1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện thơ Nôm Viết đoạn văn nêu cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều qua đoạn trích sau:“Ôm lòng đòi đoạn xa gần…Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” >
Mở đoạn - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều. - Giới thiệu đoạn trích và vị trí: Nằm trong phần Kiều ở lầu Ngưng Bích. Sau khi nhớ về Kim Trọng, Kiều chuyển sang nỗi nhớ thương cha mẹ.
Dàn ý
Mở đoạn
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều.
- Giới thiệu đoạn trích và vị trí: Nằm trong phần Kiều ở lầu Ngưng Bích. Sau khi nhớ về Kim Trọng, Kiều chuyển sang nỗi nhớ thương cha mẹ.
- Khái quát nội dung/Cảm nhận chung: 8 câu thơ khắc họa chân thực và xúc động tấm lòng hiếu thảo, sự hi sinh cao cả và nỗi đau đớn tột cùng của Thúy Kiều khi nghĩ về bậc sinh thành.
Thân đoạn
- Nỗi đau đớn, xót xa quặn thắt trong lòng Kiều (2 câu đầu):
+ Từ láy và thành ngữ: "đòi đoạn", "chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau".
=> Diễn tả nỗi đau đớn về thể xác lẫn tinh thần. Cõi lòng Kiều như bị vò xé, chà xát bởi nghịch cảnh éo le, bị giam lỏng và bơ vơ nơi đất khách.
- Lòng biết ơn và sự xót thương cha mẹ già yếu (4 câu tiếp):
+ "Nhớ ơn chín chữ cao sâu": Sử dụng điển cố để khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục to lớn như trời biển của cha mẹ mà Kiều chưa kịp báo đáp.
+ Hình ảnh ẩn dụ "bóng dâu tà tà": Gợi sự trôi chảy của thời gian, tuổi già của cha mẹ ngày càng đến gần (như bóng chiều tà).
+ Sự đối lập giữa không gian xa cách "dặm ngàn nước thẳm non xa" và hoàn cảnh bi đát hiện tại của bản thân. Kiều tự trách mình vì phận làm con mà phải để cha mẹ lo lắng.
- Nỗi day dứt, trăn trở về trách nhiệm làm con (2 câu cuối):
+ Các điển tích "sân hòe", "trân cam": Gợi nhắc về mái ấm gia đình và bổn phận phụng dưỡng cha mẹ.
+ Nỗi lo âu thiết thực: Các em (Thúy Vân, Vương Quan) còn quá "thơ ngây", không biết ai sẽ là người thay Kiều sớm hôm chăm sóc, nâng giấc cha mẹ lúc tuổi già.
=> Kiều đã quên đi bi kịch của chính mình để xót thương cho người khác. Đây là đỉnh cao của lòng vị tha và sự hiếu đạo.
- Đánh giá nghệ thuật:
+ Bút pháp tả cảnh ngụ tình, nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc.
+ Sử dụng thành công các điển cố, điển tích, thành ngữ dân gian kết hợp với thể thơ lục bát truyền thống mượt mà.
Kết đoạn
- Khẳng định lại vẻ đẹp nhân vật: Thúy Kiều không chỉ mang vẻ đẹp sắc nước hương trời mà còn có một tâm hồn cao đẹp, là tấm gương sáng về chữ "Hiếu".
