Viết bài văn nghị luận phân tích du kí Cô Tô (Nguyễn Tuân)>
I. Mở bài Tác giả Nguyễn Tuân: Nhà văn bậc thầy của ngôn từ, luôn tiếp cận cảnh vật và con người ở góc độ văn hóa, mỹ học, sở trường về thể loại tùy bút, du ký.
Dàn ý
I. Mở bài
Tác giả Nguyễn Tuân: Nhà văn bậc thầy của ngôn từ, luôn tiếp cận cảnh vật và con người ở góc độ văn hóa, mỹ học, sở trường về thể loại tùy bút, du ký.
Tác phẩm "Cô Tô": Kết quả chuyến đi thực tế ra quần đảo Cô Tô năm 1976. Đoạn trích thể hiện tài năng quan sát, miêu tả tài hoa và tình yêu thiên nhiên, con người hải đảo sâu sắc.
Khái quát nội dung đoạn trích: Bức tranh Cô Tô đa dạng qua nhiều khoảng khoảnh khắc — từ dữ dội trong trận bão biển, tinh khôi tuyệt đẹp sau bão, cảnh mặt trời mọc rực rỡ đến khung cảnh sinh hoạt đầm ấm quanh giếng nước ngọt.
II. Thân bài
1. Trận dông bão dữ dội trên đảo Cô Tô (Hiện thực khốc liệt và sức mạnh của thiên nhiên)
Gió bão hung tợn:
Sử dụng nghệ thuật so sánh, liên tưởng quân sự: "như tăng thêm hỏa lực", mỗi hạt cát như "viên đạn mũi kim", gió bắn rát "như để thay băng đạn", "quạt lia lịa".
Âm thanh và sức ép khủng khiếp: rít lên, rú lên như "quỷ khốc thần linh", làm vỡ tung các ô cửa kính cấp 11.
Sóng biển và cát bụi:
Trời đất "trắng mù mù toàn bãi như kẻ thù thả hơi ngạt".
Sóng biển thúc vào bờ âm âm rền rền "như vua thủy tộc rung thêm trống trận".
Tiểu kết: Qua lăng kính của Nguyễn Tuân, trận bão không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà trở thành một "trận chiến" sống động, đe dọa nhưng cũng phô diễn sức mạnh kỳ vĩ, cuồng loạn của biển cả.
2. Vẻ đẹp trong trẻo, tinh khôi của Cô Tô sau trận bão
Cảnh sắc thiên nhiên hồi sinh rực rỡ:
Bầu trời "trong trẻo sáng sủa", cây trên núi "xanh mượt", nước biển "lam biếc đậm đà", cát "vàng giòn". Tác giả sử dụng các tính từ chỉ màu sắc và trạng thái rất đắt (giòn, đậm đà, xanh mượt).
Biển cả giàu có, hào phóng: "lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi".
Tình yêu quê hương đất nước:
Tác giả trèo lên đồn Cô Tô, quan sát toàn cảnh Thái Bình Dương và các đảo Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam.
Cảm xúc chân thành: "khiến càng thấy yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên...".
3. Cảnh mặt trời mọc trên biển đảo Thanh Luân (Bức tranh tuyệt mĩ của tạo hóa)
Sự chuẩn bị và công phu của nhà văn: Dậy từ canh tư, đi qua đá đầu sư để "rình mặt trời lên".
Khung cảnh mặt trời mọc:
Chân trời, ngấn bể sạch "như tấm kính lau hết mây hết bụi".
Hình ảnh so sánh kì vĩ, đậm chất Nguyễn Tuân: Mặt trời tròn trĩnh, phúc hậu "như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn", đặt trên "mâm bạc", xung quanh là màu ngọc trai nước biển hừng đông.
Ý nghĩa biểu tượng: Y như một "mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới".
Điểm xuyết không gian: Vài chiếc nhạn chao đi chao lại, con hải âu bay ngang nhịp cánh làm cho bức tranh tĩnh tĩnh trở nên sinh động.
4. Cảnh sinh hoạt quanh giếng nước ngọt và vẻ đẹp của con người lao động
Khung cảnh nhộn nhịp, tươi vui quanh giếng nước ngọt:
Giếng nước ngọt ở ria đảo là tâm điểm sinh hoạt, "vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền".
Hình ảnh thùng, cong, ang gốm, gánh nước nối tiếp đi đi về về chuẩn bị cho chuyến khơi xa.
Hình ảnh con người lao động:
Anh hùng Châu Hòa Mãn và các xã viên: Chuẩn bị 15 gánh nước ngọt cho chuyến khơi xa đánh cá hồng 10 ngày. Thái độ lao động khẩn trương, kiên cường nhưng rất đỗi bình dị.
Hình ảnh chị Châu Hòa Mãn địu con: Mang lại cảm giác "dịu dàng yên tâm", ngợi ca biển cả như "mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành".
Cảm xúc tác giả: Hòa mình vào cuộc sống lao động (múc gầu nước dội lên người), cảm nhận sự gắn kết sâu sắc giữa con người và biển đảo.
III. Đánh giá nghệ thuật và giá trị nội dung
1. Giá trị nghệ thuật
Ngôn từ giàu hình ảnh, sức gợi cao, mài giũa công phu (vàng giòn, mâm bạc, quỷ khốc thần linh).
Sử dụng linh hoạt các phép so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo, táo bạo.
Bút pháp ký sự tài hoa: kết hợp giữa miêu tả, biểu cảm và tự sự; nhịp điệu câu văn co giãn linh hoạt theo từng cảnh huống.
2. Giá trị nội dung
Khắc họa sinh động vẻ đẹp vừa dữ dội, vừa thơ mộng, trong trẻo của thiên nhiên biển đảo Cô Tô.
Tôn vinh vẻ đẹp bình dị, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống của những người lao động vùng biển.
Thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước và lòng trân trọng con người lao động của Nguyễn Tuân.
IV. Kết bài
Khẳng định lại giá trị đoạn trích: Bức tranh toàn cảnh về Cô Tô đầy màu sắc, âm thanh và sự sống.
Vị thế tác giả: Đoạn trích chứng minh phong cách nghệ thuật độc đáo "ngông" mà tài hoa của Nguyễn Tuân – một đời kiên trì đi tìm cái đẹp trong thiên nhiên và con người.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Món quà lớn nhất mà thiên nhiên ban tặng cho văn chương Nguyễn Tuân là những hiện tượng phi thường, kiệt tác dữ dội của tạo hóa. Trong đoạn trích Cô Tô, cảnh bão biển xuất hiện như một "cuộc giao tranh" khốc liệt, nơi nhà văn phô diễn trọn vẹn vốn từ phong phú cùng năng lực liên tưởng độc đáo, cuốn người đọc vào một không gian tràn ngập căng thẳng.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Tuân đã đặt con người và cảnh vật vào tình thế hiểm nguy khi gió bão hoành hành. Qua lăng kính của một nghệ sĩ cuồng nhiệt với cái đẹp mênh mông, cơn bão không còn là hiện tượng thời tiết thuần túy mà trở thành một chiến trường quân sự đầy đe dọa. Gió được miêu tả như đang "tăng thêm hỏa lực", từng hạt cát bắn vào da thịt "buốt như một viên đạn mũi kim". Nhịp điệu câu văn dồn dập, ngắt nghỉ liên tục diễn tả sự quật phá của tự nhiên: gió quạt lia lịa, gió giật, gió ngừng trong tích tắc rồi lại xả liên thanh. Bằng nghệ thuật nhân hóa và so sánh cuồn cuộn sức nóng, trận bão làm rung chuyển cả không gian bãi cát dài ba ngàn thước.
Không dừng lại ở gió và cát, sự cuồng nộ của biển cả tiếp tục đẩy cao trào lên đỉnh điểm khi đêm xuống. Sóng biển cuộn trào, "thúc lẫn nhau mà vào bờ âm âm rền rền như vua thủy tộc rung thêm trống trận". Đáng chú ý nhất là chi tiết kính gác đảo ủy bị ép đến vỡ tung dưới sức gió cấp 11. Âm thanh gió rít qua những gờ kính nhọn dắt ở ô cửa được Nguyễn Tuân ví như tiếng "quỷ khốc thần linh" – một ẩn dụ vừa rùng rợn vừa mang đậm màu sắc kỳ kĩ. Nguyễn Tuân không né tránh sự tàn phá của bão; ông miêu tả nó bằng một sự mê hăng, tôn vinh cái hùng vĩ và bạo liệt của tự nhiên qua những nét vẽ tài hoa.
Tóm lại, phân cảnh bão biển trong Cô Tô là minh chứng xuất sắc cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: luôn săn tìm những cảm giác mạnh và tài hoa trong việc điều khiển ngôn từ. Cơn bão dữ dội ấy chính là đòn bẩy làm nổi bật sự kiên cường của con người và mở ra vẻ đẹp tinh khôi, sáng sủa của hòn đảo ở những đoạn văn tiếp theo.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Nguyễn Tuân là nhà văn của những khoảnh khắc xuất thần. Cảnh mặt trời mọc trên đảo Thanh Luân trong bài ký Cô Tô được xem là một trong những đoạn văn tả cảnh bình minh trên biển đẹp nhất của ngữ văn hiện đại, nơi nét vẽ lãng mạn hòa quyện cùng tư duy thẩm mỹ uyên bác.
Để ghi lại kiệt tác này, Nguyễn Tuân đã phải "rình" mặt trời từ canh tư, vượt qua đá đầu sư ra tận mũi đảo. Sự công phu ấy đã được đền đáp bằng một khung cảnh bao la, trong trẻo đến tuyệt đối. Sau trận bão, không gian như được thanh lọc hoàn toàn, "chân trời, ngấn bể, sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi". Sự chuẩn bị kỹ lưỡng của thiên nhiên tạo tiền đề cho nhân vật chính – mặt trời – bước ra sân khấu vũ trụ.
Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo đậm chất Nguyễn Tuân, mặt trời hiện lên không còn là một khối lửa vô cảm mà trở thành "tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn". Quả trứng ấy mang sắc hồng hào thăm thẳm, được "đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai". Hình ảnh này không chỉ ghi lại chính xác màu sắc, hình khối của mặt trời và mặt biển lúc hừng đông, mà còn nâng tầm cảnh sắc thành một "mâm lễ phẩm" thiêng liêng của tạo hóa. Lễ phẩm ấy tiến ra từ bình minh như lời chúc trường thọ dành cho những người chài lưới suốt đời gắn bó với Biển Đông. Điểm xuyết trên chiếc mâm bạc ấy là vài chiếc nhạn thu chao đi chao lại và cánh hải âu chao nghiêng, làm bức tranh vừa có nét tĩnh hùng vĩ, vừa có nét động mềm mại.
Phân cảnh mặt trời mọc là đỉnh cao tài hoa của Nguyễn Tuân trong việc sáng tạo hình ảnh và hòa phối màu sắc. Qua đó, người đọc không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy của biển đảo quê hương mà còn cảm nhận được tấm lòng trân trọng sâu sắc của nhà văn dành cho thiên nhiên và con người lao động nơi sóng gió.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Nếu như đoạn văn tả bão biển hay cảnh mặt trời mọc cuốn hút người đọc bằng sự kỳ vĩ của thiên nhiên, thì phân đoạn miêu tả cái giếng nước ngọt đảo Thanh Luân lại chạm đến lòng người bởi không khí sinh hoạt thanh bình, đậm đà tình nhân ái của con người vùng hải đảo.
Giếng nước ngọt nằm ở ria đảo, được Nguyễn Tuân ví như tâm điểm của sự sống, một không gian "vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền". Sau cơn bão dữ, nhịp sống khôi phục thật nhanh chóng và tràn đầy năng lượng. Quanh giếng là hình ảnh nhộn nhịp của biết bao nhiêu người đến múc nước, gánh nước vào thùng gỗ, vào những cong, ang gốm màu da lươn. Sự bận rộn ấy không mang nét hối hả, lo âu mà thấm đượm sự tươi vui, khẩn trương của một ngày mới bắt đầu sản xuất.
Nổi bật trong khung cảnh lao động ấy là hình ảnh gia đình người anh hùng Châu Hòa Mãn. Anh quẩy 15 gánh nước ngọt chuẩn bị cho chuyến khơi xa mười ngày đánh cá hồng. Chi tiết anh giải thích về việc tiết kiệm nước ngọt – "Vo gạo bằng nước biển thôi" – cho thấy sức chịu đựng dai dẳng, sự dạn dĩ cùng thói quen sinh hoạt kiên cường của người dân chài. Bên cạnh vẻ khỏe khoắn của người đàn ông là hình ảnh dịu dàng của chị Châu Hòa Mãn địu con. Nhìn người mẹ trẻ địu con bên giếng nước, nhà văn bất giác liên tưởng đến "hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành" – một đúc kết giàu tính nhân văn, khắc họa mối quan hệ hòa hợp, nâng niu giữa biển cả và con người.
Đoạn văn miêu tả giếng nước ngọt đã hoàn thiện bức tranh Cô Tô: có thiên nhiên dữ dội, có cảnh sắc tráng lệ và có cả tình người ấm áp. Qua chất văn đồn hậu và tinh tế, Nguyễn Tuân đã tôn vinh chất phác, khỏe khoắn của những con người đang âm thầm làm giàu và bảo vệ biển đảo quê hương.
Bài tham khảo Mẫu 1
Có những miền đất chỉ một lần đi qua cũng đủ để neo lại trong lòng người một miền thương nhớ. Cô Tô của Nguyễn Tuân là một miền đất như thế. Nơi ấy có biển xanh, cát vàng, những trận bão dữ dội và những bình minh trong trẻo; có giếng nước ngọt giữa đảo xa và những con người ngày ngày gánh nước, ra khơi. Nhưng trên hết, Cô Tô bước vào trang văn không phải như một địa danh vô tri mà như một sinh thể có linh hồn: biết nổi giận, biết dịu dàng, biết hồi sinh và chở che con người. Qua đoạn trích, Nguyễn Tuân đã dùng cái nhìn tài hoa để khám phá vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên, đồng thời gửi gắm tình yêu sâu nặng với con người và biển đảo quê hương.
Mở đầu đoạn trích là một Cô Tô dữ dội trong cơn bão. Thiên nhiên hiện lên với sức mạnh gần như vô tận. Gió không còn là một hiện tượng tự nhiên đơn thuần mà được Nguyễn Tuân nhân hóa thành một kẻ tấn công hung hãn. Những hạt cát “buốt như một viên đạn mũi kim”, gió “liên thanh quạt lia lịa”, sóng biển “âm âm rền rền như vua thủy tộc rung thêm trống trận”. Hàng loạt hình ảnh liên tưởng táo bạo khiến biển trời như biến thành một chiến trường khổng lồ. Đặc biệt, cách nhà văn ví những khoảng lặng ngắn ngủi của gió “như để thay băng đạn” cho thấy trí tưởng tượng vô cùng độc đáo. Gió biết “bắn”, biết “thay đạn”, biết “thốc”, biết “vuốt”; sóng biết “thúc”, biết “rung trống trận”. Cả thiên nhiên như mang linh hồn của một chiến binh.
Đằng sau những hình ảnh dữ dội ấy là một Nguyễn Tuân luôn say mê khám phá cái phi thường. Ông không bằng lòng với việc miêu tả “gió to”, “sóng lớn” mà muốn biến sức mạnh của bão thành một trải nghiệm có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy bằng da thịt. Người đọc gần như cảm nhận được từng hạt cát rát buốt, từng tiếng gió rít qua ô cửa vỡ, từng đợt sóng dồn dập xô bờ. Thiên nhiên trong ngòi bút Nguyễn Tuân vì thế không đứng yên mà chuyển động mãnh liệt, khiến con người vừa choáng ngợp vừa khâm phục.
Nhưng kỳ diệu thay, sau dữ dội lại là dịu êm. Cơn bão đi qua để trả Cô Tô về với vẻ đẹp tinh khôi: “trong trẻo sáng sủa”, cây cối “xanh mượt”, nước biển “lam biếc đậm đà”, cát “vàng giòn”. Những gam màu ấy không chỉ làm nên một bức tranh biển đảo rực rỡ mà còn gợi cảm giác hồi sinh. Dường như thiên nhiên sau bão đã được gột rửa khỏi mọi bụi bặm, để hiện ra trong vẻ đẹp nguyên sơ nhất. Đặc biệt, sự hồi sinh của biển gắn liền với sự hồi sinh của đời sống: cá lại về, lưới lại nặng, những chuyến thuyền lại chuẩn bị ra khơi. Thiên nhiên và con người hòa vào cùng một nhịp sống.
Đẹp nhất trong bức tranh ấy là cảnh mặt trời mọc. Nguyễn Tuân đã dành cho bình minh Cô Tô một cái nhìn vừa tinh tế vừa say mê. Ông thức từ “canh tư”, đi ra tận đầu mũi đảo để chờ đợi khoảnh khắc mặt trời xuất hiện. Mặt trời được nhìn qua hàng loạt liên tưởng độc đáo: “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, rồi hiện lên trên “một mâm bạc” giữa chân trời màu ngọc trai. Những hình ảnh tưởng như thuộc về thế giới đời thường lại được đặt trong không gian kỳ vĩ của biển trời, khiến bình minh vừa gần gũi vừa thiêng liêng. Đặc biệt, mặt trời được ví như một “mâm lễ phẩm” dâng lên để chúc phúc cho những người chài lưới. Cảnh sắc thiên nhiên vì thế không chỉ đẹp mà còn mang hơi ấm của tình người.
Sau bức tranh thiên nhiên là bức tranh đời sống. Giếng nước ngọt trên đảo trở thành trung tâm của nhịp sống con người. Người gánh nước, người múc nước, thuyền chuẩn bị ra khơi, tiếng bước chân và những đôi quang gánh nối tiếp nhau. Nguyễn Tuân đã phát hiện ra vẻ đẹp của cái bình dị. Một cái giếng nhỏ giữa biển khơi lại “vui như một cái bến”, trở thành nơi gặp gỡ của cộng đồng. Hình ảnh anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy từng gánh nước cho chuyến biển dài ngày gợi vẻ đẹp khỏe khoắn, cần cù của người lao động. Họ không khuất phục trước biển cả mà sống cùng biển, dựa vào biển và làm chủ cuộc sống trên biển.
Khép lại đoạn trích là hình ảnh người phụ nữ địu con bên giếng nước. Liên tưởng “biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành” khiến bức tranh Cô Tô bỗng trở nên dịu dàng. Sau những cơn bão dữ, biển lại trở về với dáng hình của một người mẹ rộng lớn, nuôi dưỡng những đứa con của mình.
Bằng ngôn ngữ giàu sức gợi, liên tưởng bất ngờ và một cái tôi nghệ sĩ tài hoa, Nguyễn Tuân đã làm nên một Cô Tô vừa dữ dội vừa thơ mộng, vừa hùng vĩ vừa gần gũi. Đọc trang văn, ta không chỉ nhìn thấy một hòn đảo giữa Biển Đông mà còn cảm nhận được nhịp sống của Tổ quốc nơi đầu sóng. Cô Tô vì thế trở thành một bài ca đẹp về thiên nhiên, con người và sức sống Việt Nam: càng đi qua giông bão, vẻ đẹp ấy càng hiện lên trong trẻo, bền bỉ và đáng yêu hơn.
