Viết bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người” (Chu Văn Sơn) bằng những trải nghiệm văn học >
I. Mở bài - Dẫn dắt vào thế giới nghệ thuật trong thơ ca: Khẳng định sự xuất hiện và đồng hành của thơ ca trong đời sống của con người.
Dàn ý
I. Mở bài
- Dẫn dắt vào thế giới nghệ thuật trong thơ ca: Khẳng định sự xuất hiện và đồng hành của thơ ca trong đời sống của con người.
- Dẫn dắt vào vấn đề của nhận định: Thơ ca không chỉ tạo nên những rung động cho con người trong hiện tại mà còn nhắc nhở con người về những miền ký ức đẹp đẽ trong quá khứ.
II. Thân bài
1. Giải thích
- Câu thơ hay: Thơ không phải là một cách ghép vần của “trò chơi ngôn từ”, một câu thơ hay phải mang đến giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc.
- Đánh thức: Không phải chỉ là một sự nhắc lại, lặp lại những điều đã xảy ra trong quá khứ. “Đánh thức” nghĩa là làm sống lại, gợi dậy những xúc cảm, những câu chuyện đã xảy ra
- Ấn tượng vốn đã ngủ quên: Là những ký ức, những xúc cảm, những câu chuyện mang đến cho con người những trải nghiệm sống như tình mẫu tử, tình cảm với quê hương, xóm làng,... Nhưng những ấn tượng đẹp đẽ ấy đã dần bị thời gian cuốn trôi vào quên lãng, đã dần mờ nhạt trong trái tim và trong trí nhớ của con người.
=> Vấn đề nghị luận: Vai trò của thơ ca là giúp con người nhận ra những giá trị từng bị lãng quên để sống sâu sắc hơn với quá khứ và hiện tại.
2. Bàn luận
a) Tại sao câu thơ hay phải đánh thức những ấn tượng vốn đã ngủ quên?
- Đánh thức kí ức chính là đánh thức phần sâu kín nhất của tâm hồn con người bởi những điều khiến con người ấn tượng chắc hẳn phải có tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm hồn của họ. Ký ức là nơi lưu giữ những trải nghiệm thậm chí là nơi chứa đựng những xung đột, những bất toàn, những điều con người dường như muốn quên đi. Nhưng sự chôn vùi những ký ức ấy chỉ làm con người đánh mất chính mình, trở nên do dự không dám đối mặt và bước tiếp.
=> Câu thơ đánh thức ấn tượng đã ngủ quên nghĩa là đã đánh thức bản ngã sâu kín của con người để giúp con người hiểu hơn về chính mình.
- Đánh thức những ấn tượng vốn đã ngủ quên cũng là một cách để văn chương thực hiện sứ mệnh của nó đó là sứ mệnh giáo dục con người. Những đức tính tốt đẹp như “tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”, những con người đáng kính trọng, những mảnh đất đáng để trở về đã được thơ ca tái hiện lại bằng những con chữ để trái tim bạn đọc sẽ rung lên khi từng câu từ ấy chạm vào mùi cỏ rơm của quê hương, chạm vào bài giảng mà thầy đã dạy, chạm vào lời ru mà bà từng ngân nga.
* Dẫn chứng: Điều đó được thể hiện rõ trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy. Ánh trăng trong bài thơ không chỉ là một hình ảnh của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình, của những năm tháng gian lao đã góp phần tạo nên nhân cách con người. Khi sống giữa tiện nghi của cuộc sống hiện đại, nhân vật trữ tình dần lãng quên vầng trăng, chỉ đến khi "thình lình đèn điện tắt", ánh trăng bất ngờ hiện lên, kéo theo cả một miền kí ức tưởng đã ngủ yên: những năm tháng sống giữa đồng, giữa sông, giữa bể; những năm tháng chiến tranh gắn bó với thiên nhiên và đồng đội. Đặc biệt, hình ảnh "ánh trăng im phăng phắc" là một sáng tạo nghệ thuật giàu sức gợi. Vầng trăng không trách móc, không lên án, nhưng chính sự im lặng bao dung ấy lại trở thành lời thức tỉnh sâu sắc nhất, khiến con người phải đối diện với sự vô tình của chính mình. Có thể thấy, câu thơ hay không áp đặt bài học đạo đức bằng những lời giáo huấn trực tiếp mà đánh thức phần lương tri và bản ngã sâu kín trong mỗi con người. Khi kí ức được khơi dậy, con người không chỉ nhớ về quá khứ mà còn nhận ra những giá trị để biết sống ân nghĩa hơn ở hiện tại.
b) Tại sao thơ lại có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn đã ngủ quên?
- Thơ bắt nguồn từ cảm xúc của con người. Cội nguồn của thơ ca là những rung động chân thành trước cuộc sống. Bởi vậy, thơ luôn lưu giữ những cung bậc cảm xúc nguyên sơ, mãnh liệt và chân thực nhất của con người. Chính sự đồng điệu giữa cảm xúc của người nghệ sĩ và người đọc đã khiến những xúc cảm tưởng chừng đã bị thời gian phủ lấp bỗng được khơi dậy.
- Thơ không kể lể hay diễn giải tường tận mà chắt lọc những từ ngữ tinh luyện nhất để tạo nên những khoảng trống nghệ thuật. Chính những khoảng trống ấy mở ra không gian cho sự liên tưởng và đồng sáng tạo của người đọc. Bởi thơ luôn hướng tới nguyên lí "ý tại ngôn ngoại", nên đằng sau lớp nghĩa của câu chữ còn là những tầng ý nghĩa chưa nói hết, để mỗi người đọc bằng vốn sống và trải nghiệm riêng lại tìm thấy một sự đồng cảm khác nhau. Chính vì thế cùng một câu thơ nhưng có thể khơi dậy trong mỗi người một miền kí ức và một thế giới cảm xúc riêng biệt.
- Hình ảnh thơ giàu sức gợi, khác với nghệ thuật hội họa sử dụng những gam màu nóng lạnh để mang đến sự biểu đạt chi tiết. Thơ ca dùng vũ khí mạnh nhất của mình đó là ngôn ngữ để mã hóa chúng lại thành hình ảnh. Hình tượng thơ không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn được tiếp nhận bằng mọi giác quan và bằng cả tâm hồn. Khi đọc thơ, người đọc không chỉ nhìn thấy hình ảnh mà còn tự kết nối nó với những trải nghiệm, kỉ niệm và cảm xúc của chính mình.
- Nhịp điệu và tính nhạc trong thơ ca sẽ tác động vào cảm xúc của con người. Nhịp thơ khi khoan thai, sâu lắng; khi dồn dập, mãnh liệt; khi ngân nga, da diết không chỉ tạo nên vẻ đẹp âm hưởng mà còn dẫn dắt cảm xúc của người đọc bước vào thế giới nghệ thuật. Trong dòng chảy của nhịp điệu ấy, trái tim con người trở nên nhạy cảm và rộng mở hơn, như đang lắng nghe tiếng vọng của chính mình, với một tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết như thể đang chực chờ đón nhận một kỷ niệm nào đó đã vô tình lãng quên.
* Dẫn chứng: Bằng Việt không miêu tả tỉ mỉ tuổi thơ hay người bà mà chỉ chắt lọc một hình tượng trung tâm là bếp lửa. Từ hình ảnh bình dị ấy, hàng loạt tầng ý nghĩa được mở ra: bếp lửa là hơi ấm của gia đình, là bóng dáng người bà tần tảo, là cội nguồn của yêu thương và cũng là ngọn lửa của niềm tin được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính tính biểu tượng của hình tượng ấy đã tạo nên khoảng trống nghệ thuật để mỗi người đọc tự lấp đầy bằng kí ức về mái nhà, về căn bếp, về những người thân yêu của riêng mình. Nếu Bằng Việt khơi gợi kí ức bằng một hình ảnh, thì Xuân Quỳnh lại lựa chọn một âm thanh rất đỗi quen thuộc, đó là tiếng gà trưa. Tiếng gà không chỉ là âm thanh của làng quê mà còn là tín hiệu nghệ thuật mở ra cả một dòng hồi tưởng về người bà, về tuổi thơ và cuối cùng kết tinh thành tình yêu quê hương, đất nước. Đặc biệt, nhịp thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ, cùng sự lặp lại của cụm từ "tiếng gà trưa" tạo nên một âm hưởng ngân nga như tiếng vọng của kí ức, khiến mạch cảm xúc lan tỏa tự nhiên trong lòng người đọc. Có thể thấy, chỉ bằng một hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi kết hợp với nhạc tính giàu sức truyền cảm, cả hai bài thơ đã chứng minh rằng thơ ca không cần những hình ảnh lớn lao hay lời lẽ cầu kì; đôi khi chỉ một bếp lửa, một tiếng gà cũng đủ mở cánh cửa kí ức và đánh thức những rung động sâu kín nhất trong tâm hồn con người.