- Tình cảm của người viết: Bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với bi kịch của Kiều, đồng thời trân trọng tấm lòng nhân đạo, sự thấu hiểu tình người của đại thi hào Nguyễn Du.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Đoạn trích đã khắc họa một cách xúc động tấm lòng hiếu thảo, vị tha cao cả của Thúy Kiều. Giữa không gian "dặm ngàn nước thẳm non xa" cô quạnh tại lầu Ngưng Bích, Kiều không than khóc cho bi kịch của chính mình, mà dành trọn tâm tư để hướng về cha mẹ. Ý thức được "ơn chín chữ cao sâu" chưa kịp đền đáp, nàng thấu suốt nỗi đau đớn như bị "vò", bị "dần" trong tâm can. Hình ảnh "bóng dâu tà tà" gợi lên nỗi xót xa trước thời gian khắc nghiệt, khi cha mẹ ngày một già yếu mà bản thân lại lưu lạc nơi góc biển chân trời. Kiều day dứt lo lắng cho "sân hòe đôi chút thơ ngây", tự hỏi ai sẽ thay mình phụng dưỡng, "trân cam" nâng giấc bậc sinh thành. Việc đặt chữ hiếu lên trên nỗi đau cá nhân chứng minh Kiều là một người con có hiếu đạo vẹn toàn, một tâm hồn giàu lòng vị tha đáng trân quý.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Qua ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Du, đoạn thơ là bức tranh nội tâm chứa chan nước mắt và bi kịch cay đắng của Thúy Kiều. Bằng các thành ngữ "chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau", tác giả cụ thể hóa nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác quằn quại, đớn đau. Bi kịch của Kiều nhân lên gấp bội khi nàng nhận thức được sự bất lực của bản thân trước hiện thực. Điển cố "chín chữ cao sâu" đối lập cay đắng với hoàn cảnh "thân phận con ra thế này" – sự bẽ bàng, tủi nhục của một kiếp hoa trôi. Nỗi lo lắng cho tương lai gia đình, nỗi mong mỏi "ai kẻ đỡ thay" việc phụng dưỡng cha mẹ lúc xế bóng không chỉ là tiếng lòng hiếu thảo, mà còn là bi kịch của một người con luôn bị bủa vây bởi mặc cảm tội lỗi vì không tròn bổn phận. Nguyễn Du đã chạm đến tận cùng nỗi đau của một thân phận bị tước đoạt hạnh phúc.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Tám câu thơ là nốt nhạc trầm buồn, sâu lắng miêu tả trọn vẹn vẻ đẹp nhân cách của Kiều qua sự kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bác học và dân gian. Nguyễn Du khéo léo đan cài các điển tích "sân hòe", "trân cam", "chín chữ" để nâng tầm lòng hiếu thảo của Kiều thành một giá trị đạo đức cao đẹp, thiêng liêng. Đồng thời, những hình ảnh dân gian như "bóng dâu tà tà" và lối nói "chẳng vò mà rối" khiến nỗi đau trở nên gần gũi, thấu thiết. Sự đối lập giữa thế giới nội tâm cuộn sóng và không gian lầu Ngưng Bích tĩnh lặng làm nổi bật bi kịch cô đơn của nàng. Đoạn thơ không chỉ thể hiện tình yêu thương sâu nặng Kiều dành cho cha mẹ, mà còn cho thấy tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc thấu thị và đồng cảm với những uẩn ức, tổn thương sâu kín nhất trong tâm hồn người phụ nữ.
Bài tham khảo Mẫu 1
Trong đoạn thơ trên, Nguyễn Du đã khắc họa Thúy Kiều hiện lên với vẻ đẹp rực sáng của một người con giàu lòng hiếu thảo và giàu đức hi sinh. Sau khi bán mình chuộc cha, Kiều phải rời xa mái ấm gia đình, mang theo nỗi đau chia lìa khôn nguôi. Ngay từ hai câu đầu, tác giả đã diễn tả tinh tế trạng thái tâm hồn của nàng: “Ôm lòng đòi đoạn xa gần,/ Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!”. Những từ ngữ giàu sức gợi như “đòi đoạn”, “rối”, “đau” diễn tả nỗi đau âm ỉ, giằng xé, không cần tác động vẫn tự cuộn xoáy trong lòng người thiếu nữ. Thế nhưng, giữa lúc bản thân rơi vào bi kịch, điều Kiều nghĩ đến trước tiên không phải là số phận mình mà là công lao sinh thành của cha mẹ. Thành ngữ “ơn chín chữ cao sâu” vừa gợi truyền thống đạo hiếu của dân tộc vừa khẳng định nhân cách cao đẹp của Kiều. Càng xa quê, nàng càng đau đớn khi nghĩ đến cha mẹ già không có người sớm hôm phụng dưỡng. Câu hỏi tu từ: “Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” chất chứa nỗi day dứt khôn nguôi, thể hiện tấm lòng hiếu nghĩa tha thiết của người con. Qua việc khắc họa diễn biến tâm lí chân thực cùng ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, Nguyễn Du không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn Thúy Kiều mà còn bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc trước số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Bài tham khảo Mẫu 2
