ không còn vô tri; nó mang hơi thở của người viết và trở thành dấu vân tay của một tâm hồn.

Bài tham khảo Mẫu 2

Trong đời sống, con người có thể nói rất nhiều điều bằng ngôn ngữ. Nhưng không phải mọi lời nói đều trở thành thơ. Một câu thơ chỉ thật sự có sức sống khi phía sau nó là một tâm hồn đã từng rung động, một trí tuệ đã từng suy tư và một cá tính đã tìm được cách biểu đạt riêng. Chính vì thế, Thanh Thảo cho rằng: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ.” Đây không đơn thuần là một nhận xét về hình thức thơ ca mà còn là một quan niệm sâu sắc về bản chất của sáng tạo: chữ nghĩa là điểm khởi đầu, nhưng chiều sâu tâm hồn mới quyết định sức sống của thi phẩm.

Trước hết, “thơ là chữ nghĩa” nhắc chúng ta về đặc trưng cơ bản của thơ: thơ lấy ngôn từ làm chất liệu. Nhưng ngôn ngữ thơ không vận hành như ngôn ngữ giao tiếp thông thường. Trong một bài thơ, mỗi chữ đều có thể mang theo âm thanh, hình ảnh, cảm xúc và những tầng liên tưởng. Vì thế, nhà thơ phải là người lao động nghiêm túc với chữ. “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư là một minh chứng. Ngay từ những câu thơ mở đầu: “Em không nghe mùa thu / Dưới trăng mờ thổn thức?”, mùa thu không chỉ được nhìn thấy mà còn được nghe, được cảm bằng một tâm hồn nhạy cảm. Cách dùng từ “thổn thức” khiến thiên nhiên dường như có nhịp đập của trái tim con người. Mùa thu không còn là một hiện tượng của đất trời mà trở thành một trạng thái tâm hồn.

Nguyễn Bính trong “Tương tư” cũng cho thấy sức mạnh của chữ nghĩa khi những hình ảnh đời thường được tổ chức thành một thế giới nghệ thuật đậm hồn quê: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông / Một người chín nhớ mười mong một người”. “Thôn Đoài”, “thôn Đông” vốn chỉ là địa danh, nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Bính, chúng trở thành không gian của tình yêu. Thành ngữ “chín nhớ mười mong” vừa dân dã vừa giàu sức biểu cảm, khiến nỗi nhớ được đo đếm bằng một cách rất riêng của tâm hồn người đang yêu. Nếu Lưu Trọng Lư đem đến một mùa thu mơ hồ, mong manh thì Nguyễn Bính đưa tình yêu vào không gian làng quê với giọng điệu chân chất, duyên dáng. Qua đó, có thể thấy chữ nghĩa trong thơ luôn được cá tính nhà thơ tổ chức thành một thế giới riêng.

Thế nhưng, thơ “cũng không là chữ nghĩa”. Nếu chỉ chú trọng sự mới lạ của ngôn từ mà thiếu một đời sống tinh thần chân thật, thơ sẽ trở nên lạnh và rỗng. Sức lay động của “Tiếng thu” không nằm đơn thuần ở những hình ảnh đẹp mà nằm ở khả năng chuyển hóa cảnh vật thành rung động. Câu thơ “Em không nghe rừng thu / Lá thu kêu xào xạc” không chỉ miêu tả âm thanh của lá mà còn gợi một trạng thái xao xác trong lòng người. Cái “xào xạc” của lá cũng là cái “xào xạc” của một tâm hồn đang nhạy cảm trước bước đi của thời gian. Thiên nhiên trở thành tấm gương phản chiếu cảm xúc.

Điều này càng rõ hơn ở “Tương tư”. Nguyễn Bính không diễn tả tình yêu bằng những tuyên ngôn lớn lao mà để nó bật ra từ những câu hỏi rất tự nhiên: “Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”. Đằng sau câu hỏi tưởng như trách móc ấy là cả sự bối rối, nhớ mong và mong chờ của một người đang yêu. Cái hay của bài thơ không phải ở việc kể một câu chuyện tình cụ thể mà ở chỗ một nỗi lòng riêng đã tìm được hình thức biểu đạt khiến nhiều người đọc có thể nhận ra chính mình trong đó. Đây chính là sự “bộc lộ tận cùng”: cái riêng đi đến độ chân thật nhất để có thể chạm tới cái chung.