3. Mở rộng
* Thơ hay không chỉ đánh thức những kỷ niệm mà còn khơi dẫn trực giác, trí tưởng tượng của người đọc, lưu giữ những khoảnh khắc của đời sống để con người hòa mình với thiên nhiên. (Dẫn chứng: những tác phẩm thơ Haiku)
* Vai trò, sứ mệnh của nhà thơ và bạn đọc
- Nhà thơ cần phải là người thư ký trung thành, lưu giữ những ký ức chân thực nhất của con người, của thời đại. Nhà thơ cần trải nghiệm đời sống đa chiều, để thật sự thấu hiểu con người, thấu hiểu cuộc đời. Hơn cả, anh phải tạo dựng thế giới nghệ thuật đặc sắc để thu hút độc giả tự nguyện trải nghiệm thế giới nghệ thuật của anh
- Bạn đọc cần mở rộng “đường biên trái tim” đón lấy những làn gió thơ ca mới mẻ để cùng đối thoại với nhà thơ, để tìm về những miền kí ức và để hiểu hơn về chính mình, về hiện tại và về những điều thuộc về quá khứ
III. Kết bài
- Khẳng định lại: Vai trò của thơ ca là giúp con người khơi dậy những ấn tượng đã ngủ quên
- Khái quát sứ mệnh của thơ ca và nhà thơ trong đời sống con người
Bài siêu ngắn Mẫu
Thơ ca từ lâu đã trở thành tiếng nói tinh tế của tâm hồn con người. Không chỉ lưu giữ cảm xúc của hiện tại, thơ còn có khả năng đưa con người trở về với những miền kí ức tưởng đã bị thời gian phủ mờ. Bởi vậy, nhận định của Chu Văn Sơn: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người” đã khẳng định những giá trị cốt lõi của thơ ca.
Câu thơ hay không chỉ đẹp ở ngôn từ mà còn phải giàu giá trị tư tưởng và sức lay động. “Đánh thức” không đơn thuần là gợi nhớ mà là làm sống dậy những xúc cảm, những trải nghiệm từng in dấu trong tâm hồn. Khi đánh thức ký ức, thơ giúp con người đối diện với bản ngã, nhận ra những giá trị đã góp phần tạo nên chính mình, đồng thời thực hiện chức năng nhân văn bằng cách bồi đắp tình yêu quê hương, gia đình và lòng biết ơn. Điều đó được thể hiện rõ trong Ánh trăng của Nguyễn Duy, khi vầng trăng lặng lẽ đưa nhân vật trữ tình trở về với quá khứ nghĩa tình và thức tỉnh lương tri.
Sở dĩ thơ làm được điều đó bởi thơ bắt nguồn từ những rung động chân thành. Ngôn ngữ hàm súc, hình tượng giàu sức gợi, nhạc điệu giàu cảm xúc đã mở ra những khoảng trống để người đọc đồng sáng tạo. Chỉ từ một bếp lửa trong thơ Bằng Việt hay một tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh, cả một miền tuổi thơ, tình bà và tình quê được khơi dậy.
Tuy nhiên, thơ hay không chỉ đánh thức kí ức mà còn mở ra những suy ngẫm về cuộc sống và bồi đắp đời sống tinh thần. Vì thế, nhà thơ cần sống sâu sắc để lưu giữ những giá trị chân thực của con người và thời đại; còn người đọc cần mở rộng tâm hồn để đối thoại với thơ, từ đó hiểu hơn về bản thân và sống ý nghĩa hơn.
Sức sống của một câu thơ không chỉ nằm ở sự trau chuốt của ngôn từ mà còn ở khả năng chạm đến những tầng sâu nhất của tâm hồn con người. Khi một câu thơ khiến ta nhớ về cội nguồn, đối diện với chính mình và biết trân trọng những giá trị đã từng lãng quên, ấy là lúc thơ đã hoàn thành sứ mệnh cao đẹp của mình: gìn giữ kí ức, nuôi dưỡng tâm hồn và đồng hành cùng con người trên hành trình hướng tới những giá trị chân – thiện – mỹ.
Bài tham khảo Mẫu 1
Trong dòng chảy của văn học nhân loại, thơ ca luôn là tiếng nói tinh tế nhất của tâm hồn con người. Một bài thơ hay không chỉ khiến con người xúc động ở khoảnh khắc hiện tại mà còn có khả năng đưa họ trở về với những miền ký ức tưởng như đã bị thời gian phủ bụi. Bởi vậy, nhà phê bình Chu Văn Sơn từng khẳng định: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người.” Đó là một nhận định sâu sắc, khẳng định giá trị đặc biệt của thơ ca đối với đời sống tinh thần của mỗi chúng ta.
Vậy ta trăn trở, đâu là chuẩn mực để xác định một câu thơ hay? Chắc hẳn câu thơ hay không đơn thuần là sự sắp xếp khéo léo của ngôn từ mà là sự kết tinh giữa nội dung tư tưởng sâu sắc và nghệ thuật biểu đạt đặc sắc. Một câu thơ hay phải chạm được đến chiều sâu tâm hồn người đọc, mang lại những giá trị thẩm mĩ và nhân văn bền vững. Đánh thức không phải chỉ là nhắc lại những điều đã xảy ra trong quá khứ mà là làm sống dậy những xúc cảm, những câu chuyện, những kỷ niệm từng hiện hữu trong tâm hồn con người. Thơ hay đánh thức những ấn tượng vốn đã ngủ quên chính là đánh thức những ký ức đẹp đẽ về tình cảm, về những con người thân thương hay những trải nghiệm quý giá của cuộc đời. Thế nhưng theo dòng chảy của thời gian, những ký ức ấy có thể dần mờ nhạt trong trí nhớ và trái tim con người. Bởi vậy, nhận định của nhà phê bình Chu Văn Sơn đã khẳng định một vai trò quan trọng của thơ ca: giúp con người nhận ra những giá trị từng bị lãng quên để sống sâu sắc hơn với quá khứ và hiện tại.
Vậy vì sao một câu thơ hay phải có khả năng đánh thức những ấn tượng vốn đã ngủ quên? Có lẽ đánh thức ký ức chính là đánh thức phần sâu kín nhất của tâm hồn con người, những điều đã để lại ấn tượng sâu sắc, từng có tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của mỗi cá nhân. Hơn cả, ký ức còn là nơi lưu giữ những trải nghiệm, những yêu thương, những mất mát, thậm chí là cả những xung đột và bất toàn mà con người nhiều khi muốn lãng quên. Tuy nhiên, việc chôn vùi những ký ức ấy không khiến con người trở nên mạnh mẽ hơn mà đôi khi chỉ làm họ đánh mất chính mình, trở nên do dự, ngại đối diện với quá khứ. Vì thế, khi thơ ca khơi dậy những ký ức tưởng đã ngủ yên, cũng chính là lúc con người được đối thoại với chính bản thân mình, hiểu hơn về nguồn cội của những cảm xúc và suy nghĩ trong hiện tại.
Không chỉ vậy, đánh thức những ấn tượng đã ngủ quên cũng là cách để văn chương thực hiện sứ mệnh giáo dục con người. Thơ ca không lên lớp bằng những lời răn dạy khô khan mà gieo vào lòng người những xúc cảm chân thành. Những giá trị đạo đức như “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”, tình yêu quê hương hay lòng biết ơn đối với những con người bình dị được lưu giữ qua từng câu thơ. Khi những con chữ chạm vào mùi cỏ rơm của làng quê, vào lời ru của bà, vào bài giảng của thầy, trái tim người đọc sẽ tự nhiên rung động và nhận ra những điều tưởng như đã bị quên lãng. Điều ấy đã được thể hiện rõ trong bài thơ "Ánh trăng" của Nguyễn Duy. Hình ảnh vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình. Cuộc gặp gỡ bất ngờ với ánh trăng sau khi mất điện đã khiến nhân vật trữ tình bừng tỉnh, nhớ lại những năm tháng gắn bó với thiên nhiên và đồng đội. Ánh trăng trở thành chiếc cầu nối đưa con người trở về với ký ức, nhắc nhở về lòng thủy chung, sự biết ơn đối với quá khứ. Chính sự thức tỉnh ấy đã minh chứng cho khả năng kỳ diệu của thơ ca trong việc đánh thức những điều tưởng như đã ngủ quên trong tâm hồn.