Bài tham khảo Mẫu 2
Trong văn học, có những nhà văn không chỉ nhìn thấy sự vật mà còn nhìn ra phía sau sự vật một thế giới rộng lớn của cảm xúc và ý nghĩa. Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ như vậy. Đến với Cô Tô, ông không đơn thuần ghi chép lại một chuyến đi mà biến hành trình ấy thành cuộc khám phá vẻ đẹp của biển trời và con người. Qua những trang viết về bão tố, bình minh và đời sống nơi đảo xa, Cô Tô hiện lên như một bức tranh nhiều tầng: có cái dữ dội của thiên nhiên, cái thanh tân của đất trời sau bão và cái ấm áp, mạnh mẽ của con người lao động.
Trước hết, Nguyễn Tuân đưa người đọc vào một Cô Tô trong cơn bão – nơi thiên nhiên phô bày quyền năng dữ dội nhất. Nhà văn không miêu tả bão theo lối ghi chép khách quan mà nhìn nó bằng trí tưởng tượng đầy biến hóa. Gió được hình dung như một thứ vũ khí: cát “bắn” vào người, gió “liên thanh” quạt xuống, những khoảng lặng ngắn ngủi của gió giống như lúc nó “thay băng đạn”. Cách miêu tả ấy khiến thiên nhiên trở thành một đối thủ thực sự của con người. Nó không chỉ được nhìn bằng mắt mà còn được cảm nhận bằng từng thớ thịt.
Đặc sắc hơn cả là nghệ thuật sử dụng động từ và âm thanh. “Bắn”, “giật”, “quạt”, “đẩy”, “đánh”, “thúc”, “thốc”, “rít”, “rú” nối tiếp nhau tạo nên nhịp văn gấp gáp. Những câu văn dường như cũng bị cuốn vào cơn bão. Âm thanh của biển được đẩy lên đến cực điểm qua hình ảnh “vua thủy tộc rung thêm trống trận”. Nếu gió là mũi tên, cát là đạn, thì sóng là tiếng trống của một trận chiến khổng lồ. Nguyễn Tuân đã biến thiên nhiên thành một thế giới có tính cách, có quyền lực và có cả vẻ đẹp dữ dội riêng biệt.
Thế nhưng, giá trị của đoạn trích không nằm ở việc phô diễn sức mạnh của thiên nhiên. Sau cơn bão, nhà văn lập tức đưa người đọc đến một trạng thái đối lập: Cô Tô “trong trẻo sáng sủa”. Cây xanh hơn, biển biếc hơn, cát vàng hơn, cá trở lại và những mẻ lưới đầy lên. Sự đối lập trước – sau ấy tạo nên một quy luật đẹp đẽ: thiên nhiên sau thử thách không tàn lụi mà hồi sinh mạnh mẽ. Và con người cũng vậy. Bão tố không làm ngừng lại nhịp sống trên đảo. Ngược lại, khi trời yên biển lặng, những con thuyền lại chuẩn bị ra khơi. Chính ở đây, Cô Tô không còn chỉ là cảnh sắc mà trở thành biểu tượng của sức sống.
Trong bức tranh ấy, cảnh bình minh là khoảnh khắc Nguyễn Tuân đưa cái đẹp lên đến độ viên mãn. Nhà văn thức từ rất sớm, tìm đến tận đầu mũi đảo để đón mặt trời. Cách ông “rình” mặt trời mọc cho thấy một tâm thế thưởng ngoạn đặc biệt: người nghệ sĩ không muốn bỏ lỡ bất cứ khoảnh khắc nào của tạo hóa. Mặt trời được nhìn bằng những liên tưởng liên tiếp: khi thì giống “lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên”, khi lại như được đặt trên “một mâm bạc” giữa chân trời. Đó là một thế giới vừa thực vừa mộng, vừa bình dị vừa kỳ vĩ.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Tuân không dừng lại ở việc ngợi ca vẻ đẹp của mặt trời. Ông hướng ánh sáng ấy về con người: bình minh trở thành “mâm lễ phẩm” dâng lên để mừng cho sự trường thọ của những người chài lưới. Như vậy, thiên nhiên trong “Cô Tô” không phải một bức tranh đẹp nhưng lạnh lẽo. Thiên nhiên có ý nghĩa bởi nó gắn với đời sống. Vẻ đẹp của đất trời cuối cùng vẫn tìm thấy điểm đến ở con người.
Nếu bình minh là vẻ đẹp kỳ vĩ thì giếng nước ngọt lại là vẻ đẹp đời thường. Giữa biển khơi mênh mông, một giếng nước nhỏ trở thành nơi quy tụ của con người. Người đến gánh nước, người múc nước, thuyền chuẩn bị ra khơi; tất cả tạo nên một không khí vừa khẩn trương vừa thân thuộc. Nguyễn Tuân gọi sinh hoạt quanh giếng “vui như một cái bến”, bởi ở đó có sự gặp gỡ, trao đổi và hơi thở cộng đồng.
Đặc biệt, chi tiết anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy mười lăm gánh nước cho chuyến biển dài ngày đã làm nổi bật vẻ đẹp của người lao động. Họ hiểu biển, hiểu từng giọt nước, hiểu những gian nan của chuyến đi nhưng vẫn bình thản chuẩn bị lên đường. Trong cái nhìn của Nguyễn Tuân, con người không hề nhỏ bé trước thiên nhiên. Họ mang trong mình một sức mạnh bền bỉ, một bản lĩnh có thể đứng vững giữa đầu sóng ngọn gió.
Và rồi hình ảnh người mẹ địu con xuất hiện như một nốt nhạc dịu dàng khép lại bức tranh. Sau tiếng gió rít, tiếng sóng gầm và những chuyến thuyền chuẩn bị ra khơi, Nguyễn Tuân đưa người đọc trở về với hình ảnh thân thuộc của tình mẫu tử. Biển được ví như “mẹ hiền”, còn những người dân đảo là “lũ con lành”. Cách liên tưởng ấy khiến biển cả rộng lớn bỗng trở nên gần gũi. Biển vừa thử thách vừa nuôi dưỡng; vừa dữ dội vừa bao dung. Đó cũng chính là vẻ đẹp của quê hương trong cảm nhận của nhà văn.
Có thể nói, sức hấp dẫn của “Cô Tô” trước hết nằm ở tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân. Ông sử dụng từ ngữ giàu tạo hình, những so sánh táo bạo, liên tưởng bất ngờ và nhịp văn linh hoạt để biến cảnh vật thành một thế giới có linh hồn. Nhưng sâu xa hơn, sau cái nhìn tài hoa ấy là tình yêu tha thiết với thiên nhiên, con người và đất nước. Cô Tô trong trang văn Nguyễn Tuân vì thế không chỉ đẹp bởi màu nước, sắc trời hay ánh bình minh. Hòn đảo ấy đẹp bởi nơi đó có những con người đang sống, đang lao động, đang bám biển và làm nên sức sống cho một phần Tổ quốc. Đọc “Cô Tô”, ta nhận ra rằng vẻ đẹp của đất nước nhiều khi không nằm ở những điều xa xôi, mà hiện hữu trong chính một giọt nước ngọt, một mẻ cá đầy, một chuyến thuyền ra khơi và ánh mặt trời bình yên trên biển sớm.
Bài tham khảo Mẫu 3
Trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Tuân, thiên nhiên không bao giờ tồn tại như một hậu cảnh tĩnh lặng hay một lát cắt mờ nhạt. Nó phải là một thực thể sống động, mang cá tính mạnh mẽ, thậm chí sở hữu quyền năng rung chuyển cả không gian. Đoạn trích miêu tả trận dông bão trong du ký Cô Tô chính là một minh chứng xuất thần cho cái nhìn thẩm mỹ độc đáo ấy. Bằng vốn từ ngữ giàu chất tạo hình, nhịp điệu co giãn linh hoạt cùng trí tưởng tượng vượt thoát khỏi giới hạn thông thường, nhà văn đã tái hiện một "cuộc giao tranh" khốc liệt, nơi vẻ đẹp dữ dội của vũ trụ được phô diễn đến tận cùng.
Mở đầu bức tranh, Nguyễn Tuân đưa người đọc dấn thân ngay vào tâm bão bằng một sự chủ động đầy mãnh liệt. Cơn bão không đến một cách ngẫu nhiên mà như một kẻ giăng bẫy tài ba, chờ đợi con người "lọt hết vào trận địa" rồi mới bất ngờ tăng cường hỏa lực. Nghệ thuật ẩn dụ và liên tưởng quân sự được tác giả khai thác đến mức tối đa: từng hạt cát quăng quật trong không trung biến thành "viên đạn mũi kim" đâm buốt vào da thịt; gió quạt "lia lịa", giật nẩy như từng đợt xả súng liên thanh, và khoảnh khắc ngừng lại ngắn ngủi chỉ là chốc lát "để thay băng đạn". Cách ngắt câu dồn dập, sử dụng hàng loạt động từ mạnh đã tạo nên một nhịp điệu căng như dây đàn. Thiên nhiên lúc này không còn khoác vẻ thơ mộng nguyên sơ mà hiện thân thành một sức mạnh cuồng loạn, vừa đe dọa, vừa thách thức bản lĩnh của con người.