Nhưng “bộc lộ tận cùng” còn gắn với cá tính sáng tạo. Xuân Diệu cũng viết về tình yêu nhưng tình yêu trong thơ ông lại mang một nhịp điệu hoàn toàn khác. Trong “Vội vàng”, nhà thơ viết: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất; / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi”. Những động từ “tắt”, “buộc” thể hiện một cái tôi mạnh mẽ, cuống quýt trước sự trôi chảy của thời gian. Nếu Nguyễn Bính để tình yêu cất lên qua giọng quê mộc mạc thì Xuân Diệu đưa vào thơ một cái tôi hiện đại, say mê và khát sống. Cùng nói về những rung động của con người, mỗi nhà thơ lại có một cách nói không thể thay thế. Đó chính là phong cách.

Từ đó, có thể khẳng định “bộc lộ tận cùng” không có nghĩa là nhà thơ phải phơi bày tất cả những chuyện riêng tư. Nghệ thuật không phải bản sao của đời sống cá nhân. Một nhà thơ có thể tưởng tượng, hư cấu, hóa thân vào những nhân vật hay hoàn cảnh mình chưa từng trải qua, nhưng cảm xúc nghệ thuật phải đạt tới sự chân thật. Cái quan trọng không phải “nhà thơ đã kể bao nhiêu về mình” mà là “người đọc có cảm nhận được một sự thật của tâm hồn hay không”.

Vì thế, sứ mệnh của người nghệ sĩ là sống sâu và viết sâu. Nhà thơ phải có khả năng lắng nghe những chuyển động mong manh nhất trong chính mình, đồng thời phải đủ tài năng để chuyển hóa chúng thành nghệ thuật. Cảm xúc không qua lao động nghệ thuật chỉ là lời tâm sự; chữ nghĩa không có cảm xúc nâng đỡ lại dễ trở thành sự phô diễn kĩ thuật. Người đọc cũng có vai trò quan trọng: phải vượt qua lớp vỏ của chữ để khám phá những tầng nghĩa, những khoảng trống và những rung động nằm phía sau.

Không nên hiểu “bộc lộ tận cùng” là càng than khóc, càng phô bày cảm xúc thì thơ càng hay. Cảm xúc cần được chọn lọc và kết tinh. Một câu thơ hay đôi khi không nói trực tiếp nỗi đau nhưng khiến người đọc cảm thấy nỗi đau ấy. Chính khoảng lặng, hàm súc và sức gợi làm nên sức sống lâu dài của thi ca.

Như vậy, nhận định của Thanh Thảo đã chỉ ra một nghịch lí rất đẹp của thơ: thơ bắt đầu từ chữ nhưng không kết thúc ở chữ. Chữ là hình hài, tâm hồn là sự sống. Khi câu chữ được thắp sáng bởi trải nghiệm, suy tư và cá tính sáng tạo, nó mới vượt khỏi trang giấy để trở thành tiếng nói có khả năng sống cùng người đọc. Đó cũng là lúc nhà thơ thực sự gặp được chính mình trong thơ và người đọc gặp được một phần con người mình trong tiếng nói của người khác.

Bài tham khảo Mẫu 3

Mỗi con người chỉ có một cuộc đời, một cách cảm nhận và một điểm nhìn riêng trước thế giới. Nghệ thuật cũng vậy: hai nhà thơ có thể đứng trước cùng một mùa thu, cùng một dòng sông, cùng một cuộc chia li nhưng không bao giờ tạo nên chính xác một bài thơ. Bởi trong thơ, thế giới khách quan luôn đi qua lăng kính của một tâm hồn. Thanh Thảo từng khẳng định: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ.” Nhận định ấy đặc biệt có ý nghĩa khi nhìn vào mối quan hệ giữa ngôn từ, cảm xúc và cá tính sáng tạo: thơ vừa là nghệ thuật của chữ, vừa là nơi cái tôi nghệ sĩ hiện hình sâu sắc nhất.

“Thơ là chữ nghĩa” trước hết là một sự khẳng định về chất liệu nghệ thuật. Khác với hội họa sử dụng màu sắc, âm nhạc sử dụng âm thanh, thơ xây dựng thế giới bằng ngôn từ. Nhưng chữ trong thơ không còn là thứ chữ nghĩa phẳng và đơn nghĩa của giao tiếp. Nó được tổ chức theo nhịp điệu, hình ảnh, âm thanh, liên tưởng và cấu trúc đặc biệt. Vì vậy, cùng một từ nhưng khi nằm trong những bài thơ khác nhau, nó có thể mang những sắc thái hoàn toàn khác.