Đoạn thơ đã để lại trong lòng người đọc niềm xúc động sâu sắc về nhân vật Thúy Kiều – người con gái tài sắc nhưng mang số phận đầy bi kịch. Trong giây phút phải lưu lạc phương xa, Kiều không ngừng dằn vặt bởi nỗi nhớ gia đình và bổn phận làm con. Hình ảnh “Ôm lòng đòi đoạn xa gần” gợi một trái tim chất chứa muôn vàn đau đớn, còn phép đối “chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau” đã diễn tả nỗi đau tinh thần âm ỉ, dai dẳng đến tột cùng. Điều đáng quý là dù bản thân đang lâm vào cảnh khổ, Kiều vẫn đặt chữ hiếu lên trên hết. Cụm từ “ơn chín chữ cao sâu” nhấn mạnh công lao trời biển của cha mẹ, đồng thời cho thấy lòng biết ơn sâu nặng của nàng. Những câu thơ tiếp theo càng làm nổi bật tình yêu thương gia đình tha thiết khi Kiều hình dung cha mẹ ngày một già yếu, còn mình thì cách trở “dặm ngàn nước thẳm non xa”. Đặc biệt, câu hỏi “Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” vang lên như tiếng nấc nghẹn ngào của người con hiếu thảo vì không thể chăm sóc cha mẹ. Đằng sau bi kịch cá nhân là bi kịch của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ, phải hi sinh hạnh phúc riêng để gánh vác trách nhiệm gia đình. Qua bút pháp miêu tả nội tâm tài tình và ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm, Nguyễn Du đã ca ngợi vẻ đẹp nhân cách của Thúy Kiều, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của mình.
Bài tham khảo Mẫu 3
Đọc đoạn thơ, người đọc không chỉ xót thương cho số phận Thúy Kiều mà còn vô cùng cảm phục vẻ đẹp tâm hồn của nàng. Sau biến cố gia đình, Kiều buộc phải chấp nhận cuộc đời lưu lạc, nhưng điều luôn canh cánh trong lòng lại là cha mẹ nơi quê nhà. Hai câu thơ mở đầu với những hình ảnh giàu sức gợi đã diễn tả nỗi đau tinh thần vô hình nhưng vô cùng dữ dội: “Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau”. Đó là nỗi đau của sự chia lìa, của người con không thể ở bên báo hiếu đấng sinh thành. Thành ngữ “ơn chín chữ cao sâu” đã khẳng định truyền thống đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời làm sáng lên tấm lòng hiếu thảo đáng trân trọng của Kiều. Nàng đau đớn khi nghĩ cha mẹ ngày càng già yếu, còn mình thì phiêu bạt nơi đất khách, không biết đến bao giờ mới có ngày đoàn tụ. Câu hỏi tu từ “Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” vừa là lời tự vấn, vừa là tiếng khóc nghẹn ngào của một người con luôn lo lắng cho cha mẹ hơn chính bản thân mình. Qua nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy, sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và cảm xúc, Nguyễn Du đã xây dựng thành công hình tượng Thúy Kiều giàu lòng hiếu nghĩa, giàu đức hi sinh. Đồng thời, đoạn thơ cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ của đại thi hào khi trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của con người và bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước những bi kịch mà xã hội phong kiến đã gây nên.
Bài tham khảo Mẫu 4
Trong đoạn trích, Nguyễn Du đã khắc họa một cách lay động lòng người tấm lòng hiếu thảo và sự vị tha cao cả của Thúy Kiều. Bị giam lỏng giữa không gian "dặm ngàn nước thẳm non xa" cô quạnh của lầu Ngưng Bích, Kiều đã vượt lên trên bi kịch cá nhân để hướng trọn tâm tư về bậc sinh thành. Nỗi lòng nàng đau đớn đến quặn thắt, được cụ thể hóa sinh động qua câu thơ "Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau". Đó là cái đau của một người con luôn mang nặng mặc cảm tội lỗi khi chưa đền đáp được "ơn chín chữ cao sâu". Nhìn về quê nhà, hình ảnh ẩn dụ "bóng dâu tà tà" gợi lên sự chảy trôi khắc nghiệt của thời gian, khi cha mẹ ngày một già yếu, như bóng chiều tà sắp khuất. Kiều xót xa khi nghĩ đến "thân phận" lưu lạc bẽ bàng của mình, để rồi càng thêm day dứt cho tương lai của gia đình. Nàng lo lắng cho "sân hòe đôi chút thơ ngây", lo rằng các em còn quá nhỏ dại để gánh vác trách nhiệm, và tự hỏi "trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?". Câu hỏi tu từ ấy chính là đỉnh cao của lòng vị tha. Trong hoàn cảnh đáng thương nhất, Kiều không một lời oán trách số phận, nàng chỉ đau nỗi đau của cha mẹ, lo cái lo của gia đình. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ ngợi ca vẻ đẹp hiếu đạo vẹn toàn của Kiều mà còn khẳng định một nhân cách cao thượng, luôn quên mình vì người thân yêu.