Khi màn đêm buông xuống, khúc bão ca ấy lại càng trở nên ma mị và kinh dội hơn. Không gian bờ bãi dài ba ngàn thước bị xóa mờ ranh giới, trời đất bị bao phủ bởi một màu trắng mù mù như "kẻ thù bắt đầu thả hơi ngạt". Sự kết hợp giữa thị giác và thính giác được đẩy lên mức tối đa khi tiếng sóng thúc liên hồi vào bờ được ví như "vua thủy tộc rung thêm trống trận". Đỉnh điểm của sự tàn phá là hình ảnh những ô cửa kính bị thứ gió cấp 11 quật vỡ tung, rít lên qua từng gờ kính nhọn như tiếng "quỷ khốc thần linh". Nguyễn Tuân đã không ngần ngại dùng những hình ảnh có phần kì kĩ, quái đản để miêu tả gió. Tuy nhiên, đằng sau sự hung tợn ấy không phải là nỗi sợ hãi yếu mềm, mà là cái nhìn ngơ ngác, say đắm của một cái tôi nghệ sĩ luôn khát khao thưởng thức những cảm giác mạnh, những hiện tượng phi thường của tạo hóa.
Qua phân cảnh bão biển, Nguyễn Tuân không chỉ khắc họa thành công sự tàn phá của thiên nhiên mà còn ngầm nâng tầm vóc con người. Cơn bão chính là tấm phông nền thử thách sự kiên cường của những người lính, người dân trên đảo. Bằng ngòi bút tài hoa và vốn ngôn từ sắc lẹm, nhà văn đã biến một trận thiên tai thành một bức tranh hoành tráng, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc về một Cô Tô dữ dội nhưng đầy mê hoặc.
Bài tham khảo Mẫu 4
Nếu trận bão đêm là biểu tượng cho sự cuồng nộ và hoang dại của vũ trụ, thì cảnh mặt trời mọc trên đảo Thanh Luân ở đoạn tiếp theo lại là một nốt trầm tinh khôi, một kiệt tác của sự tĩnh lặng và lộng lẫy. Nguyễn Tuân – người suốt đời đi tìm cái đẹp – đã thể hiện một thái độ trân trọng, thành kính đến mức tuyệt đối trước khoảnh khắc giao hòa của đất trời. Đoạn văn tả bình minh sau bão không chỉ đơn thuần là miêu tả phong cảnh, mà đã trở thành một bài ca tôn vinh sự tái sinh của sự sống và vẻ đẹp tráng lệ của Biển Đông.
Để thu nhận được hình ảnh tuyệt mỹ này, Nguyễn Tuân đã trải qua quá trình hành trình kỳ công: thức dậy từ canh tư, mò mẫm trong đêm tối qua những dốc đá đầu sư để "rình" mặt trời. Từ "rình" cho thấy một tư thế kiên nhẫn, một sự khao khát cháy bỏng của cái tôi nghệ sĩ trước cái đẹp. Và món quà mà thiên nhiên đền đáp cho sự say mê ấy hoàn toàn vô giá. Sau trận bão gột rửa, không gian biển đảo như được thanh lọc hoàn toàn. Bầu trời trong trẻo, chân trời ngấn bể sạch trong "như tấm kính lau hết mây hết bụi". Đó là một hậu cảnh tinh khôi, hoàn hảo để chuẩn bị cho màn xuất hiện của nhân vật chính – mặt trời.
Mặt trời bước ra sân khấu vũ trụ bằng một vẻ đẹp rực rỡ nhưng lại vô cùng đôn hậu. Nguyễn Tuân đã sáng tạo nên một so sánh bất hủ: mặt trời "tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn". Khối hình tròn hào quang hồng hào thăm thẳm ấy được "đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai". Hình ảnh so sánh không chỉ ghi lại chính xác độ hoành tráng của không gian và sự lung linh của ánh sáng hừng đông phản chiếu trên mặt nước, mà còn nâng trải nghiệm thị giác lên tầm vóc thiêng liêng. Mặt trời lúc này trở thành một "mâm lễ phẩm" trân quý mà vũ trụ tiến ra từ bình minh để chúc phúc cho sự trường thọ của những người chài lưới. Điểm xuyết giữa không gian tĩnh tại và trang nghiêm ấy là bóng dáng vài chiếc nhạn thu chao đi chao lại, cánh hải âu chao nghiêng nhẹ nhàng, làm cho bức tranh vừa mang nét hùng vĩ vừa giữ được sự mềm mại, sống động.
Bằng nghệ thuật phối màu bậc thầy, lối liên tưởng độc đáo và ngôn từ chau chuốt, phân cảnh mặt trời mọc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân đã chạm đến đỉnh cao của mỹ học văn học. Tác giả không chỉ tả cảnh, mà đang cất lời ngợi ca tình yêu thiết tha dành cho thiên nhiên quê hương, khẳng định niềm tin vào sự sống bất diệt và tươi mới luôn nảy sinh sau những dông bão của đời sống.
Bài tham khảo Mẫu 5
Khép lại những trang văn tả thiên nhiên tráng lệ hay cuồng bão, Nguyễn Tuân đưa ống kính nghệ thuật trở về với nhịp sống đời thường của con người trên đảo Thanh Luân. Cảnh sinh hoạt quanh giếng nước ngọt chính là mảnh ghép hoàn hảo cuối cùng, biến bức tranh Cô Tô không chỉ có vẻ đẹp kỳ vĩ của sông núi, mà còn đượm nồng hơi ấm của tình người và sức sống lao động bền bỉ.
Giếng nước ngọt giữa ria một hòn đảo bao la sóng mặn hiện lên dưới ngòi bút tác giả như một trái tim của sự sống, một điểm hội tụ niềm vui. Tác giả đã dùng một so sánh đầy hóm hỉnh và đậm đà chất sống: giếng nước "vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền". Nơi đây sau cơn bão lại rộn rã âm thanh của cuộc sống hồi sinh. Bối cảnh được miêu tả tỉ mỉ qua những chiếc thùng gỗ, những cong, ang gốm màu da lươn nối tiếp nhau đi đi về về. Sự xuất hiện của vài chiếc lá cam, lá quýt còn rớt lại trong lòng giếng sau trận bão như một nốt chấm phá nhẹ nhàng, nhắc nhở về những dữ dội vừa qua, càng làm nổi bật hơn sự bình yên, mát lành của hiện tại.
Nổi bật giữa khung cảnh tấp nập ấy là những con người lao động dạn dĩ, khỏe khoắn. Hình ảnh anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy 15 gánh nước ngọt chuẩn bị cho chuyến ra khơi mười ngày đánh cá hồng đã thể hiện trọn vẹn khí chất của người dân chài Biển Đông. Chi tiết anh chia sẻ nguyên tắc khắc nghiệt khi ra biển – "Vo gạo bằng nước biển thôi", nước ngọt chỉ dành để uống – vừa phản ánh thực tế thiếu thốn, gian khổ của những chuyến đi biển xa, vừa tôn vinh sự kiên cường, thói quen tiết kiệm và tinh thần kỷ luật cao độ của người lao động. Nguyễn Tuân ngắm nhìn họ không phải bằng cái nhìn phân tích duy lý, mà bằng sự trân trọng, hòa mình vào không khí lao động khi chính ông cũng dội gầu nước mát lạnh lên vai để chia sẻ nhịp đập sinh hoạt ấy.
Đặc biệt, hình ảnh chị Châu Hòa Mãn địu con bên giếng nước đã đọng lại trong lòng độc giả một cảm xúc đặc biệt dịu dàng. Hình ảnh ấy mang đến sự yên tâm, bình thản tuyệt đối giữa trùng khơi, gợi mở cho tác giả một liên tưởng mang tầm khái quát sâu sắc: "biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành". Qua phân cảnh giếng nước ngọt, Nguyễn Tuân đã chứng minh một tư tưởng nhân văn sâu sắc: cái đẹp không chỉ nằm ở những khoảnh khắc xuất thần của thiên nhiên, mà nó còn tỏa sáng rực rỡ trong chính những sinh hoạt thầm lặng, bền bỉ và chất phác của những con người đang ngày đêm bám biển làm giàu cho quê hương.
Bài tham khảo Mẫu 6
Nếu thiên nhiên trong thơ ca thường là nơi con người gửi vào những rung động tinh tế nhất của tâm hồn, thì trong tùy bút, du kí của Nguyễn Tuân, thiên nhiên lại trở thành một thế giới để người nghệ sĩ phóng chiếu cái tôi tài hoa, uyên bác và say mê cái đẹp. Đến với Cô Tô, Nguyễn Tuân không chỉ đứng trước một hòn đảo giữa biển Đông để ngắm nhìn mà như đứng trước một trang sách lớn của tạo hóa để đọc từng đường nét, từng âm thanh, từng nhịp thở. Có lúc biển cả trong trang văn ông dữ dội như một chiến trường, có lúc lại dịu dàng như một giấc mộng bình minh; có khi thiên nhiên mang vóc dáng thần linh, rồi ngay sau đó lại trở về rất đỗi đời thường bên giếng nước ngọt. Qua đoạn trích, Cô Tô hiện lên vừa hùng vĩ, thơ mộng, vừa chan chứa hơi ấm của sự sống con người.
Trước hết, Nguyễn Tuân đã dựng lên một biển Cô Tô trong bão tố bằng một bút pháp mạnh mẽ, giàu tính tạo hình. Cơn bão không hiện ra như một hiện tượng thời tiết đơn thuần mà giống một cuộc giao tranh dữ dội giữa trời đất. Gió “bắn” cát vào da thịt, những hạt cát “buốt như một viên đạn mũi kim”; gió “liên thanh quạt lia lịa”, sóng biển “âm âm rền rền như vua thủy tộc rung thêm trống trận”. Những động từ mạnh nối tiếp nhau làm câu văn như cũng nổi gió, dồn dập, gấp gáp, không cho người đọc một khoảng lặng. Thiên nhiên được nhân hóa thành một đạo quân khổng lồ, có vũ khí, có âm thanh, có sức công phá.