Vậy điều gì đã làm nên khả năng đặc biệt ấy của thơ ca? Trước hết, thơ bắt nguồn từ cảm xúc của con người. Cội nguồn của thơ là những rung động chân thành trước cuộc sống. Người nghệ sĩ chỉ cất tiếng nói khi trái tim mình thực sự rung động. Vì thế, thơ luôn lưu giữ những cảm xúc nguyên sơ, mãnh liệt và chân thực nhất. Khi người đọc bắt gặp trong thơ những cung bậc tình cảm giống với trải nghiệm của mình, sự đồng điệu ấy sẽ làm sống dậy những xúc cảm đã bị thời gian phủ lấp. Bên cạnh đó, thơ không kể lể hay diễn giải dài dòng mà luôn chắt lọc những từ ngữ tinh luyện để tạo nên những khoảng trống nghệ thuật. Chính những khoảng trống ấy mở ra không gian liên tưởng và đồng sáng tạo cho người đọc. Thơ luôn hướng tới nguyên lí “ý tại ngôn ngoại”, nghĩa là sau lớp nghĩa của câu chữ còn có những tầng ý nghĩa sâu xa chưa được nói hết. Mỗi người đọc bằng vốn sống và trải nghiệm riêng sẽ tự lấp đầy khoảng trống ấy bằng những ký ức của chính mình. Bởi vậy, cùng một câu thơ nhưng lại có thể gợi lên trong mỗi người một miền ký ức và một thế giới cảm xúc khác nhau.
Đặc biệt, hình ảnh thơ giàu sức gợi là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sức lay động của thơ ca. Nếu hội họa sử dụng màu sắc để tái hiện thế giới thì thơ dùng ngôn ngữ để mã hóa hiện thực thành hình tượng nghệ thuật. Người đọc không chỉ nhìn thấy hình ảnh bằng thị giác mà còn cảm nhận bằng mọi giác quan và bằng cả tâm hồn. Một bếp lửa, một tiếng gà, một vầng trăng hay một cánh đồng đều có thể trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa ký ức trong lòng người. Đó cũng là lý do "Bếp lửa" của Bằng Việt luôn khiến bao thế hệ độc giả xúc động. Hình ảnh bếp lửa không chỉ gợi nhớ người bà tần tảo mà còn đánh thức cả tuổi thơ nghèo khó nhưng đong đầy yêu thương. Từ bếp lửa bình dị, nhà thơ đã khơi dậy trong lòng người đọc những ký ức về gia đình, về quê hương, về tình bà cháu thiêng liêng. Bên cạnh đó, "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh cũng cho thấy sức mạnh của thơ trong việc đánh thức ký ức. Chỉ từ âm thanh quen thuộc của tiếng gà giữa đường hành quân, cả một miền tuổi thơ với hình bóng người bà, những quả trứng hồng, những kỷ niệm hồn nhiên bỗng hiện về nguyên vẹn. Chính sự cộng hưởng giữa hình ảnh, ngôn ngữ và cảm xúc đã khiến những bài thơ ấy sống mãi trong lòng bạn đọc.
Không chỉ dừng lại ở việc đánh thức ký ức, thơ hay còn khơi mở trực giác và trí tưởng tượng của người đọc, lưu giữ những khoảnh khắc đẹp của đời sống để con người hòa mình với thiên nhiên và vũ trụ. Điều đó được thể hiện rõ qua những bài thơ Haiku của Nhật Bản. Chỉ với vài ba câu thơ ngắn gọn, Haiku vẫn mở ra cả một không gian mênh mang để người đọc tự cảm nhận và tự đối thoại với chính mình. Nhờ vậy, thơ không chỉ giúp con người tìm về quá khứ mà còn mở rộng chiều sâu cảm nhận đối với cuộc sống hiện tại. Từ đó, có thể thấy vai trò và sứ mệnh của nhà thơ cũng như bạn đọc là vô cùng quan trọng. Nhà thơ phải là người thư ký trung thành của cuộc sống, lưu giữ những ký ức chân thực nhất của con người và của thời đại. Muốn làm được điều ấy, người nghệ sĩ phải sống sâu sắc, trải nghiệm cuộc đời bằng nhiều góc nhìn để thấu hiểu con người, đồng thời kiến tạo một thế giới nghệ thuật giàu sức hấp dẫn nhằm đưa người đọc bước vào hành trình khám phá cảm xúc. Về phía bạn đọc, cần mở rộng “đường biên trái tim”, sẵn sàng đón nhận những làn gió mới của thơ ca, chủ động đối thoại với nhà thơ để tìm về những miền ký ức, từ đó hiểu hơn về chính mình, về hiện tại và về những giá trị thuộc về quá khứ.
Nhận định của Chu Văn Sơn đã khẳng định một đặc trưng quan trọng của thơ ca: thơ hay là thơ có khả năng khơi dậy những ấn tượng tưởng như đã ngủ quên trong tâm hồn con người. Chính khả năng ấy đã làm nên sức sống lâu bền của thơ ca qua mọi thời đại. Bằng những câu chữ hàm súc, giàu hình ảnh và cảm xúc, thơ giúp con người tìm lại những giá trị đã bị thời gian che phủ, nuôi dưỡng đời sống tinh thần và hướng con người đến những điều tốt đẹp hơn. Đó cũng là sứ mệnh cao quý của thơ ca và của người nghệ sĩ trên hành trình đồng hành cùng con người trong cuộc sống.
Bài tham khảo Mẫu 2
Có những ký ức không mất đi, chúng chỉ lặng lẽ nằm yên ở một góc nào đó trong tâm hồn con người. Chỉ cần một mùi hương quen thuộc, một âm thanh vô tình bắt gặp hay một câu thơ ngân lên đúng lúc, cả một miền quá khứ bỗng ùa về nguyên vẹn. Có lẽ bởi vậy mà thơ ca từ bao đời nay vẫn luôn có sức sống bền bỉ. Thơ không chỉ ghi lại cảm xúc của người viết mà còn trở thành cánh cửa mở ra ký ức trong lòng người đọc. Bàn về sức mạnh ấy của thơ ca, nhà phê bình Chu Văn Sơn từng khẳng định: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người.” Đó là một nhận định giàu ý nghĩa, giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của thơ ca đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
Raxun Gamzatop từng khẳng định “Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp.” Thật vậy, câu thơ hay không chỉ là câu thơ có vần điệu đẹp hay ngôn từ trau chuốt, một câu thơ thực sự có giá trị phải kết tinh được cả chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp nghệ thuật, phải để lại dư âm lâu bền trong tâm hồn người đọc. Hai chữ “đánh thức” được nhà phê bình Chu Văn Sơn sử dụng thật tinh tế, bởi nó không đơn thuần là hành động gợi nhắc lại một sự việc đã qua, mà là làm cho những cảm xúc, những kỷ niệm tưởng như đã chìm sâu trong quá khứ bỗng trở nên sống động. Còn những ấn tượng vốn ngủ quên chính là những ký ức đẹp đẽ về gia đình, quê hương, tuổi thơ, về những con người từng đi qua cuộc đời ta và để lại dấu ấn. Theo năm tháng, những điều ấy có thể bị lớp bụi thời gian phủ kín, nhưng chưa bao giờ mất hẳn. Bởi vậy, nhận định của Chu Văn Sơn đã khẳng định một thiên chức cao đẹp của thơ ca: khơi dậy những giá trị từng bị lãng quên để con người biết trân trọng quá khứ và sống ý nghĩa hơn trong hiện tại.
Một câu thơ hay trước hết phải có khả năng đánh thức những ấn tượng bởi ký ức chính là phần sâu thẳm nhất của tâm hồn con người. Đó có thể là một lời dạy của cha mẹ, một buổi chiều trên cánh đồng quê, một mái trường cũ hay một bàn tay từng nắm lấy mình trong những năm tháng khó khăn. Cuộc sống bận rộn khiến con người nhiều khi vô tình để những ký ức ấy lùi vào quên lãng. Thế nhưng, khi một câu thơ chạm đúng vào miền cảm xúc đó, ta bỗng nhận ra mình chưa từng quên, chỉ là chưa có dịp để nhớ. Nhờ đó, con người được trở về với chính mình, nhận ra cội nguồn đã nuôi dưỡng tâm hồn mình lớn lên. Hơn thế, đánh thức ký ức cũng là cách thơ ca bồi đắp nhân cách con người. Những bài học về lòng biết ơn, về tình yêu quê hương, về đạo lý sẽ trở nên tự nhiên và bền vững hơn khi được gửi gắm qua cảm xúc. Thơ không áp đặt người đọc phải ghi nhớ một điều gì, mà khiến họ tự nguyện nhớ, tự nguyện rung động. Khi ký ức được khơi dậy, những giá trị tốt đẹp cũng theo đó được hồi sinh. Con người vì thế biết sống chậm hơn, biết yêu thương nhiều hơn và biết gìn giữ những điều tưởng như bình dị nhất trong cuộc đời. Điều ấy được thể hiện rõ trong bài thơ "Nói với con" của Y Phương. Bài thơ là lời tâm tình của người cha dành cho con, nhưng cũng là lời nhắc nhở mỗi người về cội nguồn đã sinh thành và nuôi dưỡng mình. Những hình ảnh "chân phải bước tới cha, chân trái bước tới mẹ", "người đồng mình" hay "đan lờ cài nan hoa" không chỉ tái hiện vẻ đẹp của quê hương miền núi mà còn gợi lên trong lòng người đọc ký ức về mái ấm gia đình, về nơi mình đã lớn lên. Đọc bài thơ, mỗi người đều có thể bắt gặp bóng dáng quê hương của riêng mình, có thể nhớ đến những con người bình dị đã âm thầm nâng đỡ mình trong suốt hành trình trưởng thành. Chính sự thức dậy của những ký ức ấy khiến lời thơ của Y Phương vượt ra khỏi câu chuyện riêng để trở thành tiếng nói chung của biết bao tâm hồn.