Hãy nhìn vào cách Huy Cận tạo dựng không gian trong “Tràng giang”: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song”. Những từ “gợn”, “điệp điệp”, “song song” tạo ra nhịp vận động chậm, đều và kéo dài. Cảnh vật dường như không có sự gặp gỡ: sóng và nước, thuyền và dòng sông cùng tồn tại nhưng vẫn xa cách. Đến câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng”, một hình ảnh nhỏ bé bỗng trở thành điểm nhấn của toàn bộ không gian. Chữ “lạc” không chỉ miêu tả sự trôi nổi của cành củi mà còn gợi một cảm giác tồn tại: con người cũng có thể nhỏ bé, cô độc và vô định như thế giữa dòng đời.

Nếu Huy Cận dùng ngôn từ để kiến tạo một thế giới rộng lớn, vắng lặng thì Chế Lan Viên trong “Tiếng hát con tàu” lại tạo nên một không gian giàu tính biểu tượng: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Hai câu thơ sử dụng những chữ rất giản dị nhưng tạo nên một phát hiện có chiều sâu. “Đất” không còn là một khái niệm địa lí; qua trải nghiệm của con người, đất hóa thành “tâm hồn”. Chính cách tổ chức chữ nghĩa ấy khiến một điều tưởng như quen thuộc trở thành một suy tưởng về mối quan hệ giữa con người và quê hương, giữa đời sống và kí ức.

Tuy nhiên, thơ “cũng không là chữ nghĩa”. Nếu chữ chỉ được dùng để phô diễn sự cầu kì, thơ sẽ thiếu đi phần sống còn của nó. Điều làm “Tràng giang” trở nên bất tử không chỉ là nghệ thuật đối lập, từ Hán Việt hay hình ảnh cổ điển mà còn là nỗi cô đơn thực sự thấm vào từng lớp ngôn từ. Huy Cận từng nhìn thấy dòng sông nhưng điều ông cảm nhận sâu xa lại là thân phận con người trước vũ trụ. Vì thế, đến câu kết “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, nỗi nhớ quê hương không cần đến một tín hiệu ngoại cảnh như trong thơ xưa. Cảm xúc đã đủ đầy để tự khơi dậy. Đó là lúc chữ nghĩa trở thành tiếng nói của tâm hồn.

“Bộc lộ tận cùng” còn là bộc lộ một cái tôi không thể trộn lẫn. “Sóng” của Xuân Quỳnh là một minh chứng tiêu biểu. Viết về tình yêu, nữ sĩ không lựa chọn một giọng điệu mạnh mẽ hay triết luận khô cứng mà mượn hình tượng sóng để diễn tả những biến động trong tâm hồn người phụ nữ: “Dữ dội và dịu êm / Ồn ào và lặng lẽ”. Những trạng thái đối cực liên tiếp xuất hiện như chính những nhịp rung phức tạp của tình yêu. Đặc biệt, câu hỏi “Sông không hiểu nổi mình / Sóng tìm ra tận bể” vừa là hình ảnh thiên nhiên vừa là hành trình tự nhận thức của cái tôi đang yêu. Xuân Quỳnh không chỉ viết về tình yêu; bà viết tình yêu từ một tâm thế rất riêng: chân thành, nữ tính, vừa mãnh liệt vừa nhiều lo âu.

Đặt cạnh đó, “Vội vàng” của Xuân Diệu lại mang một sắc thái khác: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất”. Cùng là tiếng nói của cái tôi cá nhân, nhưng Xuân Diệu hướng tới việc níu giữ vẻ đẹp của trần thế, còn Xuân Quỳnh hướng tới việc đi tìm sự đồng điệu trong tình yêu. Sự khác biệt ấy cho thấy cá tính chính là yếu tố khiến thơ không thể bị sao chép. “Bộc lộ tận cùng” không chỉ là bộc lộ cảm xúc mà là bộc lộ cách nhìn riêng về thế giới.

