1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ 7 chữ Viết bài văn phân tích bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ "Thăm thẳm trời xanh lặng đáy hồ ... Điểm nhạt da trời những chấm son" bài thơ Chiều thu - Nguyễn Bính >
I. Mở bài Dẫn dắt về hồn thơ Nguyễn Bính: Một "thi sĩ của đồng quê" với giọng điệu đậm đà bản sắc dân tộc, chuyên chở những vẻ đẹp bình dị, chân quê. Giới thiệu bài thơ "Chiều thu" và bức tranh thiên nhiên tĩnh lặng, giàu sức gợi mà nhà thơ đã phác họa.
Dàn ý
I. Mở bài
Dẫn dắt về hồn thơ Nguyễn Bính: Một "thi sĩ của đồng quê" với giọng điệu đậm đà bản sắc dân tộc, chuyên chở những vẻ đẹp bình dị, chân quê.
Giới thiệu bài thơ "Chiều thu" và bức tranh thiên nhiên tĩnh lặng, giàu sức gợi mà nhà thơ đã phác họa.
II. Thân bài
Đoạn 1: Không gian chiều thu rộng mở và sự giao hòa của cảnh vật (4 câu đầu)
Bầu trời "thăm thẳm" phản chiếu dưới "đáy hồ": Sự hòa quyện giữa không gian cao rộng và mặt nước tĩnh lặng.
Mùi hương thiên lý: Gợi sự thanh tao, dịu nhẹ, đặc trưng của làng quê Bắc Bộ.
Sự xuất hiện của con người (con cò, giấc trẻ): Cảnh vật không cô liêu mà đầy ắp nhịp sống êm đềm.
Đoạn 2: Những biến chuyển tinh tế của tạo vật trong vườn (4 câu tiếp)
Sự vận động của gió: Những hình ảnh nhân hóa "lá thấp cành cao", "gió đuổi nhau" tạo nên sự tinh nghịch, đáng yêu.
Chi tiết "trái na mở mắt" và "đàn kiến": Góc nhìn đậm chất trẻ thơ, hồn nhiên, thấy được sự sống trong từng nhành cây kẽ lá.
Đoạn 3: Sắc màu và sức sống tràn trề của mùa thu (4 câu cuối)
Hình ảnh lúa, lá, quả: Sự trù phú, màu mỡ của thiên nhiên vào độ chín.
Câu kết: "Điểm nhạt da trời những chấm son": Bức tranh kết thúc bằng một nét chấm phá đầy nghệ thuật, vừa rực rỡ vừa hư ảo.
III. Kết bài
Khẳng định lại giá trị của bức tranh thiên nhiên: Vừa đượm màu cổ điển, vừa mang nét vẽ hiện đại của sự sống làng quê.
Cảm nhận về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Bính: Khả năng gọi dậy vẻ đẹp từ những điều giản đơn nhất.
Bài siêu ngắn Mẫu
Nguyễn Bính từ lâu đã hiện hữu trong thi đàn Việt Nam như một gã nhà quê đi giữa cuộc đời, mang theo hơi thở của những lũy tre xanh, của cánh đồng và những buổi chiều tĩnh lặng. Trong bài thơ "Chiều thu", người đọc không bắt gặp một mùa thu lá vàng rơi đầy đường như thơ ca cổ điển, mà là một bức tranh thiên nhiên bình dị, được vẽ bằng những gam màu tươi tắn, thanh khiết của chốn thôn dã.
Ngay từ những câu thơ đầu, không gian đã mở ra với chiều sâu hun hút của tâm tưởng: "Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ". Bầu trời thu không chỉ cao mà còn như đổ bóng xuống mặt nước trong veo, tạo nên một sự hòa quyện tuyệt đối giữa đất và trời. Cái "thăm thẳm" ấy kết hợp cùng mùi hương thiên lý thoảng nhẹ trong gió khiến không gian trở nên tĩnh lặng đến mức nghe được cả hơi thở của mùa thu. Giữa cái nền xanh vời vợi, hình ảnh con cò bay lả lơi trong câu hát và giấc ngủ êm đềm của trẻ thơ trên nhịp võng ru đã làm cho bức tranh không hề vắng lặng, mà ngược lại, đầy ắp hơi ấm của tình người và sự bình yên.
Sự tinh tế của Nguyễn Bính còn nằm ở cách ông quan sát những chuyển động nhỏ nhặt trong khu vườn nhỏ. Gió thu không gào thét mà chỉ đùa nghịch cùng "lá thấp cành cao", tạo nên một bức tranh động mà vẫn yên. Những chi tiết như "chiếc mo cau rụng vội" hay "trái na mở mắt" nhìn đời đầy ngơ ngác mang đậm dấu ấn của một tâm hồn trẻ thơ luôn tò mò trước vạn vật. Đặc biệt, hình ảnh đàn kiến "trường chinh tự thuở nào" là một sự liên tưởng độc đáo, biến những điều tầm thường trở thành một cuộc viễn chinh đầy thi vị, cho thấy tình yêu tha thiết của thi sĩ đối với từng nhành cây, kẽ lá.