Sở dĩ thơ ca có khả năng đánh thức những ấn tượng đã ngủ quên là bởi thơ được sinh ra từ cảm xúc. Mỗi bài thơ đều bắt đầu từ một rung động chân thành trước cuộc sống. Khi cảm xúc ấy được gửi gắm bằng những câu chữ cô đọng, nó không chỉ phản ánh tâm trạng của nhà thơ mà còn tạo nên sự đồng điệu với trái tim người đọc. Con người có thể khác nhau về hoàn cảnh sống, nhưng đều biết yêu thương, nhớ nhung, biết hạnh phúc và mất mát. Chính sự gặp gỡ giữa những cảm xúc ấy đã khiến thơ trở thành chiếc cầu nối giữa hai tâm hồn, giúp những ký ức tưởng như xa xôi bỗng trở nên gần gũi. Nếu văn xuôi thường kể lại một câu chuyện trọn vẹn thì thơ chỉ giữ lại những nét chấm phá quan trọng nhất. Điều không được nói hết lại chính là khoảng không để người đọc tự hoàn thiện bằng ký ức và trải nghiệm của mình. Thơ luôn hàm súc và giàu sức gợi, một hình ảnh thơ vì thế không chỉ mang ý nghĩa của riêng tác giả mà còn mang theo những câu chuyện của mỗi người đọc. Cùng đọc một bài thơ, mỗi người lại nhớ về một miền ký ức khác nhau, bởi thơ không đóng khung cảm xúc mà mở ra vô vàn khả năng đồng sáng tạo. Đặc biệt, hình tượng thơ và nhạc điệu của thơ là hai yếu tố có khả năng tác động trực tiếp đến cảm xúc con người. Hình ảnh trong thơ thường rất giản dị nhưng chứa đựng sức gợi lớn lao. Nhịp thơ lúc chậm rãi, lúc ngân nga, lúc dồn dập như nhịp đập của trái tim, dẫn dắt người đọc từng bước đi vào thế giới cảm xúc. Chính trong dòng chảy ấy, những ký ức bị phủ mờ bởi thời gian dần hiện lên rõ nét, giống như mặt hồ lặng sóng bỗng phản chiếu lại bầu trời đã từng có.
Điều này được thể hiện rất rõ trong "Bếp lửa" của Bằng Việt. Bài thơ được viết khi nhà thơ đang ở nơi đất khách, cách xa quê hương hàng nghìn cây số. Chính khoảng cách ấy lại khiến ký ức tuổi thơ hiện về rõ ràng hơn bao giờ hết. Chỉ từ hình ảnh bếp lửa, cả một thế giới của tuổi thơ được mở ra: những năm đói kém, những ngày giặc đốt làng, những buổi sớm bà nhóm lửa, tiếng chim tu hú vang lên giữa cánh đồng... Điều đáng nói là bếp lửa trong bài thơ không chỉ là một sự vật quen thuộc mà đã trở thành biểu tượng của tình bà cháu, của sự hy sinh thầm lặng, của niềm tin và hơi ấm gia đình. Bằng Việt không kể lại tuổi thơ như kể một câu chuyện cũ. Ông để từng kỷ niệm hiện lên qua những hình ảnh rất đỗi bình dị, để rồi từ đó người đọc tự nhớ về căn bếp của gia đình mình, nhớ đến bàn tay của bà, của mẹ đã từng nhóm lên những ngọn lửa yêu thương trong cuộc đời. Khi đọc "Bếp lửa", nhiều người không chỉ nhớ đến người bà trong thơ mà còn bất giác nghĩ về chính người bà của mình, về những sáng mùa đông, về mùi khói bếp, về những bữa cơm nghèo nhưng ấm áp. Chính sự đồng điệu ấy đã làm nên sức sống lâu bền của bài thơ. Ký ức của nhà thơ đã trở thành ký ức chung của biết bao thế hệ độc giả.
Tuy nhiên, sức mạnh của thơ không chỉ dừng lại ở việc đánh thức những kỷ niệm đã qua. Một bài thơ hay còn khơi mở trí tưởng tượng và trực giác của con người, giúp người đọc nhìn thấy vẻ đẹp của những điều bình thường nhất trong cuộc sống. Những bài thơ Haiku của Nhật Bản là minh chứng tiêu biểu. Chỉ bằng vài câu thơ ngắn ngủi, Haiku vẫn mở ra cả một không gian rộng lớn của thiên nhiên và lòng người. Người đọc không chỉ cảm nhận cảnh vật mà còn tự hoàn thiện ý nghĩa của bài thơ bằng những trải nghiệm riêng. Đó cũng là một cách để thơ lưu giữ những khoảnh khắc của đời sống và đưa con người đến gần hơn với thiên nhiên, với chính bản thân mình. Để làm được điều đó, người nghệ sĩ trước hết phải là người sống hết mình với cuộc đời. Nhà thơ cần lắng nghe nhịp đập của cuộc sống, gìn giữ những ký ức chân thực nhất của con người và của thời đại, từ đó chuyển hóa chúng thành nghệ thuật. Một bài thơ chỉ có thể chạm đến trái tim người đọc khi trước hết nó được viết ra từ một trái tim chân thành. Về phía bạn đọc, cần bước vào thế giới thơ bằng sự cởi mở và đồng cảm. Chỉ khi biết lắng nghe bằng cả trái tim, người đọc mới có thể đối thoại với nhà thơ, tìm lại những miền ký ức đã xa và hiểu hơn về bản thân mình.
Ý kiến của Chu Văn Sơn đã chỉ ra một trong những giá trị bền vững nhất của thơ ca. Một câu thơ hay không chỉ làm đẹp ngôn từ mà còn đánh thức những điều đẹp đẽ từng lắng sâu trong tâm hồn con người. Nhờ khả năng kỳ diệu ấy, thơ giúp con người tìm lại cội nguồn của cảm xúc, gìn giữ những giá trị nhân văn và nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Có lẽ cũng vì thế mà thơ ca, dù thời gian có trôi đi bao lâu, vẫn luôn đồng hành với con người như một miền ký ức không bao giờ cũ.
Bài tham khảo Mẫu 3
Thời gian có thể làm phai mờ đi những kỷ niệm nhưng sẽ không thể hoàn toàn xóa bỏ chúng, chúng chỉ lặng im, chờ một khoảnh khắc thích hợp để trở về. Đôi khi, khoảnh khắc ấy không đến từ một con đường cũ, một người quen cũ hay một mùi hương cũ, mà lại bắt đầu từ một câu thơ. Chỉ với vài ba dòng ngắn ngủi, thơ ca cũng đủ làm rung động một miền tâm tưởng, để con người bất giác đối diện với những điều tưởng như đã quên. Có lẽ bởi vậy, Chu Văn Sơn đã từng khẳng định: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người.” Nhận định ấy không chỉ nói về vẻ đẹp của thơ mà còn chỉ ra một trong những quyền năng lớn lao nhất của thi ca: khơi dậy chiều sâu tâm hồn và đưa con người trở về với những giá trị bền vững của chính mình.