Tuy vậy, cần tránh đồng nhất sự bộc lộ tận cùng với việc phơi bày đời tư. Thơ không phải một cuốn nhật kí được viết bằng vần điệu. Nhà thơ có quyền tưởng tượng, hư cấu, hóa thân. Cái chân thật của nghệ thuật nằm ở sự trung thực của cảm xúc và chiều sâu tinh thần. Một bài thơ có thể không kể một sự kiện cụ thể nào trong đời tác giả mà vẫn khiến người đọc nhận ra một con người phía sau từng câu chữ.

Từ quan niệm ấy, sứ mệnh của nhà thơ trở nên không hề đơn giản. Người nghệ sĩ phải sống sâu để có cái mà nói, nhưng cũng phải lao động nghệ thuật nghiêm túc để biết nói như thế nào. Chỉ có trái tim mà không có tài năng thì cảm xúc dễ trở thành lời than; chỉ có kĩ thuật mà thiếu tâm hồn thì thơ dễ biến thành trò chơi ngôn từ. Người đọc cũng cần tham gia vào quá trình sáng tạo lần thứ hai: giải mã những biểu tượng, liên tưởng và khoảng trống mà nhà thơ để lại.

Cũng cần phản biện một cách tỉnh táo: không phải cứ cảm xúc mãnh liệt là có thơ hay. Cảm xúc phải được nghệ thuật hóa. “Tận cùng” không phải “tối đa” về số lượng câu chữ hay mức độ phơi bày, mà là chiều sâu của sự kết tinh. Nhà thơ càng lớn càng có khả năng nói ít mà gợi nhiều.

Nhận định của Thanh Thảo vì thế không chỉ định nghĩa thơ mà còn đặt ra yêu cầu đối với người sáng tạo. Thơ là chữ nghĩa, nhưng chữ nghĩa phải mang linh hồn; thơ là tiếng nói của cái tôi, nhưng cái tôi phải được nâng lên thành giá trị thẩm mĩ. Đến tận cùng của thơ, người đọc không chỉ gặp một câu chữ đẹp mà gặp một con người. Và khi con người ấy có một giọng nói không thể thay thế, bài thơ mới thực sự có căn cước của riêng mình.

Bài tham khảo Mẫu 4

Có một nghịch lí làm nên sức hấp dẫn của nghệ thuật: nhà thơ càng đi sâu vào thế giới riêng của mình, tác phẩm đôi khi lại càng có khả năng chạm tới nhiều người. Một nỗi nhớ rất riêng có thể trở thành nỗi nhớ của cả một thế hệ; một tình yêu của một con người có thể khiến hàng triệu trái tim nhận ra chính mình. Điều đó bắt nguồn từ bản chất của thơ: thơ không chỉ là việc sử dụng chữ nghĩa mà là sự kết tinh của một đời sống tinh thần. Bởi vậy, Thanh Thảo viết: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ.” Nhận định đã chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn từ và tâm hồn, giữa cái tôi cá nhân và khả năng cộng hưởng của nghệ thuật.

Trước hết, thơ “là chữ nghĩa”. Chữ là vật liệu để nhà thơ xây dựng thế giới nghệ thuật. Song chữ nghĩa trong thơ không đơn thuần nhằm truyền đạt thông tin. Một câu thơ hay thường chứa nhiều hơn điều nó trực tiếp nói. Trong “Tây Tiến”, Quang Dũng viết: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”. Câu thơ mở đầu như một tiếng gọi, nhưng đằng sau tiếng gọi ấy là cả một miền kí ức. “Sông Mã” không chỉ là một địa danh; nó là không gian của những năm tháng chiến đấu, của đồng đội và tuổi trẻ. Chỉ một tiếng gọi mà cả quá khứ như vọng về.

Đến câu “Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”, chữ “chơi vơi” đã vượt khỏi nghĩa thông thường để diễn tả một nỗi nhớ không có điểm tựa, vừa da diết vừa mênh mang. Quang Dũng không kể lại toàn bộ cuộc đời người lính Tây Tiến. Ông chọn một số hình ảnh, một số chữ đặc biệt để đánh thức cả không gian kí ức. Đó chính là sức mạnh của ngôn ngữ thơ: ít lời nhưng nhiều dư ba.