Càng về cuối bài, bức tranh thiên nhiên càng trở nên rực rỡ hơn với sự trù phú của đồng quê. Lúa trổ đòng tơ, ngậm lấy cái vị ngọt ngào của đất trời, vươn lên mạnh mẽ với "sắc lưỡi gươm con" đầy kiêu hãnh. Cây hồng chín mọng được tiếng chim làm "mách lẻo" khiến cảnh sắc bừng lên một sức sống khó cưỡng. Và rồi, nhà thơ khép lại bài thơ bằng một nét vẽ đầy tài hoa: "Điểm nhạt da trời những chấm son". Những trái hồng chín treo lơ lửng giữa trời thu xanh biếc như những nốt nhạc son điểm xuyết trên bản hòa ca của tạo hóa. Nét vẽ ấy vừa cụ thể, lại vừa hư ảo, gợi lên một vẻ đẹp vừa thực vừa mơ, khiến người đọc cứ mãi vấn vương trong ánh chiều rực rỡ ấy.
Bức tranh thiên nhiên trong "Chiều thu" không chỉ đơn thuần là cảnh vật, đó là tấm gương phản chiếu tâm hồn nhạy cảm và lòng yêu thương nồng nàn của Nguyễn Bính dành cho quê hương. Bằng ngòi bút tài hoa, ông đã biến những điều thân thuộc nhất trở thành kiệt tác, để mùa thu không chỉ hiện lên trong mắt mà còn đọng lại sâu sắc trong tâm hồn người thưởng lãm.
Bài tham khảo Mẫu 1
Nguyễn Bính từ lâu đã định hình trong lòng độc giả một lối đi riêng đầy bản sắc – hồn thơ chân quê, mộc mạc mà thấm đẫm tình hoài hương. Giữa dòng chảy của Phong trào Thơ mới ồn ào và mang nhiều xu hướng Tây hóa, ông vẫn kiên trì neo giữ linh hồn làng cảnh Việt Nam bằng những vần điệu mang phong vị ca dao dân dã. Bài thơ "Chiều thu" chính là một tiếng lòng như thế, nơi thiên nhiên không chỉ được tái hiện bằng đường nét, màu sắc mà còn bằng cả nhịp đập của một tâm hồn gắn bó máu thịt với xứ sở. Đoạn thơ trích từ "Thăm thẳm trời xanh..." đến "...những chấm son" mở ra một bức tranh mùa thu dịu dàng, bình yên, vừa mang nét cổ điển trầm mặc lại vừa sống động, thân thuộc vô ngần.
Ngay từ những nét vẽ đầu tiên, Nguyễn Bính đã đưa người đọc vào một không gian thu cao rộng và tĩnh lặng tuyệt đối:
"Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,
Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu."
Cái "thăm thẳm" của vòm trời xanh ngắt gợi vẻ đẹp thanh sạch, cao vợi, nay lại càng trở nên mênh mông, khoáng đạt khi soi bóng, "lộng" vào tận đáy hồ sâu. Thủ pháp nghệ thuật phản chiếu này tạo nên một không gian đa chiều, khiến đất trời như hòa làm một trong sự tĩnh lặng của buổi chiều tà. Trong bầu không khí trong trẻo ấy, hương vị đặc trưng của làng quê xứ Bắc khẽ khàng len lỏi. Hương hoa thiên lý không nồng nàn, gắt gỏng mà dịu nhẹ, lảng bảng trong làn gió, đánh thức mọi giác quan của người thưởng cảnh. Điểm tô vào không gian thơ mộng đó là hình ảnh con cò bay lả và nhịp võng ru đầy thân thương. Con cò trắng từ những câu ca dao ngàn năm nay lại bay vào thơ Nguyễn Bính, mang theo giấc ngủ dài của con trẻ bên hiên nhà. Sự hòa quyện giữa thiên nhiên và nhịp sống con người khiến bức tranh chiều thu không hề cô liêu mà trái lại, trở nên ấm áp, đậm đà tình mẫu tử.
Dịch chuyển điểm nhìn từ bầu trời bao la về với góc vườn quen thuộc, nhà thơ bắt trọn những chuyển động tinh tế, khơi gợi sức sống tiềm tàng của tạo vật:
"Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau."
Những ngọn gió thu tinh nghịch chơi trò "đuổi nhau" qua các tầng lá, làm xao động cả một vùng không gian yên ả. Giữa cái xạc xào của cây lá, sự xuất hiện của chiếc mo cau "rụng vội" nơi góc vườn là một chi tiết cực kỳ đắt giá. Đó là thứ hình ảnh ròng ròng chất quê, gợi nhắc về nếp sống, về những hoài niệm tuổi thơ của bao thế hệ người Việt. Bằng trái tim nhạy cảm, Nguyễn Bính đã thổi hồn vào vạn vật xung quanh thông qua biện pháp nhân hóa độc đáo. Trái na đến mùa chín rộ được ví như đứa trẻ "mở mắt, nhìn ngơ ngác" trước sự thay đổi của đất trời. Dưới chân gốc cây, đàn kiến nhỏ bé đang nối đuôi nhau thực hiện cuộc "trường chinh tự thuở nào". Mọi vật, dù là nhỏ bé hay tĩnh lặng nhất, dưới lăng kính của thi sĩ đều mang một sinh mệnh riêng, góp phần làm nên một bức tranh vườn thu đầy sinh khí
Bằng sự quan sát tinh tường, tác giả tiếp tục mở rộng biên độ không gian ra tới cánh đồng đồng và những vòm cây trĩu quả
"Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.
Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,
Điểm nhạt da trời những chấm son."
Trên những dải đất phù sa bao la, cánh đồng lúa đang bước vào thời kỳ trổ đòng, mang trong mình dòng sữa ngọt ngào "ngậm cốm non" – thứ đặc sản tinh túy của mùa thu. Hình ảnh những chiếc lá lúa dài vươn lên như "lưỡi gươm con" vừa gợi tả hình dáng sắc nhọn, vừa thể hiện sức sống căng tràn, mạnh mẽ. Không gian bỗng chốc trở nên rộn rã hơn bởi "tiếng chim mách lẻo". Cách gọi dí dỏm này biến những chú chim thành kẻ đưa tin tinh nghịch, loan báo khắp nơi về sự hiện diện của cây hồng chín. Trên cái nền "da trời" nhạt nhòa của buổi hoàng hôn, những quả hồng chín đỏ xuất hiện như "những chấm son" kiêu hãnh. Phép so sánh ngầm đầy gợi cảm không chỉ làm bừng sáng cả một góc trời chiều mà còn để lại một dư vị ấm áp, viên mĩ của mùa quả ngọt.
Đoạn thơ là một nốt nhạc êm dịu, ngân vang trong khúc ca mùa thu của dân tộc. Bằng thể thơ thất ngôn giàu nhạc điệu, ngôn từ chọn lọc tinh tế và bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa, Nguyễn Bính đã dệt nên một bức tranh thu có hương, có sắc, có cả thanh âm và hơi ấm cuộc sống. Qua những vần thơ ấy, người đọc không chỉ say đắm trước vẻ đẹp thanh bình của làng quê Việt Nam mà còn cảm nhận sâu sắc tấm lòng gắn bó thiết tha, một tình yêu quê hương xứ sở vừa giản dị, vừa vĩ đại của người nghệ sĩ chân quê. Những chấm son của sắc hồng chín kia, phải chăng cũng chính là những điểm sáng lung linh mà nhà thơ đã thắp lên trong lòng độc giả mỗi khi hoài niệm về cội nguồn.
Bài tham khảo Mẫu 2
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bính luôn hiện lên như một thi sĩ mang hồn quê mộc mạc, bình dị mà sâu lắng. Nếu nhiều nhà thơ cùng thời tìm đến những miền cảm xúc mới lạ của phố thị thì Nguyễn Bính vẫn thủy chung với cánh đồng, bờ giậu, hàng cau, giàn thiên lý và những nhịp sống bình yên của làng quê Bắc Bộ. Bài thơ “Chiều thu” là một trong những thi phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế, nhà thơ đã mở ra một bức tranh thiên nhiên trong trẻo, giàu sức sống, nơi vẻ đẹp của cảnh vật hòa quyện cùng nhịp điệu lao động và hơi thở thanh bình của cuộc sống thôn quê.
Bức tranh thiên nhiên mở ra bằng một không gian khoáng đạt, trong trẻo và tĩnh lặng. Câu thơ "Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ" gợi cảm giác về chiều sâu bất tận của bầu trời. Sắc xanh không chỉ trải rộng phía trên mà còn soi bóng xuống mặt hồ phẳng lặng, khiến trời và nước như giao hòa thành một khối trong veo. Từ láy "thăm thẳm" mở rộng chiều sâu của không gian, đồng thời khơi gợi cảm giác thanh vắng, bình yên của buổi chiều thu. Giữa không gian ấy, "Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu" lại đánh thức một giác quan khác. Thiên nhiên không chỉ hiện lên bằng màu sắc mà còn lan tỏa bằng hương thơm dịu nhẹ. Động từ "thoảng" khiến mùi hương trở nên mong manh, phảng phất theo làn gió, góp phần làm cho bức tranh thu thêm mềm mại và giàu chất thơ.
Không gian ấy tiếp tục được lấp đầy bằng những hình ảnh gần gũi của làng quê. "Con cò bay lả trong câu hát" là một sáng tạo giàu chất dân gian. Cánh cò vốn đã trở thành biểu tượng quen thuộc của đồng quê Việt Nam, nay lại như hòa vào những câu hát ru êm đềm. Hình ảnh "Giấc trẻ say dài nhịp võng ru" khép lại khổ thơ đầu bằng âm thanh dịu dàng của tuổi thơ. Thiên nhiên và con người không tồn tại riêng biệt mà hòa quyện trong cùng một nhịp sống. Cánh cò, lời hát, chiếc võng và giấc ngủ của đứa trẻ cùng tạo nên một khung cảnh bình yên, nơi mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, chậm rãi.