Đáng chú ý hơn, Nguyễn Tuân không chỉ tả cái dữ của bão mà còn “thẩm mỹ hóa” cái dữ ấy. Ông nhìn vào sự khủng khiếp để tìm thấy vẻ đẹp của sức mạnh. Cách ví von gió ngừng “như để thay băng đạn” là một liên tưởng vừa bất ngờ vừa táo bạo. Tiếng gió “rít lên rú lên” được đẩy đến sắc thái “quỷ khốc thần linh”. Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, biển không còn là phong cảnh đứng yên trước mắt mà trở thành một sinh thể khổng lồ đang vận động, gầm thét, nổi giận. Đó chính là dấu ấn của một cái tôi nghệ sĩ luôn say mê cái phi thường, luôn muốn nhìn thế giới ở những góc độ chưa từng được nhìn thấy.
Nhưng vẻ đẹp của Cô Tô không chỉ nằm trong cơn bão. Sau những giờ phút dữ dội ấy, thiên nhiên bỗng mở ra như một bức tranh vừa được lau sạch bụi mờ. “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo sáng sủa.” Cây núi “xanh mượt”, biển “lam biếc đậm đà”, cát “vàng giòn”. Những sắc màu ấy khiến Cô Tô như vừa bước ra từ một giấc mơ. Thiên nhiên sau bão không chỉ trở lại trạng thái bình thường mà còn đẹp hơn, tươi non hơn, tràn đầy sinh lực hơn. Cái tài của Nguyễn Tuân nằm ở chỗ ông nhìn thấy trong sự đối lập giữa bão tố và bình yên một quy luật đẹp đẽ của sự sống: có những vẻ đẹp chỉ thực sự hiện hình sau khi đất trời đã đi qua giông gió.
Đặc biệt, cảnh bình minh trên biển là nơi ngòi bút Nguyễn Tuân đạt đến vẻ đẹp của một bài thơ bằng văn xuôi. Nhà văn thức từ “canh tư”, đi ra tận đầu mũi đảo để chờ mặt trời. Ông không chỉ “ngắm” mà “rình” mặt trời lên, như một người đang chờ đợi một khoảnh khắc kỳ diệu của tạo hóa. Mặt trời hiện ra “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, rồi được đặt trên “một mâm bạc” giữa chân trời màu ngọc trai. Những liên tưởng ấy vừa dân dã vừa kỳ vĩ. Cái “lòng đỏ quả trứng” rất đỗi đời thường lại được nâng lên thành “quả trứng thiên nhiên”, còn biển trời hóa thành một mâm lễ lớn lao. Thiên nhiên lúc này không chỉ đẹp mà còn mang vẻ thiêng liêng, phúc hậu.
Đặc biệt, bình minh được Nguyễn Tuân gắn với con người: đó là “một mâm lễ phẩm” như dâng lên để mừng cho sự trường thọ của những người chài lưới. Ánh mặt trời vì thế không chỉ soi sáng cảnh vật mà còn soi sáng đời sống. Thiên nhiên và con người hòa vào nhau trong một tình yêu rộng lớn đối với quê hương.
Nếu bình minh là vẻ đẹp kỳ vĩ của tạo hóa thì giếng nước ngọt lại là vẻ đẹp thân thương của đời sống. Giữa biển khơi mênh mông, cái giếng nhỏ trở thành một “cái bến”, nơi con người tụ hội, gánh nước, múc nước, chuẩn bị cho những chuyến ra khơi. Những chiếc thùng gỗ, những ang gốm, những đôi quang gánh và đoàn thuyền nối tiếp nhau tạo thành một bức tranh lao động đầy sức sống. Anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy từng gánh nước cho chuyến biển dài ngày hiện lên khỏe khoắn, bình dị mà đáng kính. Đằng sau một gánh nước là cả một hành trình sinh tồn, đằng sau một chuyến thuyền là sự bền bỉ của những con người đã gửi cuộc đời mình vào biển.
Và thật đẹp khi đoạn văn khép lại bằng hình ảnh người mẹ địu con. Sau tất cả những dữ dội của bão tố, sau ánh sáng kỳ vĩ của bình minh, con người trở về với dáng vẻ dịu dàng nhất. Biển cả được ví như “mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Một phép so sánh giản dị mà lay động: biển vừa là thử thách, vừa là nguồn sống; vừa rộng lớn, dữ dội, vừa bao dung như lòng mẹ.
Bằng một ngôn ngữ giàu nhạc điệu, những liên tưởng độc đáo và một trí tưởng tượng phóng khoáng, Nguyễn Tuân đã biến Cô Tô thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Ở đó, bão tố làm nổi bật sức mạnh của thiên nhiên, bình minh làm rực rỡ vẻ đẹp của đất trời, còn giếng nước và những chuyến thuyền làm ấm lên hình hài của con người. Đọc “Cô Tô”, ta không chỉ thấy một hòn đảo xa xôi mà còn thấy một phần Tổ quốc hiện lên trong ánh sáng, trong gió biển và trong nhịp lao động bền bỉ. Trang văn khép lại, nhưng dư âm của biển vẫn còn ngân lên như một câu thơ dài về quê hương.
Bài tham khảo Mẫu 7
Có lẽ chỉ ở Nguyễn Tuân, một cơn bão cũng có thể trở thành một cuộc đại chiến của trời biển, một bình minh có thể hóa thành lễ phẩm của tạo hóa, và một cái giếng nước nhỏ giữa đảo xa cũng đủ làm hiện lên cả một cộng đồng người đang sống. Bởi ông không nhìn thế giới bằng đôi mắt của một người chỉ đi qua, mà bằng đôi mắt của một nghệ sĩ luôn kiếm tìm cái đẹp trong mọi hình hài của sự sống. Đoạn trích “Cô Tô” là minh chứng rõ nét cho phong cách ấy. Qua hành trình từ bão tố đến bình minh, từ biển cả đến giếng nước, Nguyễn Tuân đã vẽ nên một Cô Tô vừa dữ dội vừa dịu dàng, vừa kỳ vĩ vừa gần gũi, đồng thời gửi vào đó niềm yêu mến tha thiết đối với đất nước và con người.
Mở đầu là tiếng gầm của biển trong bão. Nếu trong thơ, thiên nhiên thường được thu vào những đường nét và màu sắc tinh tế, thì ở đây, thiên nhiên như tràn khỏi trang giấy. Gió trở thành một sức mạnh có hình hài. Nó “bắn” cát, “quạt” vào người, “đẩy” người chạy theo luồng cát; sóng thì “thúc lẫn nhau mà vào bờ”. Chỉ một chuỗi động từ mạnh đã đủ làm không gian chuyển động. Nguyễn Tuân dường như không muốn người đọc chỉ “nhìn” thấy bão mà phải thực sự sống trong bão, phải cảm thấy cái buốt của cát, cái rát của gió, cái ghê rợn của tiếng kính vỡ.
Vì thế, cơn bão trong “Cô Tô” mang dáng dấp của một trận chiến. Gió có “hỏa lực”, có lúc ngừng “như để thay băng đạn”; sóng biển được ví như “vua thủy tộc” đang rung trống trận. Những liên tưởng ấy không chỉ cho thấy sự giàu có của trí tưởng tượng mà còn bộc lộ quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân: cái đẹp không nhất thiết phải mềm mại; cái dữ dội, dữ dằn, phi thường cũng có thể mang vẻ đẹp riêng. Nhà văn nhìn vào sức mạnh của thiên nhiên với tâm thế vừa kinh ngạc vừa say mê, như đứng trước một kỳ công khổng lồ của tạo hóa.
Rồi bão tan. Cô Tô như được sinh ra lần nữa. Bầu trời “trong trẻo sáng sủa”, cây cối “xanh mượt”, nước biển “lam biếc”, cát “vàng giòn”. Chỉ vài nét chấm phá nhưng cả đảo hiện lên trong trẻo như một viên ngọc vừa được lau khỏi lớp bụi mờ. Đặc biệt, sự hồi sinh của thiên nhiên đồng thời là sự hồi sinh của đời sống. Cá trở lại, lưới nặng hơn, những con thuyền lại ra khơi. Nguyễn Tuân đã đặt thiên nhiên và con người trong cùng một mạch vận động. Bão tố có thể làm rung chuyển đất trời nhưng không thể dập tắt sức sống của những người dân biển.
Trong dòng chảy ấy, cảnh mặt trời mọc trở thành khoảnh khắc đẹp nhất. Nhà văn thức từ “canh tư”, đi đến tận đầu mũi đảo để đón bình minh. Có cảm giác ông đang đứng trước một sân khấu của thiên nhiên và kiên nhẫn chờ tấm màn đầu tiên được kéo lên. Mặt trời từ từ nhô lên, “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Hình ảnh so sánh ấy thật lạ mà thật đẹp. Mặt trời vốn xa xôi, vĩ đại bỗng mang dáng vẻ thân thuộc của một quả trứng, nhưng lại là “quả trứng thiên nhiên” đặt giữa một “mâm bạc” rộng bằng cả chân trời.
Nguyễn Tuân đã đưa cái bình dị vào cái kỳ vĩ, đưa cái đời thường vào cái thiêng liêng. Chính vì vậy, cảnh bình minh không lạnh lẽo như một bức tranh phong cảnh mà có hơi thở con người. Nhà văn tưởng tượng đó là “một mâm lễ phẩm” của bình minh dâng lên để chúc cho những người chài lưới. Ánh sáng của mặt trời vì thế cũng là ánh sáng của niềm tin, của sự sống, của một ngày lao động mới.