Bài tham khảo Mẫu 5
Tám câu thơ là bức tranh tâm trạng đầy bi kịch, thể hiện tài năng bậc thầy của đại thi hào Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật. Qua thể thơ lục bát nhịp nhàng mà trầm buồn, nỗi đau của Kiều hiện lên với những nốt thăng trầm nhức nhối. Hai câu đầu sử dụng các thành ngữ "chẳng vò mà rối", "chẳng dần mà đau" để hữu hình hóa nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác giày vò, cào xé tâm can. Bi kịch của Kiều nằm ở sự đối lập gay gắt giữa ý chí và hoàn cảnh: một bên là lòng hiếu thảo vĩ đại, một bên là thực tại bất lực, xa xăm "dặm ngàn nước thẳm non xa". Cụm từ "Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!" vang lên như một tiếng thở dài cay đắng, một sự thảng thốt trước số phận bèo dạt mây trôi, bẽ bàng và tủi nhục của một kiếp tài hoa. Từ nỗi xót xa cho bản thân, Kiều chuyển thành nỗi lo âu thiết thực cho cha mẹ qua các điển cố "sân hòe", "trân cam". Điển cố bác học kết hợp lối nói dân gian tạo nên một giọng điệu thơ vừa trang trọng, vừa tha thiết. Nỗi nhớ cha mẹ của Kiều không dừng lại ở cảm xúc trừu tượng mà biến thành niềm trăn trở khôn nguôi về bổn phận. Nguyễn Du đã thấu suốt tâm can nhân vật, để từ đó cất lên tiếng khóc xót thương cho một người con hiếu thảo nhưng lại bị cuộc đời vùi dập vào cảnh ngộ trớ trêu, cô độc nhất.
Bài tham khảo Mẫu 6
Đoạn thơ thể hiện sự kết hợp tài hoa giữa bút pháp bác học và phong vị dân gian, làm nổi bật tâm trạng ngổn ngang cùng tấm lòng son sắt của Thúy Kiều. Nguyễn Du đã khéo léo đan cài các thành ngữ dân gian như "chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau" để diễn tả một cách trực cảm, thấu thiết nỗi đau đớn đang gặm nhấm tâm hồn nhân vật. Đồng thời, các điển cố kinh điển như "chín chữ cao sâu", "sân hòe", "trân cam" được sử dụng rất tự nhiên, nâng tầm tình cảm gia đình của Kiều thành những chuẩn mực đạo đức thiêng liêng, cao đẹp. Hình ảnh hoán dụ "bóng dâu tà tà" vừa gợi thời gian muộn màng, vừa gợi tuổi xế chiều của cha mẹ, gieo vào lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, xót xa. Giữa không gian "nước thẳm non xa" mênh mông, Kiều hiện lên thật nhỏ bé và cô độc. Nàng tự trách, tự vấn và lo sợ thay cho phần việc của mình khi không thể ở bên quạt nồng ấp lạnh cho song thân. Sự hòa quyện giữa ngôn từ uyên bác và cảm xúc mộc mạc, chân thành đã tạo nên sức truyền cảm mãnh liệt. Đoạn thơ không chỉ là tiếng lòng nhớ thương gia đình sâu sắc của người con gái lưu lạc, mà còn là minh chứng cho trái tim nhân đạo mênh mông của Nguyễn Du, người luôn trân trọng và ngợi ca những giá trị tinh thần tốt đẹp của con người trong giông bão cuộc đời.