Câu thơ hay không phải là sản phẩm của sự cầu kỳ trong ngôn ngữ hay những kỹ xảo nghệ thuật phô diễn. Giá trị của một câu thơ nằm ở khả năng chạm đến đời sống tinh thần của con người bằng những cảm xúc chân thật và những phát hiện giàu ý nghĩa về cuộc sống. Đánh thức không đồng nghĩa với việc nhắc lại quá khứ như kể lại một câu chuyện cũ. Đó là quá trình làm cho những cảm xúc từng bị thời gian lắng xuống bỗng sống dậy, khiến con người cảm nhận chúng như vừa mới xảy ra. Và những ấn tượng vốn ngủ quên là gì? Phải chăng, nó chính là những ký ức về gia đình, quê hương, tuổi thơ, những con người thân yêu và những trải nghiệm đã góp phần hình thành nên nhân cách mỗi người nhưng lại bị mờ đi theo dòng chảy của thời gian vạn biến. Vì vậy, ý kiến của Chu Văn Sơn đã khẳng định thiên chức cao đẹp của thơ ca là giúp con người tìm lại những giá trị từng bị lãng quên để từ đó sống có chiều sâu hơn với hiện tại và có trách nhiệm hơn với quá khứ.
Không phải ngẫu nhiên mà một câu thơ hay lại cần có khả năng đánh thức ký ức. Bởi ký ức không đơn thuần là nơi lưu giữ những điều đã qua mà còn là nền móng tạo nên bản sắc của mỗi con người. Những gì ta từng yêu thương, từng mất mát, từng khắc khoải đều âm thầm định hình cách ta nghĩ, ta sống và ta lựa chọn trong hiện tại. Khi con người quên đi cội nguồn của cảm xúc, họ cũng dễ đánh mất chính mình. Bởi thế, thơ ca không kéo con người lùi về quá khứ để nuối tiếc, mà đưa họ trở về để hiểu mình hơn. Một ký ức được đánh thức không phải nhằm níu giữ thời gian đã mất, mà để nhắc con người nhớ rằng mình đã từng sống, từng yêu và từng được yêu như thế nào. Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc của thơ. Hơn thế, thơ ca còn thực hiện chức năng giáo dục bằng hành trình của cảm xúc. Những bài học đạo đức nếu chỉ được truyền đạt bằng lý trí sẽ rất dễ trở thành những chân lý khô cứng. Nhưng khi được gửi gắm trong những vần thơ, chúng lại thấm vào lòng người một cách tự nhiên. Lòng biết ơn, tình yêu quê hương, sự trân trọng đối với gia đình hay những con người bình dị không đến từ sự ép buộc mà được nuôi dưỡng từ những rung động. Một câu thơ hay khiến con người không chỉ hiểu về lẽ phải mà còn khiến con người muốn sống theo điều đúng đắn ấy. Đó là sức mạnh mà không phải loại hình nghệ thuật nào cũng có thể tạo nên.
Điều ấy được thể hiện rất rõ trong bài thơ "Đò Lèn" của Nguyễn Duy. Bài thơ là hành trình trở về của một người đã đi qua chiến tranh và trưởng thành trong những biến động của cuộc đời. Những hình ảnh tưởng như rất bình thường của tuổi thơ: bà ngoại, những phiên chợ, những ngôi đền, những trò chơi trẻ nhỏ... lần lượt hiện lên qua dòng hồi tưởng của tác giả. Chỉ đến khi người bà không còn nữa, nhân vật trữ tình mới nhận ra những hy sinh lặng lẽ và tình yêu bao la mà bà đã dành cho mình. Cảm giác ân hận muộn màng ở cuối bài thơ không chỉ là nỗi lòng riêng của Nguyễn Duy mà còn trở thành tiếng nói chung của nhiều người từng vô tâm trước những điều bình dị nhất. Đọc "Đò Lèn", người đọc không chỉ nhớ về tuổi thơ của nhà thơ mà còn bất giác nhớ đến những người thân yêu trong cuộc đời mình, nhớ đến những điều đã từng được coi là hiển nhiên để rồi một ngày mới nhận ra giá trị của chúng. Chính ở đó, thơ đã hoàn thành sứ mệnh đánh thức những miền ký ức và lay động lương tri con người.
Sở dĩ thơ có thể làm được điều ấy bởi bản chất của thơ là tiếng nói của cảm xúc. Nếu tư duy giúp con người nhận thức thế giới thì cảm xúc giúp con người sống sâu với thế giới ấy. Thơ ra đời từ những rung động mãnh liệt nhất của người nghệ sĩ trước cuộc đời. Vì được sinh ra từ trái tim nên thơ có khả năng kết nối với trái tim. Và chắc hẳn, một cảm xúc chân thành luôn có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn mọi lời lý giải. Khi nhà thơ rung động trước một kỷ niệm, một con người hay một cảnh vật, cảm xúc ấy sẽ tìm được sự đồng vọng nơi người đọc. Chính sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn ấy đã làm cho những ký ức tưởng như đã ngủ yên bỗng được đánh thức. Bên cạnh đó, đặc trưng của ngôn ngữ thơ là sự hàm súc. Nhà thơ chỉ gợi chứ không kể, chỉ mở ra chứ không khép lại ý nghĩa. Khoảng lặng giữa những câu thơ vì thế trở thành không gian để người đọc bước vào bằng chính trải nghiệm của mình. Cùng đọc một bài thơ, không ai có một miền ký ức hoàn toàn giống ai. Điều kỳ diệu là thơ không áp đặt cảm xúc mà trao quyền đồng sáng tạo cho người tiếp nhận. Chính sự không trọn vẹn của ngôn từ lại làm nên sự trọn vẹn của cảm xúc. Hơn nữa, hình tượng thơ và nhạc điệu của thơ luôn mang trong mình một sức gợi đặc biệt. Hình ảnh thơ thường không nhiều nhưng có khả năng mở rộng vô hạn trong trí tưởng tượng. Nhịp điệu của thơ cũng giống như nhịp đập của ký ức: có lúc chậm rãi, lặng lẽ; có lúc dồn dập, mãnh liệt; có lúc ngân dài như một tiếng vọng từ quá khứ. Khi ngôn từ, hình ảnh và âm hưởng hòa quyện với nhau, thơ không chỉ được đọc bằng mắt mà còn được cảm bằng trái tim.
Những điều ấy được thể hiện rất sâu sắc trong "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh. Điều làm nên sức sống của bài thơ không phải là những sự kiện lớn lao mà chỉ bắt đầu từ một âm thanh hết sức bình dị: tiếng gà gáy trên đường hành quân. Tiếng gà ấy không chỉ là âm thanh của hiện thực mà còn là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa ký ức. Từ một âm thanh quen thuộc, cả một thế giới tuổi thơ hiện về: ổ trứng hồng, người bà tần tảo, những lời mắng yêu, niềm vui trẻ nhỏ và hơi ấm của mái nhà quê. Điều đáng quý là Xuân Quỳnh không dừng lại ở việc hồi tưởng. Dòng ký ức ấy tiếp tục vận động để trở thành động lực tinh thần cho người chiến sĩ. Người lính chiến đấu không chỉ vì lý tưởng lớn lao mà còn vì những điều rất đỗi bình thường: vì tiếng gà trưa, vì người bà, vì mái ấm bình yên phía sau lưng. Bởi thế, bài thơ đã chứng minh rằng những ký ức riêng tư không hề tách rời trách nhiệm đối với đất nước. Trái lại, chính những điều bình dị nhất lại tạo nên sức mạnh bền bỉ nhất của con người. Khi đọc "Tiếng gà trưa", mỗi độc giả đều có thể tìm thấy trong mình một âm thanh, một hình ảnh hay một kỷ niệm đủ sức kéo mình trở về với tuổi thơ và nhắc nhở rằng phía sau mỗi bước trưởng thành luôn có bóng dáng của những người đã lặng lẽ yêu thương ta.
Để thơ có thể thực hiện sứ mệnh ấy, trước hết nhà thơ phải là người biết sống sâu với cuộc đời. Người nghệ sĩ không chỉ quan sát hiện thực mà còn phải biết gìn giữ những ký ức chân thực nhất của con người và của thời đại. Chỉ khi trải nghiệm bằng cả trái tim, nhà thơ mới có thể tạo nên những câu thơ đủ sức chạm đến trái tim người khác. Đồng thời, người đọc cũng cần bước vào thế giới thơ bằng sự cởi mở và khả năng đồng cảm. Một bài thơ sẽ chỉ thực sự sống khi có người đọc tiếp nhận nó bằng chính vốn sống, ký ức và cảm xúc của mình. Đó là cuộc gặp gỡ đẹp đẽ giữa hai tâm hồn, nơi người viết trao gửi và người đọc tiếp tục hoàn thiện ý nghĩa của tác phẩm.