Nhưng điều đặc biệt trong đoạn trích là Nguyễn Tuân không để cái đẹp mãi ở nơi cao rộng của trời biển. Ông đưa người đọc trở về với một cái giếng nước. Giữa đại dương bao la, giếng nước ngọt trở thành điểm tụ của sự sống. Người dân đến gánh nước, múc nước; những chiếc thuyền chờ nước để chuẩn bị ra khơi. Cái giếng nhỏ bé mà mang tầm vóc của một trung tâm cộng đồng. Nhà văn ví sinh hoạt nơi đây “vui như một cái bến”, bởi ở đó có sự sống đang chuyển động, có con người gặp gỡ và có cả nhịp điệu của lao động.
Hình ảnh anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy mười lăm gánh nước càng làm nổi bật vẻ đẹp của người dân đảo. Một chuyến biển mười ngày đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo; từng gánh nước đều mang theo sự sống của cả hành trình. Người lao động hiện lên không ồn ào mà vững chãi. Họ hiểu biển, hiểu những quy luật khắc nghiệt của biển và bình thản đối mặt với nó. Chính họ khiến Cô Tô không chỉ là một cảnh đẹp mà trở thành một miền đất có linh hồn.
Đẹp nhất có lẽ là hình ảnh cuối: người mẹ địu con bên giếng nước. Liên tưởng biển cả là “mẹ hiền” đã làm mềm đi toàn bộ những dữ dội trước đó. Nếu ở đầu đoạn trích, biển hiện lên như một thế lực khổng lồ có thể “rung trống trận”, thì đến cuối cùng, biển lại trở về với hình hài của người mẹ bao dung, nuôi dưỡng đàn con. Hai hình ảnh tưởng như đối lập ấy thực ra bổ sung cho nhau: biển dữ dội để thử thách con người, nhưng cũng dịu dàng để nuôi sống con người.
Bằng tài năng ngôn ngữ bậc thầy, Nguyễn Tuân đã biến một trang du kí thành một bức tranh giàu chất thơ. Những câu văn dài ngắn đan xen, những động từ mạnh, những so sánh bất ngờ, những liên tưởng táo bạo đã làm cho biển trời Cô Tô hiện lên bằng cả màu sắc, âm thanh và nhịp sống. Nhưng vượt lên trên vẻ đẹp của câu chữ là một tình yêu sâu sắc với quê hương. Cô Tô trong Nguyễn Tuân không chỉ là một hòn đảo; đó là nơi vẻ đẹp của thiên nhiên gặp gỡ vẻ đẹp của con người, nơi sau bão tố vẫn có bình minh, sau gian lao vẫn có những chuyến thuyền ra khơi. Và có lẽ, chính ở đó, trang du kí đã âm thầm trở thành một bài thơ về Tổ quốc.
Bài tham khảo Mẫu 8
Văn chương Nguyễn Tuân vốn dĩ là một cõi đi về của những tâm hồn mê đắm cái đẹp phi thường. Nhưng không chỉ dừng lại ở sự tráng lệ của bình yên, cái đẹp dưới ngòi bút tài hoa của ông còn ẩn hiện ngay trong lòng những dông bão mộng mị của đại dương. Cơn bão biển trong du ký Cô Tô không hiện lên như một tai họa đau thương, mà được cảm nhận như một bản giao hưởng dữ dội, một vũ điệu cuồng nhiệt của thiên nhiên đang vẫy vùng giữa khoảng trời bao la rộng lớn.
Bằng đôi mắt của một thi sĩ mang trái tim lãng du, Nguyễn Tuân đã biến trận bão thành một màn trình diễn nghệ thuật đầy nghẹt thở. Gió bão không hề vô tình, nó dường như cũng mang một tâm hồn biết si mê và vội vã. Nó kiên nhẫn "chờ chúng tôi lọt hết vào trận địa", rồi mới bùng nổ, xả ra những luồng sức mạnh cuồn cuộn. Từng hạt cát vãi tung trong không trung không còn là vật thể vô giác, chúng hóa thành những "viên đạn mũi kim" buốt giá, khiêu vũ cùng làn da thịt. Nhịp điệu câu văn khi dồn dập rát mỏng, khi khựng lại trong tích tắc "như để thay băng đạn", tạo nên một tiết tấu âm nhạc cuồng xao, kéo người đọc trôi bồng bềnh giữa không gian bãi cát dài ba ngàn thước rộng mênh mang.
Đêm xuống, giai điệu ấy lại càng trở nên huyền ảo và lung linh sắc màu ma mị. Bờ biển trải dài biến thành một dải sương mờ trắng mù mù, gợi liên tưởng đến những cõi mộng ảo sâu thẳm. Âm thanh sóng biển thúc vào bờ không làm người ta khiếp sợ, mà lại vang vọng "âm âm rền rền" như khúc nhạc trận truyền kỳ của vua thủy tộc. Ngay cả khoảnh khắc những ô cửa kính vỡ tung dưới sức gió cấp 11, tiếng rít qua gờ kính nhọn như "quỷ khốc thần linh" cũng khoác lên mình một vẻ đẹp kì kĩ, ma mị. Nguyễn Tuân đã đón nhận cơn bão bằng tất cả sự say đắm của một tâm hồn lãng mạn, tôn vinh cái dữ dội của biển cả như một phần thiêng liêng, kiêu hãnh của tạo hóa.
Trận bão biển, qua lăng kính trữ tình ấy, đã trở thành một nét vẽ bạo liệt nhưng đầy thơ mộng. Nó không làm xói mòn lòng người, mà trái lại, gột rửa đi mọi bụi mặn trần gian để chuẩn bị cho một sự sống mới sắp sửa bừng tỉnh trong veo.
Bài tham khảo Mẫu 9
Nếu có một khoảng khắc nào đó khiến thời gian như ngưng đọng và lòng người tan chảy trước cái đẹp tinh khôi, thì đó chính là cảnh bình minh trên đảo Thanh Luân. Qua ngòi bút lãng mạn và ngập tràn chất thơ của Nguyễn Tuân, màn mặt trời mọc không còn là một hiện tượng vũ trụ thông thường, mà đã hóa thành một khúc ca đong đầy thi vị, một giấc mơ hoang sơ vừa bừng sáng giữa Biển Đông.
Đoạn văn được mở ra bằng một tư thế vô cùng lãng mạn: "rình mặt trời lên". Nhà văn đã phải thức dậy từ canh tư, gom nhặt từng bước chân dập dềnh trên đá đầu sư để chờ đợi khoảnh khắc tạo hóa dệt nên kiệt tác. Sự thủy chung và kiên nhẫn ấy đã được đền đáp bằng một khung cảnh bao la, thanh sạch đến nao lòng. Sau cơn dông bão, vũ trụ dường như vừa trải qua một cuộc tái sinh. Chân trời, ngấn bể sạch trong "như tấm kính lau hết mây hết bụi". Đó là một tấm phông nền trong suốt, mở ra không gian cho những nét vẽ ngọt ngào nhất của bình minh.
Mặt trời từ từ nhú lên, tròn trĩnh và phúc hậu như "lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn". Sắc hồng hào thăm thẳm của quả trứng thần kỳ ấy được đặt một cách trang trọng, đường bệ lên "một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai". Đó là một ẩn dụ đầy chất thơ, nâng cảnh sắc thiên nhiên thành một mâm lễ phẩm dạt dào tình mẫu tử mà đại dương bao la muốn dâng tặng cho muôn đời người chài lưới. Trên chiếc mâm bạc sáng lấp lánh ấy, vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại, cánh hải âu chao nghiêng nhẹ nhàng như những nốt nhạc trầm êm ái, vẽ nên một bức tranh thủy mặc vừa tĩnh tại, vừa đội đùa trong nắng mai.
Cảnh mặt trời mọc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân ngập tràn ánh sáng và chất thơ lãng mạn. Tác giả không chỉ ghi lại một khoảnh khắc của đất trời, mà đang thả hồn mình hòa vào hơi thở tinh khôi của biển cả, dệt nên một thiên đường rực rỡ, nuôi dưỡng tâm hồn con người bằng vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên.
Bài tham khảo Mẫu 10
Rời xa những khoảng trời bao la rực rỡ nắng vàng hay những cơn bão dữ dội, giếng nước ngọt đảo Thanh Luân hiện lên như một góc nhỏ dịu dàng, chốn đong đầy tình yêu thương và sự sống thanh bình. Bằng chất văn đằm thắm, ngọt ngào, Nguyễn Tuân đã đưa người đọc về với một khoảng không gian êm đềm, nơi hơi thở con người và biển cả hòa quyện thành một bản tình ca chất phác.
Giếng nước ngọt nằm dịu dàng nơi ria đảo, được nhà văn ví như một bến đỗ ngập tràn niềm vui, "đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền". Dưới ánh nắng sớm, khung cảnh quanh giếng như một bức tranh sinh hoạt rộn rã mà đỗi đỗi thơ mộng. Những cái thùng gỗ, những cong, ang gốm màu da lươn nối gót nhau đi đi về về trong tiếng cười nói xôn xao. Mấy chiếc lá cam, lá quýt còn sót lại trong lòng giếng sau trận bão vừa rồi như một nốt chấm phá vương vương chút hương rừng thanh khiết, làm cho giọt nước múc lên càng thêm mát lành, thơm mát.