Bài tham khảo Mẫu 7
Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới – đã để lại cho nền văn học Việt Nam kiệt tác Truyện Kiều với giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, sau khi da diết nhớ người yêu Kim Trọng, Thúy Kiều lại hướng trọn tấm lòng về cha mẹ. Tám câu thơ đã khắc họa cảm động tấm lòng hiếu thảo, đức hi sinh và nỗi đau đớn khôn nguôi của nàng. Mở đầu đoạn thơ, Nguyễn Du diễn tả bi kịch nội tâm của Kiều bằng những từ ngữ giàu sức gợi: “Ôm lòng đòi đoạn xa gần,/ Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!”. Thành ngữ “đòi đoạn” cùng phép phủ định liên tiếp đã diễn tả nỗi đau âm ỉ nhưng dữ dội, khiến tâm hồn Kiều luôn bị giày vò bởi cảnh chia lìa. Giữa lúc bản thân lưu lạc, điều nàng nghĩ đến đầu tiên vẫn là công lao trời biển của cha mẹ qua điển cố “ơn chín chữ cao sâu”. Hình ảnh ẩn dụ “bóng dâu tà tà” gợi bước đi lặng lẽ của thời gian, gợi tuổi già ngày một xế bóng của cha mẹ, khiến nỗi nhớ càng thêm khắc khoải. Không gian “dặm ngàn nước thẳm non xa” càng tô đậm khoảng cách giữa Kiều với gia đình, đồng thời thể hiện sự bất lực của nàng trước chữ hiếu. Hai câu cuối với các điển tích “sân hòe”, “trân cam” và câu hỏi tu từ “Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” là tiếng lòng đau xót của người con không thể sớm hôm phụng dưỡng đấng sinh thành. Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế, bút pháp tả cảnh ngụ tình cùng hệ thống điển cố giàu ý nghĩa, Nguyễn Du đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều – người con hiếu nghĩa, giàu lòng vị tha. Đoạn thơ khiến người đọc thêm cảm phục nhân cách của Kiều và trân trọng tấm lòng nhân đạo bao la của Nguyễn Du.
Bài tham khảo Mẫu 8
Trong kho tàng văn học Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du là đỉnh cao của nghệ thuật và tư tưởng nhân văn. Đoạn thơ thuộc phần Kiều ở lầu Ngưng Bích đã khắc họa sâu sắc nỗi nhớ cha mẹ của Thúy Kiều sau khi nàng nhớ về Kim Trọng, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của một người con giàu hiếu nghĩa. Hai câu thơ đầu mở ra tâm trạng đau đớn tột cùng: “Ôm lòng đòi đoạn xa gần,/ Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!”. Những thành ngữ và cách diễn đạt độc đáo đã diễn tả nỗi đau không nhìn thấy bằng mắt nhưng luôn giằng xé trong trái tim Kiều. Tiếp đó, điển cố “ơn chín chữ cao sâu” đã nhấn mạnh công lao sinh thành, dưỡng dục vô bờ của cha mẹ. Nghĩ đến “bóng dâu tà tà”, Kiều xót xa nhận ra thời gian vẫn lặng lẽ trôi, cha mẹ ngày càng già yếu, còn mình thì lưu lạc nơi “dặm ngàn nước thẳm non xa”, không thể làm tròn đạo hiếu. Đặc biệt, các điển tích “sân hòe”, “trân cam” cùng câu hỏi đầy day dứt: “Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” đã bộc lộ nỗi lo thường trực về người sẽ thay mình chăm sóc cha mẹ. Trong đau khổ, Kiều vẫn quên bản thân để nghĩ cho người khác, điều đó càng làm sáng ngời phẩm chất hiếu thảo và đức hi sinh của nàng. Với nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy, bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc và ngôn ngữ lục bát giàu nhạc điệu, Nguyễn Du đã dựng nên hình tượng Thúy Kiều giàu lòng nhân ái, để lại trong lòng người đọc niềm thương cảm và sự kính trọng sâu sắc.