Trong “Việt Bắc”, Tố Hữu cũng sử dụng ngôn từ để biến nỗi nhớ thành một dòng cảm xúc có sức lan tỏa: “Mình về mình có nhớ ta / Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Cặp đại từ “mình – ta” vốn quen thuộc trong ca dao được đưa vào thơ chính trị, khiến cuộc chia tay giữa cán bộ và Việt Bắc mang âm hưởng của một cuộc chia tay tình nghĩa. Chữ nghĩa ở đây không chỉ làm đẹp câu thơ mà còn giúp một vấn đề lịch sử được chuyển hóa thành tình cảm con người.

Tuy nhiên, thơ “cũng không là chữ nghĩa” bởi nếu không có một đời sống tinh thần phía sau, những chữ “nhớ”, “thương”, “chia tay” sẽ chỉ còn là những khái niệm. “Tây Tiến” lay động người đọc bởi nỗi nhớ trong đó là nỗi nhớ của một người từng sống giữa chiến trường, từng chứng kiến những gian khổ, hi sinh và vẻ đẹp của đồng đội. Câu thơ “Áo bào thay chiếu anh về đất” không tô son cho hiện thực đau thương. Chỉ một chữ “đất” đã khiến sự hi sinh của người lính trở nên vừa dữ dội vừa trang trọng. Phía sau câu thơ là thái độ trân trọng của nhà thơ trước những con người đã hiến dâng tuổi trẻ.

“Sự bộc lộ tận cùng” vì thế không chỉ là nói hết cảm xúc mà là để cái tôi hiện lên trong cách nhìn. Quang Dũng nhìn người lính bằng một cái nhìn lãng mạn, hào hoa mà bi tráng. Những con người “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” không bị nhìn như những thân thể tiều tụy mà được nâng lên thành hình tượng: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Gian khổ và hào hùng cùng tồn tại. Đó là cách nhìn rất riêng của Quang Dũng.

Trong khi đó, Chính Hữu ở “Đồng chí” lại nhìn người lính từ tình đồng đội và những điểm chung của hoàn cảnh: “Quê hương anh nước mặn, đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Những người lính từ những miền quê nghèo gặp nhau trong chiến đấu và trở thành “đồng chí”. Hai nhà thơ đều viết về người lính nhưng không hề trùng nhau. Nếu Quang Dũng thiên về vẻ đẹp hào hoa, bi tráng thì Chính Hữu nghiêng về vẻ đẹp mộc mạc, chân thành và chiều sâu của tình đồng đội. Chính sự khác biệt ấy chứng minh rằng nhà thơ không chỉ phản ánh hiện thực mà còn bộc lộ chính mình qua cách nhìn hiện thực.

Điều đáng nói là từ cái riêng, thơ có thể đi tới cái chung. Quang Dũng viết về những người lính Tây Tiến nhưng người đọc hôm nay vẫn rung động trước nỗi nhớ, tình đồng đội và sự hi sinh. Xuân Quỳnh viết “Sóng” từ một tâm hồn phụ nữ cụ thể nhưng những câu thơ về tình yêu lại có sức cộng hưởng rộng lớn: “Làm sao được tan ra / Thành trăm con sóng nhỏ / Giữa biển lớn tình yêu / Để ngàn năm còn vỗ”. Cái riêng của một trái tim yêu đã trở thành khát vọng chung của con người: được sống hết mình trong tình yêu và được tình yêu vượt qua giới hạn của thời gian.

Dẫu vậy, “bộc lộ tận cùng” không có nghĩa là phơi bày toàn bộ đời tư. Cái riêng trong nghệ thuật phải được chuyển hóa thành cái chung. Nhà thơ không cần kể hết những gì mình đã trải qua; điều quan trọng là biến trải nghiệm cá nhân thành một giá trị có khả năng đánh thức những rung động phổ quát. Chính ở đây, tài năng nghệ thuật trở thành cầu nối giữa cá nhân và cộng đồng.

Vì thế, sứ mệnh của nhà thơ là vừa thành thật với mình, vừa có trách nhiệm với nghệ thuật và đời sống. Nhà thơ phải biết mình đang rung động trước điều gì, nhưng cũng phải tìm được hình thức đủ sức truyền rung động ấy tới người khác. Người đọc, ngược lại, không thể chỉ đọc thơ bằng nghĩa từ điển. Cần đi qua chữ để nhận ra một tâm hồn, từ một tâm hồn lại nhận ra những vấn đề của chính mình.