Nhận định của Chu Văn Sơn đã chạm đến một bản chất quan trọng của thơ ca. Một câu thơ hay không chỉ đẹp ở câu chữ mà còn có khả năng làm sống dậy những miền ký ức đã lặng im trong tâm hồn con người. Chính nhờ quyền năng ấy mà thơ vượt qua giới hạn của thời gian, trở thành nơi lưu giữ những giá trị bền vững nhất của đời sống. Có lẽ, điều còn lại sau mỗi bài thơ không phải chỉ là vài câu chữ được ghi nhớ, mà là cảm giác ta vừa tìm lại một phần chính mình đã từng tưởng như đánh mất.
Bài tham khảo Mẫu 4
Có những câu thơ đi qua năm tháng không phải bởi chúng lưu giữ một câu chuyện quá lớn lao, mà bởi trong từng con chữ nhỏ bé ấy chứa đựng cả một miền đời đã từng hiện hữu. Đôi khi chỉ một âm thanh quen thuộc, một hình ảnh bình dị hay một nhịp thơ chậm rãi cũng đủ khiến con người bất chợt dừng lại giữa hiện tại để trở về với những năm tháng tưởng như đã xa. Đó có thể là mùi khói bếp của một buổi chiều quê, là tiếng gà vang lên giữa khoảng trời tuổi thơ, là dáng người bà lặng lẽ bên những nhọc nhằn của cuộc sống. Bởi thơ ca không chỉ phản ánh những gì đang tồn tại trước mắt mà còn có khả năng đánh thức những điều đã ngủ yên trong chiều sâu tâm hồn. Chính vì thế, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã khẳng định: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người.” Nhận định ấy đã chạm tới bản chất của thơ ca: sức sống của một câu thơ không chỉ nằm ở vẻ đẹp của ngôn từ mà còn ở khả năng khơi dậy những rung động sâu kín, giúp con người tìm lại những giá trị từng bị thời gian phủ mờ.
Trước hết, cần hiểu rằng “câu thơ hay” không phải chỉ là một sự sắp đặt khéo léo của vần điệu hay một trò chơi ngôn từ đơn thuần. Ngôn ngữ thơ dù được chắt lọc tinh tế đến đâu cũng chỉ thực sự có giá trị khi nó chuyên chở những cảm xúc chân thành, những suy tư sâu sắc về con người và cuộc sống. Một câu thơ hay phải vừa có vẻ đẹp nghệ thuật, vừa chứa đựng sức nặng tư tưởng để có thể chạm đến trái tim người đọc. Trong khi đó, “đánh thức” không chỉ là nhắc lại một điều đã xảy ra trong quá khứ. Đánh thức là làm cho những cảm xúc, những kỷ niệm, những trải nghiệm từng lắng sâu trong tâm hồn bỗng trở nên sống động trở lại. Còn “những ấn tượng vốn ngủ quên” chính là những dấu ấn của cuộc đời: tình yêu thương gia đình, tình cảm với quê hương, những con người từng âm thầm đi qua đời ta hay những giá trị tốt đẹp đã theo thời gian dần bị lãng quên. Như vậy, ý kiến của Chu Văn Sơn đã khẳng định vai trò đặc biệt của thơ ca: thơ giúp con người nhận ra những vẻ đẹp tưởng như đã mất đi, để từ đó hiểu hơn về chính mình và sống sâu sắc hơn với hiện tại.
Sở dĩ câu thơ hay cần có khả năng đánh thức những ấn tượng bởi ký ức chính là nơi lưu giữ phần sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Mỗi chúng ta đều có những miền nhớ riêng, nơi cất giữ những điều từng khiến trái tim rung động: một lời ru, một mái nhà, một bóng hình thân thuộc hay một khoảnh khắc không thể nào quên. Những điều ấy có thể bị cuộc sống bận rộn che phủ, có thể bị thời gian làm cho nhạt nhòa, nhưng chưa bao giờ thực sự biến mất. Bởi vậy, khi một câu thơ chạm tới miền ký ức ấy, nó không chỉ làm sống lại một câu chuyện của quá khứ mà còn làm sống lại những cảm xúc nguyên sơ nhất của con người. Hơn thế, ký ức không chỉ chứa đựng những niềm vui đẹp đẽ mà còn lưu giữ cả những mất mát, những day dứt, những điều con người từng muốn né tránh. Tuy nhiên, lãng quên không phải lúc nào cũng giúp con người thanh thản. Đôi khi, chính việc quay trở về với những điều đã qua mới giúp con người hiểu được mình là ai, nhận ra những thiếu sót và trưởng thành hơn. Vì thế, khi câu thơ đánh thức những ấn tượng vốn ngủ quên cũng là lúc nó giúp con người đối thoại với quá khứ, đối diện với chính mình và tìm thấy chiều sâu trong đời sống tinh thần. Khả năng khơi dậy ký ức cũng chính là một phương thức để văn chương thực hiện sứ mệnh giáo dục con người. Thơ ca không giáo huấn bằng những lời khuyên trực tiếp mà cảm hóa con người bằng sức mạnh của cảm xúc. Qua những câu thơ giàu sức gợi, những giá trị tốt đẹp như lòng biết ơn, tình yêu quê hương, sự trân trọng đối với những hi sinh thầm lặng được đánh thức một cách tự nhiên trong tâm hồn người đọc. Một bài thơ hay có thể khiến ta nhớ về người thầy từng tận tâm giảng dạy, nhớ về mái nhà tuổi thơ, nhớ về những người đã yêu thương ta mà đôi khi ta vô tình lãng quên.
Điều ấy được thể hiện sâu sắc trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy. Tác phẩm không chỉ là một dòng hồi tưởng về tuổi thơ mà còn là cuộc trở về đầy xúc động của người cháu với hình bóng người bà đã khuất. Trong những năm tháng thơ bé, nhân vật trữ tình từng vô tư chạy theo những thú vui trẻ nhỏ mà chưa thấu hiểu hết sự vất vả của bà. Chỉ đến khi trưởng thành, khi chiến tranh và thời gian đã đi qua, nhà thơ mới nhận ra phía sau những ngày tháng bình dị ấy là cả một đời hi sinh âm thầm. Câu thơ “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế” vang lên như một lời tự trách, một sự thức tỉnh muộn màng của lương tâm. Nguyễn Duy không chỉ đánh thức ký ức của chính mình mà còn đánh thức trong người đọc sự biết ơn đối với những người thân đã lặng lẽ hi sinh. Qua “Đò Lèn”, mỗi người như được trở về với những yêu thương bình dị từng hiện diện trong cuộc đời mình để biết trân trọng hơn những điều tưởng như quen thuộc.
Vậy thơ ca đánh thức những ấn tượng ấy bằng cách nào? Trước hết, bởi thơ ca vốn bắt nguồn từ những rung động chân thành nhất của con người trước cuộc sống. Nếu cảm xúc là điểm khởi đầu của thơ thì sự đồng điệu giữa người viết và người đọc chính là nơi thơ tìm thấy sức sống lâu bền. Một nhà thơ chỉ có thể viết nên những câu thơ lay động khi anh thực sự sống, thực sự cảm nhận và gửi vào tác phẩm những tình cảm sâu sắc của chính mình. Khi cảm xúc ấy gặp được một tâm hồn đồng điệu nơi người đọc, những gì tưởng như đã ngủ quên trong ký ức sẽ được khơi dậy. Bên cạnh cảm xúc, sức mạnh của thơ còn nằm ở đặc trưng nghệ thuật của thể loại này. Thơ không diễn giải cuộc đời một cách dài dòng mà lựa chọn những hình ảnh, những câu chữ cô đọng nhất. Chính sự hàm súc ấy tạo nên những khoảng trống nghệ thuật để người đọc tự lấp đầy bằng vốn sống và trải nghiệm riêng. Một câu thơ hay vì thế không khép lại ở dấu chấm cuối cùng mà tiếp tục mở rộng trong trí tưởng tượng và tâm hồn người đọc. Đó là bởi thơ luôn hướng tới nguyên lí “ý tại ngôn ngoại”: điều được nói ra chỉ là một phần, còn những dư âm phía sau câu chữ mới là nơi tạo nên sức sống lâu bền.
Không chỉ vậy, hình ảnh thơ giàu sức gợi cũng là một yếu tố quan trọng giúp thơ đánh thức ký ức. Thơ không tái hiện thế giới bằng những gam màu cụ thể như hội họa mà dùng ngôn từ để tạo nên những hình tượng có khả năng lay động nhiều giác quan. Một hình ảnh trong thơ không chỉ hiện lên trước mắt mà còn có thể gợi ra âm thanh, hương vị, cảm giác và cảm xúc. Bởi thế, khi bắt gặp một hình ảnh quen thuộc trong thơ, người đọc không chỉ nhìn thấy thế giới của nhà thơ mà còn tìm thấy những mảnh ghép của cuộc đời mình. Cùng với đó, nhịp điệu và tính nhạc cũng góp phần đưa thơ đến gần hơn với tâm hồn con người. Có những câu thơ nhẹ nhàng như một lời thì thầm của ký ức, có những câu thơ ngân vang như một khúc hát, có những câu thơ lại dồn dập như nhịp đập của cảm xúc. Chính âm hưởng ấy khiến người đọc không chỉ tiếp nhận thơ bằng lí trí mà còn bằng cả trái tim.