Sang khổ thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động với hàng loạt chuyển động tinh tế. "Lá thấp cành cao gió đuổi nhau" là một cách diễn đạt giàu sức gợi. Cơn gió vô hình được cảm nhận qua sự lay động của cành lá, khiến cả khu vườn như đang vui đùa. Đến câu thơ "Góc vườn rụng vội chiếc mo cau", từ "vội" khiến chiếc mo cau như mang linh hồn, tạo nên khoảnh khắc bất ngờ của thiên nhiên khi mùa thu khẽ chạm đến. Thi sĩ không chỉ quan sát bằng đôi mắt mà còn nhìn cảnh vật bằng tâm hồn nhạy cảm, từ đó phát hiện những biến đổi rất nhỏ của sự sống.
Đặc biệt, nghệ thuật nhân hóa đã đem đến sức sống cho từng hình ảnh. "Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác" khiến quả na như một đứa trẻ vừa thức giấc trước vẻ đẹp của đất trời. Động từ "mở mắt" cùng trạng thái "ngơ ngác" làm cho thiên nhiên trở nên gần gũi, đáng yêu và đầy cảm xúc. Tiếp đó, hình ảnh "Đàn kiến trường chinh tự thuở nào" lại gợi ra một nhịp sống cần mẫn, bền bỉ. Hai chữ "trường chinh" vốn thường gợi những hành trình lớn lao, được đặt vào bước đi nhỏ bé của đàn kiến đã tạo nên nét hóm hỉnh mà vẫn giàu ý nghĩa. Trong cái nhìn của Nguyễn Bính, mỗi sinh vật đều mang một sức sống riêng, góp phần làm nên vẻ phong phú của bức tranh mùa thu.
Khổ thơ cuối mở ra vẻ đẹp căng tràn của mùa màng đang vào độ sung sức nhất. "Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non" gợi lên hình ảnh cánh đồng lúa đang thời kỳ kết hạt, mang trong mình lời hứa hẹn về một mùa bội thu. Động từ "ngậm" khiến bông lúa như đang cất giữ những hạt cốm non ngọt lành. "Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con" lại mang đến cảm nhận về sức sống mạnh mẽ. Chiếc lá mảnh mai vẫn vươn lên đầy kiêu hãnh, biểu hiện cho sự phát triển không ngừng của thiên nhiên.
Điểm nhấn đặc sắc nhất nằm ở hai câu thơ kết. "Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín" là âm thanh báo hiệu sự chuyển mùa, đồng thời khơi dậy niềm vui của cuộc sống thôn quê. Từ "mách lẻo" gợi vẻ tinh nghịch, hồn nhiên của tiếng chim như đang chia sẻ một bí mật ngọt ngào. Đến câu thơ "Điểm nhạt da trời những chấm son", sắc đỏ của những quả hồng chín hiện lên như những nét chấm phá trên nền trời xanh nhạt. Cách sử dụng màu sắc đầy hội họa khiến bức tranh thiên nhiên vừa có chiều sâu, vừa có điểm nhấn nổi bật. Gam xanh thanh khiết làm nền cho những "chấm son" rực rỡ, tạo nên một vẻ đẹp hài hòa, tinh tế và giàu sức gợi.
Bằng ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi cùng nghệ thuật quan sát tinh tế, Nguyễn Bính đã dựng nên một bức tranh chiều thu đậm hồn quê Việt Nam. Thiên nhiên trong bài thơ không chỉ đẹp bởi màu sắc, hương thơm, âm thanh và nhịp điệu của sự sống mà còn đẹp bởi tình yêu tha thiết của nhà thơ dành cho quê hương. Mỗi hình ảnh đều chứa đựng sự nâng niu đối với những điều bình dị nhất của làng quê, để từ đó gợi lên trong lòng người đọc niềm yêu mến những giá trị bền vững của thiên nhiên và cuộc sống thanh bình nơi đồng nội.
Bài tham khảo Mẫu 3
Có những bài thơ không tạo ấn tượng bằng những cảm xúc dữ dội hay những ý tưởng lớn lao, mà chinh phục người đọc bằng vẻ đẹp bình dị của một khoảng trời quê hương. “Chiều thu” của Nguyễn Bính là một thi phẩm như thế. Với hồn thơ luôn hướng về làng quê Bắc Bộ, nhà thơ đã ghi lại khoảnh khắc buổi chiều thu bằng tất cả sự nâng niu, tinh tế. Ba khổ thơ đầu hiện lên như một bức tranh đồng quê giàu màu sắc, âm thanh và hương vị, nơi thiên nhiên mang vẻ đẹp trong trẻo, thanh bình mà vẫn căng đầy sức sống.
Câu thơ mở đầu đã đưa người đọc bước vào một không gian rộng mở và sâu thẳm: "Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ." Chỉ một từ láy "thăm thẳm" đã mở ra chiều cao của bầu trời, đồng thời gợi cả chiều sâu của mặt nước. Trời và hồ như soi chiếu lẫn nhau, tạo nên cảm giác không gian được nhân đôi, khoáng đạt và tinh khiết. Màu xanh trở thành gam màu chủ đạo của bức tranh thu, không rực rỡ mà dịu nhẹ, trong trẻo đến mức người đọc tưởng như có thể chạm vào sự yên bình ấy. Không gian ấy càng trở nên có hồn khi "Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu." Nguyễn Bính không chỉ ngắm cảnh bằng đôi mắt mà còn cảm nhận bằng khứu giác. Chữ "thoảng" diễn tả làn hương rất nhẹ, chỉ đủ để người tinh ý nhận ra. Chính sự mong manh ấy làm nên chất thu: kín đáo, thanh sạch và dịu dàng.