Chính trong khung cảnh bình dị ấy, vẻ đẹp của con người lao động lại bừng sáng một cách lãng mạn. Anh hùng Châu Hòa Mãn gánh từng gánh nước ngọt cho chuyến khơi xa với phong thái bình thản, kiên cường. Lời chia sẻ chân chất về việc "vo gạo bằng nước biển" không làm nét văn trở nên thô ráp, mà trái lại, khắc họa một vẻ đẹp dạn dĩ, đầy chất thơ của những người con sinh ra từ sóng gió. Nhưng có lẽ, nốt nhạc xao xuyến nhất của đoạn văn chính là hình ảnh chị Châu Hòa Mãn dịu dàng địu con bên bờ giếng. Hình ảnh ấy mang đến một cảm giác bình yên, đầm ấm đến lạ kỳ, mở ra một liên tưởng đầy chất thi sĩ: "biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành".
Khép lại trang văn, giếng nước ngọt đảo Thanh Luân không chỉ là nơi lưu giữ nguồn nước mát, mà đã trở thành nơi đong đầy vị ngọt của tình người. Bằng trái tim nhạy cảm và chất văn chau chuốt lãng mạn, Nguyễn Tuân đã để lại trong lòng người đọc một dư vị êm đềm, tôn vinh vẻ đẹp bình dị nhưng sâu thẳm của con người giữa trùng khơi bao la.
Bài tham khảo Mẫu 11
Có những vùng đất chỉ cần một lần xuất hiện trong văn chương đã vượt khỏi giới hạn của một địa danh để trở thành một miền ký ức. Cô Tô trong trang viết Nguyễn Tuân là một nơi như thế. Hòn đảo giữa biển khơi hiện lên không đứng yên trong một dáng hình cố định: khi là tiếng gầm của bão tố, khi là khoảng trời trong vắt sau giông, khi là quả cầu mặt trời chậm rãi nhô lên khỏi đường chân trời, khi lại thu mình trong dáng vẻ thân thuộc của một giếng nước ngọt và những con người đang chuẩn bị ra khơi. Bằng con mắt của một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân đã biến một chuyến đi thành cuộc khám phá về thiên nhiên, con người và sức sống của Tổ quốc.
Điểm đặc biệt của “Cô Tô” trước hết nằm ở cách Nguyễn Tuân nhìn thiên nhiên. Ông không tìm kiếm vẻ đẹp êm đềm ngay từ đầu mà đưa người đọc đi qua một vùng biển đang nổi giận. Cơn bão xuất hiện như một thế lực khổng lồ. Gió “bắn” cát vào má, vào gáy; những viên cát “buốt như một viên đạn mũi kim”. Chỉ một chữ “bắn”, thiên nhiên đã mang dáng dấp của chiến tranh. Cát vốn nhỏ bé, vô tri bỗng trở thành vũ khí; gió vốn vô hình bỗng có hình hài của một kẻ tấn công. Còn những đợt gió liên tiếp được ví như “liên thanh”, lúc ngừng lại như để “thay băng đạn”. Dường như cả biển trời đã hóa thành một chiến trường rộng lớn.
Nhưng điều đáng nói là Nguyễn Tuân không nhìn bão chỉ bằng nỗi sợ. Ông nhìn thấy trong cái dữ dội ấy một vẻ đẹp của sức mạnh. Tiếng sóng “âm âm rền rền” được nâng thành tiếng trống trận của “vua thủy tộc”. Gió rít, gió rú, kính vỡ, sóng thúc vào bờ – tất cả tạo thành một bản giao hưởng dữ dội của biển cả. Những động từ mạnh liên tiếp làm câu văn mang nhịp điệu của chính cơn bão. Đây là cái tài của Nguyễn Tuân: ông không chỉ kể lại thiên nhiên mà làm cho thiên nhiên sống dậy trong ngôn ngữ. Người đọc không đứng ngoài nhìn bão; người đọc bị cuốn vào trong bão, nghe tiếng gió bên tai và cảm nhận từng hạt cát rát buốt trên da.
Thế rồi, sau tất cả những dữ dội ấy, Cô Tô bỗng lặng đi. Một ngày “trong trẻo sáng sủa” mở ra như thể đất trời vừa được rửa sạch bằng nước mưa và ánh sáng. Cây trên núi đảo “xanh mượt”, nước biển “lam biếc đậm đà”, cát “vàng giòn”. Những màu sắc ấy không chỉ làm đẹp cảnh vật mà còn gợi một cảm giác hồi sinh. Cô Tô sau bão giống như con người sau những thử thách: không hề kiệt quệ mà trở nên trong trẻo và mạnh mẽ hơn. Biển lại đầy cá, lưới lại nặng mẻ. Sự sống không những trở lại mà còn dâng lên mãnh liệt.
Bởi thế, cảnh mặt trời mọc không đơn thuần là một cảnh đẹp. Nó giống như khoảnh khắc đất trời cất lên lời khẳng định về sự sống. Nguyễn Tuân thức từ “canh tư”, tìm ra tận đầu mũi đảo để chờ bình minh. Ông không ngắm mặt trời theo cách thông thường mà “rình” nó, như một người nghệ sĩ sợ bỏ lỡ giây phút kỳ diệu nhất của tạo hóa. Mặt trời “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Hình ảnh ấy thật gần gũi mà cũng thật kỳ vĩ. Từ một “lòng đỏ quả trứng”, nhà văn nâng lên thành một “quả trứng thiên nhiên”, rồi đặt nó trên “một mâm bạc” giữa chân trời. Cả biển trời lúc này giống như một nghi lễ lớn của ánh sáng.
Đẹp hơn nữa, Nguyễn Tuân không để bình minh chỉ thuộc về thiên nhiên. Ông nhìn thấy trong ánh sáng ấy bóng dáng những người dân biển. Mặt trời được tưởng tượng như “một mâm lễ phẩm” dâng lên để chúc cho sự trường thọ của những người chài lưới. Đây chính là chiều sâu nhân văn của trang du kí: thiên nhiên đẹp nhất khi nó gắn với con người. Bình minh không chỉ mở ra một ngày mới mà còn mở ra một ngày lao động mới.
Từ biển trời mênh mông, Nguyễn Tuân đưa người đọc trở về một không gian rất nhỏ: giếng nước ngọt trên đảo. Nhưng chính cái nhỏ bé ấy lại làm hiện rõ nhất vẻ đẹp của đời sống. Giữa đại dương bao la, giếng nước trở thành nơi con người tìm đến, nơi những đôi quang gánh nối nhau đi về, nơi những chuyến thuyền chuẩn bị cho hành trình dài trên biển. Một cái giếng được ví như “một cái bến”, bởi nơi đây không chỉ có nước mà còn có nhịp sống cộng đồng.
Hình ảnh anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy mười lăm gánh nước cho chuyến biển khiến người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của những con người sống giữa đầu sóng. Họ không được miêu tả bằng những lời ngợi ca lớn lao. Họ hiện ra qua công việc thường ngày: gánh nước, chuẩn bị thuyền, ra khơi. Nhưng chính sự bình dị ấy lại tạo nên vẻ đẹp bền vững. Họ hiểu biển, biết biển khắc nghiệt và vẫn bình thản gửi cuộc đời mình vào những chuyến ra khơi. Đó là bản lĩnh của những con người đã biến biển cả từ thử thách thành quê hương.
Đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ địu con bên giếng nước khép lại đoạn văn bằng một sắc thái dịu dàng. Sau bão tố, sau những âm thanh dữ dội của biển, Nguyễn Tuân đưa ta về với hình ảnh người mẹ. Biển cả được ví như “mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Một liên tưởng thật đẹp: biển vừa dữ dằn vừa bao dung, vừa có thể thử thách con người vừa nuôi dưỡng họ. Và có lẽ, đó cũng là hình ảnh của quê hương: luôn rộng lớn, nghiêm khắc nhưng cuối cùng vẫn dang tay chở che những đứa con của mình.
“Cô Tô” vì thế không chỉ là một trang du kí về cảnh sắc. Đó là hành trình đi từ bão tố đến bình minh, từ cái dữ dội của thiên nhiên đến vẻ đẹp bình dị của con người. Với ngôn ngữ giàu sức gợi, những liên tưởng táo bạo và một cái tôi nghệ sĩ độc đáo, Nguyễn Tuân đã khiến Cô Tô hiện lên như một bài thơ được viết bằng văn xuôi. Và sau khi trang sách khép lại, điều còn ở lại không chỉ là màu xanh của biển, màu vàng của cát hay ánh hồng của mặt trời, mà là một niềm yêu mến sâu xa đối với những con người đang ngày ngày sống và lao động nơi đầu sóng – những con người làm nên hình hài sống động của Tổ quốc giữa biển Đông.
Bài tham khảo Mẫu 12
Nếu phải tìm một hình ảnh có thể gom lại linh hồn của đoạn trích “Cô Tô”, có lẽ đó không phải là cơn bão, cũng không phải mặt trời, mà là sự chuyển động của sự sống. Biển có lúc gầm thét, rồi lại trong xanh; trời đất có lúc mù mịt, rồi bừng sáng; những con người vừa đi qua bão tố đã lại gánh nước, kéo thuyền, chuẩn bị cho một chuyến ra khơi mới. Cô Tô trong Nguyễn Tuân vì thế không phải một bức tranh phong cảnh được nhìn từ xa. Đó là một thế giới đang thở, đang vận động, đang sống. Và trong thế giới ấy, thiên nhiên càng lớn lao bao nhiêu thì con người càng hiện lên bền bỉ bấy nhiêu.