Trong “Bếp lửa” của Bằng Việt, hình ảnh bếp lửa giản dị đã trở thành chiếc chìa khóa mở ra cả một vùng ký ức tuổi thơ. Từ ngọn lửa nhỏ bé nơi quê nhà, nhà thơ nhớ về người bà tần tảo, về những năm tháng gian khó nhưng ấm áp tình thương. Bếp lửa không chỉ là một hình ảnh thực mà còn là biểu tượng của tình bà, của niềm tin và sự chở che. Khi đọc những câu thơ ấy, mỗi người không chỉ cảm nhận câu chuyện riêng của Bằng Việt mà còn bắt gặp trong đó bóng dáng của những người thân đã từng âm thầm yêu thương mình. Tương tự, “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh cũng cho thấy sức mạnh đánh thức ký ức của thơ ca. Giữa bước chân hành quân của người chiến sĩ, tiếng gà trưa bất ngờ vang lên đã mở ra cả một thế giới tuổi thơ với hình ảnh người bà, ổ trứng hồng và những ngày tháng bình yên. Âm thanh quen thuộc ấy đã trở thành chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa tình cảm gia đình và tình yêu đất nước. Chính những ký ức thân thương ấy đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần giúp người lính vững bước trên con đường chiến đấu.
Tuy nhiên, thơ hay không chỉ đánh thức những kỷ niệm đã có trong mỗi con người mà còn khơi dậy trực giác, trí tưởng tượng, giúp con người cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của đời sống. Những bài thơ Haiku của Nhật Bản là một minh chứng tiêu biểu. Với dung lượng ngắn gọn, những vần thơ ấy vẫn có thể mở ra cả một thế giới thiên nhiên rộng lớn, lưu giữ những khoảnh khắc mong manh của cuộc đời và để người đọc tự tìm thấy những rung động riêng trong khoảng lặng của câu chữ.
Để làm nên những câu thơ có sức sống như vậy, trước hết cần đến trách nhiệm của người nghệ sĩ. Nhà thơ phải là người thư ký trung thành của thời đại, biết lưu giữ những vẻ đẹp chân thực của con người và cuộc sống. Muốn vậy, nhà thơ không thể chỉ đứng ngoài quan sát mà phải hòa mình vào đời sống, trải nghiệm nhiều chiều để thấu hiểu con người. Đồng thời, người nghệ sĩ cũng cần sáng tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo để những ký ức được lưu giữ không chỉ thuộc về cá nhân nhà thơ mà còn trở thành tiếng nói chung của nhiều tâm hồn. Về phía bạn đọc, thơ ca chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi gặp được những trái tim biết đón nhận. Người đọc cần mở rộng “đường biên trái tim” để bước vào thế giới nghệ thuật của nhà thơ, để cùng đối thoại, cùng suy ngẫm và tìm thấy trong câu thơ những giá trị thuộc về chính mình. Bởi mỗi lần đọc thơ cũng là một lần con người trở về với quá khứ, hiểu hơn về hiện tại và khám phá thêm những góc sâu trong tâm hồn.
Tựu trung, nhận định của Chu Văn Sơn đã khẳng định một đặc điểm quan trọng làm nên sức sống của thơ ca. Câu thơ hay không chỉ tồn tại trong trang giấy mà còn sống trong ký ức, trong cảm xúc và trong những rung động lâu bền của con người. Bằng khả năng đánh thức những ấn tượng vốn ngủ quên, thơ ca giúp chúng ta không đánh mất những điều từng làm nên mình, giúp quá khứ luôn có một chỗ đứng trong hiện tại. Đó cũng chính là sứ mệnh cao đẹp của thơ và của người nghệ sĩ: lưu giữ vẻ đẹp của cuộc đời, đánh thức những giá trị nhân văn và làm cho tâm hồn con người trở nên phong phú, sâu sắc hơn.
Bài tham khảo Mẫu 5
Con người không chỉ được tạo nên bởi những gì đang hiện hữu trong khoảnh khắc của thực tại, mà còn bởi những gì đã từng đi qua cuộc đời và để lại dấu vết trong tâm hồn. Có những kỷ niệm không thường xuyên được gọi tên, có những cảm xúc tưởng như đã lùi xa khỏi dòng chảy của cuộc sống, nhưng thực chất vẫn âm thầm tồn tại như một phần không thể tách rời của bản ngã. Đôi khi, chỉ một âm thanh quen thuộc, một hình ảnh giản dị hay một câu thơ giàu sức gợi cũng có thể khiến con người bất chợt nhận ra mình đang gặp lại một miền tâm hồn đã từng thân thuộc. Đó là sức mạnh kỳ diệu của thơ ca, khi nghệ thuật không chỉ ghi lại hiện thực mà còn đánh thức những rung động sâu xa trong ký ức con người. Bởi vậy, nhà phê bình Chu Văn Sơn từng nhận định: “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người.” Ý kiến ấy không chỉ khẳng định vẻ đẹp của một câu thơ giàu sức sống mà còn gợi mở sứ mệnh cao quý của thi ca: giúp con người trở về với những giá trị từng làm nên chiều sâu tâm hồn mình.
Trước hết, cần hiểu rằng “câu thơ hay” không phải là sự sắp đặt đơn thuần của những âm thanh có vần điệu hay một cuộc chơi của ngôn từ. Ngôn ngữ chỉ trở thành thơ khi trong đó có sự sống của tâm hồn, có những rung động chân thành trước con người và cuộc đời. Một câu thơ thực sự có giá trị phải chứa đựng chiều sâu tư tưởng, vẻ đẹp nghệ thuật và khả năng lay động người đọc. Còn “đánh thức” không phải là sự lặp lại máy móc những gì đã qua. Đánh thức là khiến những điều từng tồn tại trong quá khứ được sống lại bằng một sức mạnh tinh thần mới: một nỗi nhớ trở nên da diết hơn, một tình thương trở nên sâu sắc hơn, một bài học cuộc đời trở nên thấm thía hơn. Và thơ ca sẽ đánh thức “những ấn tượng vốn ngủ quên”, chính là những trải nghiệm, những tình cảm, những giá trị đẹp đẽ đã từng in dấu trong tâm hồn con người nhưng theo dòng chảy của thời gian dần trở nên mờ nhạt. Như vậy, nhận định của Chu Văn Sơn đã khẳng định sứ mệnh của thơ ca: đưa con người trở về với những điều tưởng đã mất, để con người hiểu hơn về quá khứ và nhận ra chính mình trong hiện tại.
Con người không chỉ được tạo nên bởi những gì đang diễn ra trước mắt mà còn bởi những gì đã từng đi qua đời mình. Ký ức chính là nơi lưu giữ phần sâu kín nhất của nhân cách. Một con người biết nhớ về cội nguồn, biết rung động trước những điều bình dị của quá khứ là một con người chưa đánh mất sự gắn bó với chính mình. Vì thế, khi một câu thơ có khả năng đánh thức ký ức, nó không chỉ khơi lại một câu chuyện đã cũ mà còn đánh thức phần người sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta. Có những ký ức là niềm vui, là hơi ấm của tình thân, là vẻ đẹp bình dị của quê hương. Nhưng cũng có những ký ức gắn với mất mát, day dứt và những điều con người từng muốn quên đi. Tuy nhiên, quá khứ dù đau thương vẫn là một phần của sự trưởng thành. Con người không thể hiểu hiện tại nếu không dám nhìn lại những dấu vết của ngày hôm qua. Bởi vậy, thơ ca khi đánh thức những miền ký ức không phải để kéo con người chìm vào hoài niệm, mà để giúp con người đối thoại với quá khứ, nhận ra những giá trị từng bị bỏ quên và sống có trách nhiệm hơn với hiện tại. Đó cũng là cách thơ ca thực hiện sứ mệnh giáo dục của mình. Văn chương chân chính không bao giờ áp đặt con người bằng những bài học đạo đức khô cứng. Nó cảm hóa bằng sự rung động. Một câu thơ có thể khiến ta biết yêu thương hơn một người già, biết trân trọng hơn mái nhà từng che chở mình, biết cúi xuống trước những hi sinh âm thầm mà trước đây ta vô tình không nhận ra. Chính khi chạm tới ký ức, thơ ca đã đánh thức lương tri và những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn con người.