Bức tranh thiên nhiên không dừng lại ở sắc và hương mà còn ngân lên bằng âm thanh của cuộc sống. "Con cò bay lả trong câu hát." Hình ảnh cánh cò vốn quen thuộc trong ca dao, dân ca nay hiện ra mềm mại giữa không gian quê hương. Đáng chú ý, con cò không bay giữa trời mà "bay lả trong câu hát". Cách diễn đạt giàu chất thơ đã khiến cánh cò như chao nghiêng trên những làn điệu dân gian, làm cho thiên nhiên và văn hóa truyền thống hòa quyện vào nhau. Câu thơ cuối khổ: "Giấc trẻ say dài nhịp võng ru" đem đến một điểm nhấn đầy nhân văn. Thiên nhiên không chỉ là cảnh vật để ngắm nhìn mà còn là chiếc nôi nuôi dưỡng tuổi thơ, nơi tiếng võng đưa và lời ru của mẹ hòa vào hơi thở của đất trời. Bức tranh vì thế thấm đượm sự bình yên và hơi ấm của cuộc sống làng quê.
Rời khỏi khoảng không gian tĩnh lặng, ngòi bút Nguyễn Bính hướng về khu vườn với những chuyển động rất khẽ của thiên nhiên. "Lá thấp cành cao gió đuổi nhau" là một câu thơ giàu sức gợi. Gió vốn vô hình, lá vốn vô tri, dưới cái nhìn của nhà thơ lại trở thành những người bạn đang nô đùa. Động từ "đuổi" khiến cảnh vật mang vẻ hồn nhiên, tinh nghịch, làm cho buổi chiều thu không hề tĩnh tại mà luôn chuyển động trong nhịp sống tự nhiên. "Góc vườn rụng vội chiếc mo cau" là một chi tiết rất đời thường. Chữ "vội" khiến chiếc mo cau như mang theo bước đi của thời gian, báo hiệu mùa thu đang lặng lẽ gõ cửa từng khu vườn quê.
Đặc sắc hơn cả là nghệ thuật nhân hóa trong câu thơ "Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác." Những mắt na vốn chỉ là đặc điểm của quả lại được hình dung thành đôi mắt trẻ thơ vừa thức giấc. Trái na dường như cũng có tâm hồn, cũng biết ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của đất trời. Cái nhìn của nhà thơ vì thế trở nên hồn nhiên, trong trẻo như chính tuổi thơ nơi thôn dã. Bên dưới khu vườn ấy, "Đàn kiến trường chinh tự thuở nào" vẫn miệt mài nối nhau thành hàng dài. Hai chữ "trường chinh" gợi liên tưởng đến một cuộc hành quân bền bỉ, không ngừng nghỉ. Chỉ một đàn kiến nhỏ bé cũng đủ làm hiện lên quy luật lao động bền bỉ của tự nhiên, nơi mọi sự sống đều đang âm thầm vận động.
Đến khổ thơ cuối, bức tranh thu bừng sáng trong vẻ đẹp của mùa no đủ. "Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non." Bông lúa được nhân hóa bằng động từ "ngậm", gợi cảm giác nâng niu những hạt ngọc của đồng quê. Đó không chỉ là vẻ đẹp của cây lúa mà còn là niềm hy vọng về một mùa vàng đang lớn lên từng ngày. "Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con" đem đến một nét vẽ khỏe khoắn. Hình ảnh so sánh khiến chiếc lá mang sức sống căng đầy, sắc xanh như đang vươn lên mãnh liệt giữa bầu trời thu.
Thiên nhiên tiếp tục được đánh thức bằng âm thanh: "Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín." Tiếng chim không chỉ là âm thanh của tạo vật mà còn như lời báo tin vui về mùa quả ngọt. Từ "mách lẻo" gợi sự tinh nghịch, đáng yêu, khiến cả khu vườn như có linh hồn. Và rồi chỉ bằng một câu thơ cuối, Nguyễn Bính đã hoàn thiện bức tranh bằng một nét chấm phá đầy tài hoa: "Điểm nhạt da trời những chấm son." Nền trời xanh nhạt được ví như làn da trong trẻo của thiếu nữ, còn những quả hồng chín đỏ trở thành "chấm son" nổi bật trên bức họa thiên nhiên. Sự phối hợp giữa gam xanh dịu và sắc đỏ ấm tạo nên điểm nhấn thị giác đầy sức gợi. Chỉ một nét vẽ, cả không gian bỗng trở nên có chiều sâu, có ánh sáng và có linh hồn.