Cũng không nên hiểu “tận cùng” là sự bùng nổ cảm xúc không kiểm soát. Cảm xúc phải được tổ chức. Nỗi đau cần hình thức để trở thành nghệ thuật; tình yêu cần ngôn ngữ để vượt khỏi lời tỏ tình thông thường. Nếu chỉ có cảm xúc, thơ dễ thành tâm sự; nếu chỉ có kĩ xảo, thơ dễ thành trò chơi chữ nghĩa.

Như vậy, lời của Thanh Thảo đã khẳng định một quy luật quan trọng của thi ca: thơ bắt đầu từ chữ nhưng chỉ thực sự sống khi chữ mang theo một tâm hồn. Nhà thơ phải đi sâu vào cái riêng của mình để tìm thấy điều có ý nghĩa với nhiều người. Bởi vậy, một bài thơ lớn không phải là bài thơ nói nhiều nhất về tác giả, mà là bài thơ khiến người đọc, sau khi gặp tác giả, lại nhìn thấy chính mình.

Bài tham khảo Mẫu 5

Thơ ca thường bắt đầu từ một rung động rất nhỏ: một tiếng chim, một dòng sông, một cuộc chia tay, một ánh trăng, một nỗi nhớ. Nhưng từ rung động ấy đến một bài thơ hay là cả một hành trình dài. Nhà thơ không chỉ cần một trái tim biết rung động mà còn cần một bàn tay biết lựa chọn và tổ chức ngôn từ. Vì thế, câu nói của Thanh Thảo: “Thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩa [...] Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ” đã chạm tới bản chất của hoạt động sáng tạo thi ca. Thơ vừa là nghệ thuật của chữ, vừa là sự kết tinh sâu sắc nhất của tâm hồn và cá tính người nghệ sĩ.

Trước hết, “thơ là chữ nghĩa” bởi chữ chính là chất liệu trực tiếp của thơ. Nhưng nhà thơ không sử dụng chữ như một công cụ truyền tin đơn thuần. Chữ thơ được cô đọng, nhạc hóa, hình tượng hóa và đặt trong những quan hệ bất ngờ. Đọc “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, ta thấy những chữ rất giản dị mà giàu sức gợi: “Hồi nhỏ sống với đồng / với sông rồi với bể”. Cách xuống dòng, cách liệt kê những không gian quen thuộc khiến kí ức tuổi thơ hiện lên tự nhiên như một dòng hồi tưởng. Không có những hình ảnh quá cầu kì, bài thơ vẫn tạo được sức ám ảnh nhờ sự giản dị mà chính xác của ngôn từ.

Đến hình ảnh “Trần trụi với thiên nhiên / hồn nhiên như cây cỏ”, ngôn ngữ thơ tiếp tục giữ vẻ mộc mạc nhưng mở ra một tầng nghĩa sâu hơn. “Trần trụi”, “hồn nhiên” không chỉ nói về cách con người sống cùng thiên nhiên mà còn gợi một quá khứ trong trẻo, nghĩa tình. Khi con người rời xa quá khứ ấy, ánh trăng trở thành một biểu tượng của những giá trị từng bị lãng quên.

Ở một phương diện khác, Hàn Mặc Tử trong “Đây thôn Vĩ Dạ” lại cho thấy khả năng làm mới ngôn từ bằng liên tưởng và hình ảnh: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Một hình ảnh tưởng như rất thực nhưng lại mang vẻ đẹp mơ hồ. “Mặt chữ điền” vừa gợi con người, vừa khiến cảnh vật như có một khuôn mặt. Ngôn từ đã tạo nên một thế giới vừa thực vừa mộng, nơi cảnh vật và con người liên tục giao thoa.

Nhưng nếu thơ chỉ là sự khéo léo của chữ nghĩa thì chưa đủ. Thanh Thảo nói “cũng không là chữ nghĩa” để nhấn mạnh rằng chữ chỉ là lớp vỏ vật chất; bên trong nó phải có một đời sống tinh thần. “Ánh trăng” có sức lay động bởi phía sau hình ảnh vầng trăng là một sự thức tỉnh. Khi chiến tranh qua đi, con người trở về với cuộc sống tiện nghi và dễ dàng quên những gì từng gắn bó với mình. Đến lúc gặp lại vầng trăng, nhân vật trữ tình “ngửa mặt lên nhìn mặt” và “có cái gì rưng rưng”. Những chữ ấy không ồn ào nhưng chứa một khoảnh khắc tự vấn sâu sắc. Cái “rưng rưng” chính là nơi quá khứ, hiện tại, biết ơn và ân hận gặp nhau.