Nguyễn Duy trong “Đò Lèn” đã làm được điều đó bằng một cuộc trở về đầy ám ảnh với miền ký ức tuổi thơ. Bài thơ không chỉ kể lại một vùng quê, một thời thơ bé, mà quan trọng hơn là ghi lại hành trình nhận thức của con người khi đối diện với quá khứ. Khi còn nhỏ, người cháu từng vô tư đón nhận tình thương của bà mà chưa hiểu hết những nhọc nhằn bà phải chịu đựng. Chỉ đến khi trưởng thành, khi bà không còn nữa, nhà thơ mới nhận ra phía sau những điều bình dị năm xưa là cả một cuộc đời hi sinh. Đọc “Đò Lèn”, người đọc không chỉ nhìn thấy hình bóng người bà của nhà thơ mà còn gặp lại những người thân yêu trong chính cuộc đời mình. Đó chính là sức mạnh của thơ: biến ký ức cá nhân thành ký ức chung của nhân loại.
Sở dĩ thơ có khả năng kỳ diệu ấy trước hết bởi thơ sinh ra từ cảm xúc. Mọi câu thơ chân chính đều bắt đầu từ một rung động mãnh liệt trước cuộc đời. Nhà thơ chỉ có thể đánh thức người khác khi trong chính mình đã từng có một sự thức tỉnh. Những cảm xúc chân thành được gửi vào thơ giống như một ngọn lửa truyền từ tâm hồn này sang tâm hồn khác. Khi người đọc gặp trong câu thơ một phần trải nghiệm của mình, sự đồng điệu ấy khiến những điều tưởng đã ngủ quên bỗng trở lại với tất cả sức sống. Hơn nữa, thơ ca có sức mạnh bởi nó không nói hết mà luôn để lại những khoảng trống cho người đọc suy tưởng. Một bài thơ hay không khép kín trong những con chữ mà mở ra những tầng nghĩa phía sau câu chữ. Đó là đặc trưng của nghệ thuật “ý tại ngôn ngoại”. Nhà thơ chỉ gieo xuống một hình ảnh, một âm thanh, một câu thơ, còn việc làm cho nó nảy nở trong tâm hồn là hành trình của người đọc. Vì mỗi người có một quá khứ riêng, một trải nghiệm riêng, nên cùng một câu thơ có thể đánh thức những miền ký ức khác nhau. Đặc biệt, hình ảnh thơ giàu sức gợi chính là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ. Thơ không tái hiện cuộc đời bằng sự sao chép mà bằng những hình tượng được chưng cất từ cảm xúc. Một hình ảnh trong thơ không chỉ được nhìn thấy bằng đôi mắt mà còn được cảm nhận bằng tâm hồn. Bởi vậy, những hình ảnh giản dị như dòng sông, mái nhà, tiếng gọi thân quen hay bếp lửa quê nhà đều có thể trở thành nơi lưu giữ những ký ức sâu xa của con người. Điều đó được thể hiện sâu sắc trong “Bếp lửa” của Bằng Việt. Bài thơ bắt đầu từ một hình ảnh vô cùng bình dị: bếp lửa. Nhưng từ một vật quen thuộc trong đời sống, nhà thơ đã nâng nó lên thành biểu tượng của tình bà, tình quê hương và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam. Trong dòng hồi tưởng của người cháu xa quê, bếp lửa không chỉ gợi lại những năm tháng tuổi thơ gian khó mà còn gọi về bóng dáng người bà cần mẫn, yêu thương. Hình ảnh người bà trong “Bếp lửa” không hiện lên bằng những điều lớn lao, mà qua những công việc âm thầm: nhóm lửa, chăm sóc cháu, vượt qua đói nghèo và chiến tranh. Chính sự bình dị ấy khiến hình tượng người bà trở nên gần gũi với biết bao thế hệ độc giả. Bởi trong cuộc đời mỗi người, có những con người không tạo nên những dấu mốc lớn lao, nhưng lại là người âm thầm đặt nền móng cho tâm hồn ta. Đặc biệt, hình tượng bếp lửa đã chuyển hóa thành hình tượng ngọn lửa. Nếu bếp lửa là ký ức cụ thể về người bà và quê hương thì ngọn lửa là biểu tượng của niềm tin, của tình yêu thương và sức sống bền bỉ. Người bà không chỉ nhóm lên một bếp lửa trong căn nhà nhỏ mà còn nhóm lên trong tâm hồn cháu một ngọn lửa của tình thương, của nghị lực và lòng biết ơn. Vì thế, khi đọc “Bếp lửa”, người đọc không chỉ nhớ về một người bà trong thơ Bằng Việt mà còn nhớ về những người từng âm thầm sưởi ấm cuộc đời mình. Câu thơ đã đánh thức không chỉ ký ức mà còn đánh thức lòng biết ơn, sự trân trọng đối với cội nguồn.
Để tạo nên những câu thơ có khả năng đánh thức tâm hồn, trước hết cần đến trách nhiệm của người nghệ sĩ. Nhà thơ phải là người thư ký trung thành của thời đại, biết lắng nghe những biến động của cuộc sống và lưu giữ những giá trị có ý nghĩa với con người. Nhưng hơn cả việc ghi chép hiện thực, nhà thơ cần có một thế giới nghệ thuật riêng, nơi những trải nghiệm cá nhân có thể trở thành tiếng nói chung của nhiều tâm hồn. Về phía người đọc, thơ ca chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi gặp được một tâm hồn biết đón nhận. Người đọc cần mở rộng “đường biên trái tim” để đối thoại với nhà thơ, để từ những câu chữ của người khác tìm thấy những rung động của chính mình. Bởi mỗi lần đọc một câu thơ hay cũng là một lần con người được trở về với những miền sâu kín trong tâm hồn, được hiểu hơn về quá khứ, hiện tại và chính bản thân mình.
Có thể khẳng định, nhận định của Chu Văn Sơn đã chỉ ra một trong những vẻ đẹp lớn nhất của thơ ca. Câu thơ hay không chỉ tồn tại trong khoảnh khắc đọc mà còn tiếp tục sống trong ký ức của con người. Nó giống như một chiếc chìa khóa mở ra những cánh cửa tâm hồn từng khép lại, để những yêu thương, những giá trị và những vẻ đẹp tưởng như đã ngủ quên được trở về. Chính khả năng đánh thức ấy đã làm nên sức sống bất tử của thơ ca và khẳng định sứ mệnh cao đẹp của người nghệ sĩ: lưu giữ những gì đáng nhớ nhất của đời sống con người.
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ ý kiến “Nhà thơ là người phát ngôn, người đặt tên, người đại diện cái đẹp... Dấu hiệu và bằng chứng của nhà thơ là ở chỗ anh ta nói được những lời người khác chưa từng nói”. bằng những trải nghiệm văn học hay nhất
- Top 45 Bài văn nêu lên những vấn đề cuộc sống mà văn học đã gợi cho em thông qua việc bày tỏ quan điểm về ý kiến của Mi-lan Ken-de-ra: “Khi đặt bút viết một tác phẩm, nhà văn thường tìm hiểu và đặt ra nhiều câu hỏi. Chiều sâu của tác phẩm thể hiện ở ....
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” qua một bài thơ trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn 7 hay nhất
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định “Thơ ca dân gian là tiếng nói trái tim của ngươi dân lao động. Nó thể hiện sâu sắc những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta.” qua những câu ca dao, tục ngữ mà em đã được học và đọc thêm hay nhất
- Top 45 Bài văn bàn luận và làm sáng tỏ nhận định: “ Phần lớn nhà văn, nhà thơ nào khi sáng tác đều thể hiện cá tính sáng tạo, ra sức đi tìm cái mới, thể hiện cái không lặp lại bên cạnh cái lặp lại có tính kế thừa truyền thống” ....
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn bàn luận về nhận định “Một trong những sứ mệnh của người nghệ sĩ là phát hiện cho được cái âm thanh kì diệu của cuộc sống rất đỗi bình thường” và làm sáng tỏ bằng một tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 8 hay nhất
- Top 45 Bài văn bàn luận về nhận định “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý” và làm sáng tỏ qua việc chứng minh bài hát Khát vọng của Phạm Minh Tuấn...
- Top 45 Bài văn bàn luận về nhận định “Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống. Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ ” ...
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích: "Ôm lòng đòi đoạn xa gần...Giấc hương quan luống lần mơ canh dài."(Truyện Kiều - Nguyễn Du) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích nhân vật Thầy Đuy - sen trong phần trích của tác phẩm “ Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai - tơ - ma - tốp. Trong bài viết có liên hệ với phẩm chất của một người thầy tiêu biểu mà em khâm phục nhất hay nhất




Danh sách bình luận