Bài tham khảo Mẫu 9
Là kiệt tác của Nguyễn Du, Truyện Kiều không chỉ phản ánh hiện thực xã hội phong kiến mà còn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người. Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, sau nỗi nhớ Kim Trọng da diết, Thúy Kiều lại hướng trái tim về cha mẹ với tất cả tình yêu thương và lòng hiếu thảo. Ngay hai câu thơ đầu, Nguyễn Du đã khắc họa nỗi đau tinh thần của Kiều bằng những từ ngữ giàu giá trị biểu cảm: “Ôm lòng đòi đoạn xa gần,/ Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!”. Nỗi đau ấy không chỉ xuất phát từ cảnh ngộ éo le mà còn từ sự dằn vặt vì chưa làm tròn bổn phận làm con. Điển cố “ơn chín chữ cao sâu” gợi công lao to lớn của cha mẹ, đồng thời thể hiện lòng biết ơn sâu nặng của Kiều. Hình ảnh “bóng dâu tà tà” vừa gợi thời gian trôi nhanh vừa gợi tuổi già của đấng sinh thành, khiến nỗi nhớ càng thêm da diết. Trong không gian “dặm ngàn nước thẳm non xa”, Kiều chỉ biết tự trách thân phận bất hạnh của mình. Hai câu cuối với điển tích “sân hòe”, “trân cam” và câu hỏi tu từ đầy nghẹn ngào đã diễn tả nỗi lo không biết ai sẽ thay mình phụng dưỡng cha mẹ. Dù cuộc đời rơi vào bi kịch, nàng vẫn quên nỗi đau của bản thân để nghĩ cho gia đình, qua đó làm sáng ngời vẻ đẹp của chữ hiếu và lòng vị tha. Thành công của đoạn thơ còn nằm ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, miêu tả nội tâm tinh vi, sử dụng điển cố, thành ngữ và thể thơ lục bát uyển chuyển. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ ca ngợi phẩm chất cao đẹp của Thúy Kiều mà còn bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với số phận con người, làm nên giá trị nhân đạo bất hủ của Truyện Kiều.
Bài tham khảo Mẫu 10
Nguyễn Du đã khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Thúy Kiều qua đoạn trích trên. Trong hoàn cảnh phải xa gia đình, Kiều mang nỗi đau giằng xé, thể hiện qua câu thơ: “Ôm lòng đòi đoạn xa gần,/ Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!”. Nỗi đau ấy không chỉ xuất phát từ số phận éo le mà còn là sự day dứt vì không thể làm tròn đạo hiếu. Kiều luôn hướng lòng về cha mẹ với tấm lòng hiếu thảo sâu nặng: “Nhớ ơn chín chữ cao sâu”, ghi nhớ công lao sinh thành, dưỡng dục của đấng sinh thành. Hình ảnh “Một ngày một ngả bóng dâu tà tà” gợi sự xa cách, thời gian lặng lẽ trôi càng khiến nỗi nhớ cha mẹ thêm da diết. Đặc biệt, câu hỏi đầy xót xa: “Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” thể hiện nỗi lo lắng khôn nguôi của Kiều khi không còn được ở bên phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Qua đó, Nguyễn Du đã khắc họa Thúy Kiều là người con giàu đức hiếu thảo, giàu tình yêu thương và có đời sống nội tâm sâu sắc. Đoạn thơ không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Thúy Kiều mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, sự cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
- Top 45 Đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu) phân tích nội dung và nghệ thuật 4 câu thơ cuối trong đoạn trích:"Ngọn đèn khi tỏ khi mờ…Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày."(Truyện Kiều) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn (từ 8 đến 10 câu, có đánh số thứ tự các câu) phân tích nội dung và nghệ thuật 4 câu thơ cuối trong đoạn trích:"Ngọn đèn khi tỏ khi mờ…Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.“ (Truyện Kiều) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nêu cảm nhận của em về đặc sắc nội dung, nghệ thuật của đoạn trích: "Mười ngày đã tới ải Đồng...Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay"(Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua - Trích Lục Vân Tiên; Nguyễn Đình Chiểu) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn (khoảng 8 - 10 câu) phân tích nét tính cách mà em yêu thích ở nhân vật Ngư ông trong đoạn trích:" Đêm khuya trong vời Hàn Giang" (Lục Vân Tiên và những vấn đề của Nguyễn Đình Chiểu) hay nhất
- Top 45 đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong đoạn trích ""Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa ... Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?"" (Truyện Kiều - Nguyễn Du) hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm từ một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THCS, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Thơ là sứ giả của tình yêu” (Nguyễn Hữu Quý) hay nhất
- Top 45 bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài thơ Lời của chim hải âu của Nguyễn Đình Tâm. Từ đó, bàn luận về ý kiến sau: "Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính
- Top 45 Bài văn trình bày cảm nhận về những biểu hiện của tình yêu nước qua một số tác phẩm thơ yêu thích hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm Khi con tu hú, hãy viết bài văn với chủ đề: “Khúc tự tình về quê hương đất nước trong tác phẩm văn chương” hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách nhữ




Danh sách bình luận