Điều làm nên sức hấp dẫn của đoạn thơ không chỉ nằm ở những hình ảnh dân dã mà còn ở khả năng cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan. Người đọc nhìn thấy màu xanh của trời, màu đỏ của hồng chín; ngửi thấy hương hoa thiên lý; nghe tiếng chim, câu hát, nhịp võng ru; cảm nhận nhịp chuyển động của gió, của lá, của đàn kiến và của mùa màng đang lớn lên. Thiên nhiên hiện ra như một cơ thể sống, mỗi cành cây, chiếc lá, trái na hay bông lúa đều mang nhịp thở riêng. Đó chính là kết quả của một tâm hồn gắn bó máu thịt với làng quê và luôn nhìn cảnh vật bằng ánh mắt yêu thương.
Ba khổ thơ đầu của “Chiều thu” vì thế không chỉ là bức tranh thiên nhiên của một buổi chiều nơi đồng quê Bắc Bộ mà còn là bức chân dung của hồn quê Việt Nam. Giữa nhịp sống hiện đại đầy vội vã, những vần thơ của Nguyễn Bính vẫn giữ nguyên vẻ đẹp trong trẻo như một làn gió thu nhẹ lướt qua ký ức, nhắc mỗi người nhớ về cánh đồng, khu vườn, tiếng ru và những điều bình dị đã nuôi lớn tâm hồn dân tộc suốt bao thế hệ.
Bài tham khảo Mẫu 4
Nếu mùa thu trong thơ Lưu Trọng Lư là tiếng xạc xao của lá vàng khô dưới gót nai ngơ ngác, trong thơ Xuân Diệu là sắc áo mơ phai dệt nên một nỗi buồn kiều diễm, thì thu của Nguyễn Bính lại tìm về bờ cõi nguyên sơ nhất của tâm hồn Việt: làng cảnh chân quê. Không ồn ào phô diễn những tân kỳ của phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính chọn làm một kẻ hành hương ngược dòng thời gian, neo giữ linh hồn xứ sở vào từng bờ tre, mái rạ, từng nhịp võng đung đưa. Đoạn thơ trích trong bài "Chiều thu", từ "Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ" đến "Điểm nhạt da trời những chấm son" chính là một bức tranh thủy mặc đượm chất thơ, nơi thiên nhiên được dệt bằng tơ trời, hương đất và những chuyển động vi diệu của sự sống làng quê buổi hoàng hôn
Ngay từ những nét chấm phá đầu tiên, thi sĩ đã mở ra một chiều kích không gian cao rộng, khoáng đạt nhưng tĩnh lặng đến tuyệt đối:
"Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,
Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu.
Con cò bay lả trong câu hát,
Giấc trẻ say dài nhịp võng ru."
Tính từ "thăm thẳm" không chỉ đo chiều cao của vòm trời mà còn khơi sâu cái nhìn thăm dò vào lòng vũ trụ. Trời thu xanh ngắt dường như không còn ở trên cao, nó soi bóng, "lộng" vào tận đáy hồ sâu thẳm, tạo nên một sự phản chiếu đa chiều. Đất trời lúc này như một tấm gương soi khổng lồ, hòa nhập vào nhau trong một trạng thái thanh sạch nguyên sơ. Giữa cõi lặng tờ ấy, khứu giác của người thưởng cảnh bỗng thức dậy bởi một làn hương thanh nhẹ: "Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu". Cái tài của Nguyễn Bính là không dùng những tính từ mạnh, chỉ một chữ "thoảng" đã đủ vẽ nên cái hồn cốt của mùa thu xứ Bắc – một làn hương mộc mạc, dịu dàng, lảng bảng lướt qua tâm tưởng. Không dừng lại ở cảnh vật tĩnh tại, điệu hồn quê hương tiếp tục ngân lên qua những hình ảnh đậm đà phong vị ca dao: con cò bay lả và tiếng võng ru. Cánh cò trắng muốt mang theo cả hồn vía dân tộc khẽ khàng nghiêng xuống giấc nồng của trẻ thơ. Không gian thiên nhiên và không gian sinh hoạt của con người lồng quyện vào nhau, khiến chiều thu dẫu mênh mang mà ấm áp, chở che như lòng mẹ.
Thu mình lại từ cái bao la của vũ trụ, ống kính thơ của Nguyễn Bính dịch chuyển về một cõi riêng gần gũi nơi góc vườn nhà để bắt trọn những xôn xao rất đỗi tinh tế
"Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau.
Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác,
Đàn kiến trường chinh tự thuở nào."
Nghệ thuật nhân hóa khiến ngọn gió thu trở thành những đứa trẻ tinh nghịch đang chơi trò trốn tìm, chạy đuổi nhau qua từng tầng cây lá. Giữa khúc nhạc xạc xào ấy, một âm thanh khẽ khàng nhưng đầy sức gợi vang lên: "Góc vườn rụng vội chiếc mo cau". Chữ "vội" hay đến lạ, nó vừa đặc tả cái rơi rụng tự nhiên theo quy luật của tạo hóa, vừa như chứa đựng cái giật mình của thời gian đang chuyển dịch. Bằng một trái tim nhạy cảm và cái nhìn đầy trìu mến, nhà thơ tiếp tục thổi hồn vào vạn vật xung quanh. Kìa là trái na lúc lỉu trên cành bước vào độ chín, được ví như đứa trẻ "mở mắt, nhìn ngơ ngác" trước sự thay đổi của đất trời. Dưới mặt đất, đàn kiến nhỏ bé đang nối đuôi nhau thực hiện cuộc "trường chinh tự thuở nào". Mọi sinh vật, từ cành cây, ngọn cỏ đến loài côn trùng nhỏ bé, đều mang một nội sinh lực mạnh mẽ, đang cựa quậy, xôn xao dưới nắng chiều, biến khu vườn thành một thế giới cổ tích đầy sinh khí.