Từ trải nghiệm riêng ấy, Nguyễn Duy bộc lộ một quan niệm sống: con người cần thủy chung với quá khứ, với những gì từng nâng đỡ mình trong gian khó. Vì thế, bài thơ không dừng ở một câu chuyện cá nhân. Một vầng trăng riêng đã trở thành lời nhắc nhở chung về đạo lí ân nghĩa.

“Sự bộc lộ tận cùng” còn là sự bộc lộ cái tôi. Xuân Quỳnh trong “Sóng” không giấu những nghịch lí của tâm hồn người phụ nữ đang yêu: “Dữ dội và dịu êm / Ồn ào và lặng lẽ”. Hai trạng thái đối lập đặt cạnh nhau khiến tình yêu hiện ra không đơn giản, phẳng lặng mà luôn biến động. Đặc biệt, câu hỏi “Làm sao được tan ra” cho thấy một khát vọng rất nữ tính: muốn dâng hiến, muốn hòa nhập nhưng đồng thời cũng muốn tình yêu của mình có khả năng tồn tại lâu dài. Đây không phải một thứ cảm xúc chung chung về tình yêu; đó là tình yêu đã được nhìn qua một tâm hồn cụ thể, với những lo âu và khát vọng cụ thể.

Đặt bên cạnh Xuân Quỳnh, Xuân Diệu trong “Vội vàng” cũng yêu cuộc đời mãnh liệt nhưng lại mang một sắc thái khác: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Cái tôi Xuân Diệu nhạy cảm trước sự trôi chảy của thời gian, vì thế luôn muốn sống nhanh, sống đầy, tận hưởng vẻ đẹp trần thế. Hai nhà thơ đều có một trái tim yêu đời và yêu tình yêu, nhưng mỗi người lại tạo nên một giọng nói riêng. Đó chính là cá tính sáng tạo.

Tuy nhiên, “bộc lộ tận cùng” không thể được hiểu là sự phơi bày tất cả đời tư hay sự tuôn trào cảm xúc. Nghệ thuật luôn cần khoảng cách và sự tổ chức. Người nghệ sĩ có thể trải qua một nỗi đau nhưng không phải cứ kể lại nguyên xi nỗi đau ấy là có thơ. Cái riêng phải được chọn lọc, nâng lên và nghệ thuật hóa. Một bài thơ chân chính là kết quả của cả trái tim lẫn lao động.

Bởi vậy, sứ mệnh của nhà thơ trước hết là sống thành thật với chính mình, sau đó là lao động nghiêm túc với ngôn từ. Người viết phải vừa có độ sâu của trải nghiệm, vừa có độ cao của tài năng. Nếu chỉ có tâm hồn mà thiếu nghệ thuật, thơ dễ thành lời tâm sự; nếu chỉ có nghệ thuật mà thiếu tâm hồn, thơ dễ trở thành một màn trình diễn chữ nghĩa. Hai phương diện ấy phải hòa quyện để câu thơ có cả hình hài lẫn sự sống.

Người đọc cũng giữ một vị trí quan trọng. Thơ không phải lúc nào cũng nói hết. Có những điều nằm trong hình ảnh, nhịp điệu, khoảng trắng, liên tưởng. Vì thế, đọc thơ là một hành trình đi từ chữ đến nghĩa, từ nghĩa đến cảm xúc, từ cảm xúc đến tâm hồn người viết. Nhà thơ gửi mình vào chữ, còn người đọc phải biết lắng nghe điều nằm sau chữ.

Sau cùng, nhận định của Thanh Thảo giúp ta hiểu rằng thơ hay không phải là sự lựa chọn giữa chữ nghĩa và cảm xúc. Thơ chân chính cần cả hai. Chữ tạo nên hình hài của bài thơ; tâm hồn trao cho hình hài ấy sự sống; cá tính khiến nó trở nên không thể thay thế. “Bộc lộ tận cùng” vì thế không phải viết thật nhiều về mình, mà là kết tinh sâu nhất của mình vào nghệ thuật. Khi một câu thơ khiến người đọc nhận ra không ai khác có thể viết nó theo cách ấy, nhà thơ đã thực sự để lại dấu vân tay của mình trên trang giấy.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...

Các bài khác cùng chuyên mục


Gửi bài tập - Có ngay lời giải