Càng về cuối đoạn, bức tranh thơ càng mở rộng biên độ ra đến những cánh đồng bao la và các vòm cây trĩu quả, đẩy cảm xúc người đọc chạm đến đỉnh điểm của sự viên mãn:
"Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.
Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,
Điểm nhạt da trời những chấm son."
Cánh đồng thu hiện lên với vẻ đẹp mơn mởn của "đòng tơ", đang e ấp "ngậm" lấy dòng sữa ngọt ngào để kết tinh thành những hạt cốm non – thứ quà quý báu, tinh túy nhất của đất trời xứ Bắc. Đối lập với sự mềm mại ấy là những chiếc lá lúa "vươn sắc lưỡi gươm con", vừa tả thực hình dáng nhọn sắc, vừa gợi một tư thế kiêu hãnh, căng tràn sức sống trước gió sương. Không gian chiều muộn bỗng trở nên rộn ràng, vui tươi hơn khi có sự xuất hiện của "tiếng chim mách lẻo". Cách nhân hóa hóm hỉnh này biến những chú chim thành những sứ giả đáng yêu, đang tíu tít loan tin về sự hiện diện của cây hồng chín đỏ. Trên cái nền "da trời" đang nhạt nhòa của buổi hoàng hôn, những quả hồng chín xuất hiện rực rỡ như "những chấm son" kiêu hãnh. Phép so sánh ngầm tài hoa này không chỉ làm bừng sáng cả không gian đang chìm vào bóng tối, mà còn thắp lên niềm vui gặt hái, sự ấm áp và viên mĩ của một mùa vàng no ấm.
Khép lại những vần thơ của Nguyễn Bính, dư âm của một buổi chiều thu dường như vẫn còn lảng bảng, vấn vương trong tâm trí người đọc. Đoạn thơ không đơn thuần là một cuốn nhật ký ghi lại những biến chuyển của thiên nhiên, mà là một bức tranh tâm cảnh được vẽ nên từ một tình yêu quê hương máu thịt, sâu nặng. Bằng ngôn từ mộc mạc mà sang trọng, bằng những hình ảnh quen thuộc được nâng niu qua lăng kính lãng mạn, Nguyễn Bính đã chứng minh rằng những điều bình dị nhất của làng quê chính là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị thẩm mỹ vĩnh cửu. Những "chấm son" của quả hồng chín nơi góc trời kia không chỉ làm bừng sáng bức tranh thu, mà đã trở thành những đốm lửa sưởi ấm tâm hồn muôn đời của những người con viễn xứ, luôn thao thiết hướng về cội nguồn dân tộc.
Bài tham khảo Mẫu 5
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bính là người đã đem hồn quê mộc mạc vào thi ca bằng một giọng điệu riêng, chân chất mà giàu sức gợi. Thơ ông không hướng đến những hình ảnh lớn lao, kỳ vĩ mà thường dừng lại trước những điều bình dị của làng quê Bắc Bộ. Đoạn thơ từ "Thăm thẳm trời xanh lặng đáy hồ..." đến "Điểm nhạt da trời những chấm son" trong bài “Chiều thu” đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên trong trẻo, thanh bình, tràn đầy sức sống, đồng thời thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với quê hương.
Bức tranh thiên nhiên mở ra bằng một không gian khoáng đạt, yên ả: "Thăm thẳm trời xanh lặng đáy hồ." Từ láy "thăm thẳm" gợi chiều cao hun hút của bầu trời, đồng thời cũng gợi chiều sâu của mặt hồ trong vắt. Bầu trời và mặt nước như soi chiếu vào nhau, khiến không gian mở rộng đến vô cùng. Gam màu xanh dịu trải khắp bức tranh tạo nên cảm giác thanh sạch và bình yên của một buổi chiều đầu thu. Giữa khoảng không tĩnh lặng ấy, "Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu" khẽ lan tỏa. Nhà thơ không chỉ cảm nhận thiên nhiên bằng đôi mắt mà còn bằng khứu giác. Động từ "thoảng" diễn tả làn hương nhẹ đến mức chỉ cần một cơn gió lướt qua cũng đủ đánh thức cảm nhận của con người. Hương hoa thiên lý khiến cảnh thu trở nên dịu dàng, tinh khiết và giàu chất thơ.
Không gian ấy tiếp tục được tô điểm bằng những hình ảnh gần gũi với làng quê Việt Nam. "Con cò bay lả trong câu hát" gợi nhớ cánh cò của ca dao, dân ca, biểu tượng cho cuộc sống thanh bình và nền văn hóa dân tộc. Cách diễn đạt "trong câu hát" khiến cánh cò như đang chao nghiêng giữa những điệu hò, lời ru quen thuộc, làm cho thiên nhiên và đời sống con người hòa quyện vào nhau. Đến câu thơ "Giấc trẻ say dài nhịp võng ru", bức tranh thu càng trở nên ấm áp. Tiếng võng đưa, lời ru của mẹ cùng giấc ngủ yên lành của trẻ thơ đã làm cho thiên nhiên mang hơi thở của cuộc sống. Cảnh vật không chỉ đẹp bởi sắc màu mà còn đẹp bởi tình người bình dị.
Nếu khổ thơ đầu thiên về vẻ tĩnh lặng thì khổ thơ tiếp theo lại nổi bật bởi những chuyển động nhẹ nhàng của tạo vật. "Lá thấp cành cao gió đuổi nhau" là hình ảnh giàu sức gợi. Gió vô hình được cảm nhận qua những chiếc lá đang lay động, còn động từ "đuổi" khiến thiên nhiên như có linh hồn, có niềm vui hồn nhiên của tuổi nhỏ. Câu thơ "Góc vườn rụng vội chiếc mo cau" ghi lại một khoảnh khắc rất đỗi bình thường, song chữ "vội" đã khiến người đọc cảm nhận được bước đi lặng lẽ của thời gian và nhịp chuyển mùa của đất trời.
Đặc biệt, Nguyễn Bính đã nhìn thiên nhiên bằng con mắt đầy yêu thương và tưởng tượng. "Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác" là một nét vẽ giàu chất tạo hình. Những mắt na được nhân hóa thành đôi mắt trẻ thơ, ngơ ngác trước vẻ đẹp của cuộc đời. Hình ảnh ấy vừa hồn nhiên, vừa đáng yêu, thể hiện tâm hồn nhạy cảm của thi sĩ. Bên dưới khu vườn, "Đàn kiến trường chinh tự thuở nào" vẫn nối nhau miệt mài kiếm ăn. Hai chữ "trường chinh" đã nâng hành trình nhỏ bé của đàn kiến thành biểu tượng cho sự bền bỉ, cần mẫn của muôn loài trong vòng tuần hoàn bất tận của sự sống.
Đến khổ thơ cuối, bức tranh thu chuyển sang gam màu ấm áp của mùa quả chín. "Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non" là hình ảnh đặc trưng của đồng quê Bắc Bộ vào đầu thu. Động từ "ngậm" khiến bông lúa như đang nâng niu những hạt ngọc đầu mùa, gợi cảm giác căng tràn sức sống và niềm hy vọng về một vụ mùa bội thu. Hình ảnh "Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con" lại đem đến vẻ khỏe khoắn của cây cỏ đang vươn mình lớn lên dưới nắng thu. Thiên nhiên vừa mềm mại, vừa chứa đựng nguồn sinh lực mạnh mẽ.
Âm thanh của buổi chiều thu tiếp tục vang lên trong câu thơ "Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín". Tiếng chim như một lời báo tin vui về mùa quả ngọt. Từ "mách lẻo" khiến thiên nhiên trở nên gần gũi, tinh nghịch và có tâm hồn. Đến câu thơ cuối, "Điểm nhạt da trời những chấm son", Nguyễn Bính đã tạo nên một nét chấm phá đầy tài hoa. Trên nền trời xanh nhạt, những quả hồng chín đỏ hiện lên như những "chấm son" nổi bật. Chỉ một hình ảnh đã làm bừng sáng cả bức tranh thu, tạo nên sự hài hòa giữa gam màu dịu mát và sắc đỏ ấm nồng của mùa chín.
Với ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi cùng nghệ thuật nhân hóa, so sánh và chấm phá đặc sắc, Nguyễn Bính đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên giàu sức sống, đậm hồn quê Việt Nam. Thiên nhiên trong “Chiều thu” không chỉ có màu sắc, âm thanh và hương thơm mà còn mang nhịp thở của cuộc sống, chứa đựng tình yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ. Những vần thơ nhẹ nhàng ấy vẫn còn nguyên sức lay động bởi chúng nhắc mỗi người nhớ về vẻ đẹp bình dị của quê hương, nơi lưu giữ những giá trị bền vững nhất của tâm hồn Việt.
- Top 45 Bài văn phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Tết quê bà (Đoàn Văn Cừ) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Nói với em (Vũ Quần Phương) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ “Tình cha” (Cao Giang Nam) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ “Áo trắng” (Huy Cận) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn phân tích bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ "Thăm thẳm trời xanh lặng đáy hồ ... Điểm nhạt da trời những chấm son" bài thơ Chiều thu - Nguyễn Bính hay nhất
- Top 45 Bài văn phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Tết quê bà (Đoàn Văn Cừ) hay nhất
- Top 45 Bài văn sáng tỏ ý kiến “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” qua bài thơ “Đưa con đi học” của nhà thơ Tế Hanh hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nghị luận phân tích không gian trữ tình trong bài thơ Khi mùa thu sang (Trần Đăng Khoa) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nêu cảm nhận về bài thơ Em yêu quê hương (Nguyễn Thị Tình) hay nhất




Danh sách bình luận