Nguyễn Tuân bắt đầu bằng một nghịch cảnh của biển: biển trong cơn bão. Nhưng ngay từ những câu văn đầu tiên, người đọc đã nhận ra đây không phải một cái nhìn thông thường. Gió được gọi bằng ngôn ngữ của chiến trận: “hỏa lực”, “bắn”, “liên thanh”, “thay băng đạn”. Cát cũng trở thành những “viên đạn mũi kim”. Sóng không chỉ vỗ mà “thúc lẫn nhau mà vào bờ”, như một đội quân đang xung trận. Thiên nhiên được nhân hóa đến mức có cả chiến thuật, sức mạnh và âm thanh. Bởi vậy, bão không còn là một hiện tượng thời tiết mà trở thành một cuộc đối đầu giữa con người với sức mạnh vô biên của tạo hóa.
Ở đây, cái tài của Nguyễn Tuân nằm trong cách ông biến cảm giác thành hình ảnh. Người đọc có thể hình dung những hạt cát bắn rát vào da, nghe tiếng kính vỡ, nghe tiếng gió “rít lên rú lên”. Những giác quan dường như cùng được đánh thức. Ngôn ngữ không còn chỉ có chức năng kể và tả mà trở thành phương tiện truyền dẫn cảm giác. Cơn bão vì thế có thể “chạm” vào người đọc.
Nhưng sau cơn bão, Nguyễn Tuân không chỉ cho ta thấy một thiên nhiên đẹp mà còn cho thấy một thiên nhiên đã được thử thách. Cô Tô “trong trẻo sáng sủa”, cây xanh hơn, biển biếc hơn, cát vàng hơn. Sự trong sáng của cảnh vật có ý nghĩa như một sự thanh lọc. Dường như bão tố đã cuốn đi tất cả bụi mờ để trả lại cho đảo một vẻ đẹp nguyên sơ. Đáng quý hơn, thiên nhiên hồi sinh cũng kéo theo sự hồi sinh của đời sống. Cá lại xuất hiện, lưới lại nặng, thuyền lại ra khơi. Qua đó, nhà văn kín đáo khẳng định sức sống không dễ bị khuất phục của con người.
Cảnh bình minh trên biển là nơi thiên nhiên và con người gặp nhau trong một vẻ đẹp gần như thiêng liêng. Nhà văn thức từ rất sớm để đón mặt trời, bởi ông hiểu rằng cái đẹp đôi khi chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc. Mặt trời nhô lên “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Cách so sánh thật bất ngờ: một hình ảnh bình dị của đời sống được đặt vào giữa không gian biển trời rộng lớn, khiến cái đẹp vừa thân thuộc vừa kỳ vĩ. Rồi biển được ví như một “mâm bạc”, chân trời như một sắc “ngọc trai”. Thiên nhiên dưới con mắt Nguyễn Tuân không còn là vật thể mà giống một tác phẩm nghệ thuật đang tự hoàn thiện từng nét.
Tuy nhiên, điểm sâu sắc nhất của cảnh bình minh nằm ở chỗ Nguyễn Tuân nhìn thấy con người trong ánh sáng của thiên nhiên. Mặt trời được ông tưởng tượng như “một mâm lễ phẩm” dâng lên để mừng sự trường thọ của những người chài lưới. Một khoảnh khắc thiên nhiên bỗng trở thành lời chúc dành cho con người. Điều đó cho thấy tình yêu của Nguyễn Tuân không dừng lại ở việc say mê cảnh đẹp. Ông yêu vẻ đẹp ấy bởi nó gắn với sự sống của quê hương.
Từ bình minh, trang văn chuyển xuống mặt đất, về với giếng nước. Nếu biển cả là không gian rộng lớn của thiên nhiên thì giếng nước là nơi thu nhỏ của đời sống con người. Giữa đảo xa, nước ngọt quý giá đến mức mỗi gánh nước đều có ý nghĩa. Người dân đến múc nước, gánh nước, chuẩn bị cho những chuyến biển dài ngày. Những hoạt động tưởng như nhỏ bé ấy lại tạo thành nhịp sống khỏe khoắn. Nguyễn Tuân nhìn thấy trong cái bình thường một vẻ đẹp đáng trân trọng.
Hình ảnh anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy mười lăm gánh nước là một điểm nhấn đặc biệt. Không cần những lời ca ngợi trực tiếp, chỉ qua hành động, con người đã hiện lên với sức vóc và ý chí. Một chuyến biển có thể kéo dài mười ngày, biển cả rộng lớn và khó lường, nhưng người lao động vẫn bình tĩnh chuẩn bị. Họ không đứng trước biển với tâm thế của kẻ yếu đuối. Họ hiểu biển, nương theo biển và làm chủ cuộc sống của mình. Chính ở đây, vẻ đẹp của con người trở thành vẻ đẹp trung tâm của đoạn trích.
Và rồi, giữa những người lao động ấy, hình ảnh người mẹ địu con xuất hiện. Đó là một nét chấm phá mềm mại sau hàng loạt hình ảnh khỏe khoắn. Nguyễn Tuân ví biển như “mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Nếu đầu đoạn trích, biển là một thế lực có thể gầm thét và phá vỡ cửa kính, thì cuối đoạn, biển lại trở thành người mẹ dịu dàng. Sự đối lập ấy làm nên chiều sâu của hình tượng biển Cô Tô: biển vừa khắc nghiệt vừa bao dung, vừa thử thách vừa nuôi dưỡng.
Có thể nói, đoạn trích là một hành trình nhận thức về vẻ đẹp. Ban đầu, Nguyễn Tuân nhìn thấy vẻ đẹp của sức mạnh trong bão tố; tiếp đó là vẻ đẹp tinh khiết của đất trời sau bão; rồi vẻ đẹp kỳ vĩ của bình minh; cuối cùng là vẻ đẹp bình dị của con người trong đời sống lao động. Càng đi sâu vào Cô Tô, nhà văn càng đi sâu vào tình yêu đất nước. Bởi một đất nước không chỉ được làm nên bởi những danh lam thắng cảnh, mà còn bởi những con người lặng lẽ gánh nước, kéo lưới, ra khơi và nuôi con giữa biển trời.
Với phong cách tài hoa, uyên bác, Nguyễn Tuân đã khiến văn xuôi mang nhịp điệu của thơ, khiến cảnh vật có linh hồn và khiến những sinh hoạt đời thường bỗng trở nên đáng nhớ. “Cô Tô” vì thế không chỉ giúp người đọc nhìn thấy một hòn đảo đẹp, mà còn giúp ta hiểu hơn giá trị của sự sống nơi biển đảo. Sau cùng, điều Nguyễn Tuân để lại không phải chỉ là một bức tranh đẹp, mà là một cảm giác: giữa mênh mông Biển Đông, Tổ quốc hiện lên thật gần – trong một giọt nước ngọt, trong một con thuyền, trong bóng dáng người mẹ và trong ánh mặt trời đang chậm rãi rót vàng xuống biển sớm.
Bài tham khảo Mẫu 13
Trong lý thuyết thẩm mỹ học phương Tây, khái niệm Cái Hùng Vĩ (The Sublime) thường được dùng để chỉ những hiện tượng tự nhiên vượt quá tầm vóc khống chế của con người, gây ra nỗi sợ hãi nhưng đồng thời lại kích thích sự thưởng thức đầy phấn khích. Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân có lẽ là cây bút duy nhất đạt đến đỉnh cao của việc biểu đạt Cái Hùng Vĩ ấy. Phân đoạn miêu tả trận dông bão trên đảo Cô Tô không chỉ đơn thuần là sự ghi chép một trận thiên tai, mà là một cuộc đối thoại bằng ngôn từ giữa cái tôi nghệ sĩ tài hoa và sự cuồng nộ của vũ trụ.
Nguyễn Tuân đến với cơn bão biển bằng một vị thế hoàn toàn khác biệt: không ẩn nấp, không e sợ, mà chủ động dấn thân để "nếm trải" sự tàn phá. Dưới ngòi bút của ông, bão Cô Tô không hiện lên như một bức tranh tĩnh vật mà như một thực thể có tri giác, có tư duy quân sự và ẩn chứa một năng lượng hủy diệt kinh hoàng. Tác giả đã kiến tạo nên một "không gian chiến trường" thực thụ khi ví gió bão như một lực lượng tập kích: chờ đợi con người lọt sâu vào "trận địa cánh cung" rồi mới đồng loạt tăng cường hỏa lực. Mỗi hạt cát quăng quật biến thành "viên đạn mũi kim" đâm thấu da thịt; nhịp gió quạt "lia lịa", rát từng chập như đợt xả súng liên thanh. Sự co giãn về nhịp điệu câu văn – lúc dồn dập, lúc ngừng khựng "để thay băng đạn" – chính là sự mô phỏng lại nhịp thở điên cuồng của thiên nhiên. Qua lăng kính của nhà văn, bão biển trở thành một tác phẩm nghệ thuật bạo liệt do chính tạo hóa dàn dựng.
Chiều sâu triết luận của đoạn văn càng được đẩy lên cao khi đêm xuống, lúc cơn bão đạt đỉnh điểm ở cấp 11. Cảnh tượng kính gác đảo ủy bị ép vỡ tung, tiếng gió rít qua những ô cửa vỡ được ví như tiếng "quỷ khốc thần linh" đã đưa hiện thực đạt đến ngưỡng cửa của sự kì kĩ. Nguyễn Tuân đã vận dụng trọn vẹn vốn từ ngữ giàu chất tạo hình, liên tưởng táo bạo từ nghệ thuật điện ảnh và âm nhạc để chuyển hóa cái đe dọa của thiên tai thành sự kinh ngạc về thẩm mỹ. Không gian trắng mù mù vì bão cát, tiếng sóng rền vang như "vua thủy tộc rung thêm trống trận" không hề bóp nghẹt con người; trái lại, nó trở thành một tấm phông nền tráng lệ để thử thách sức bền, đo đạc bản lĩnh kiên cường của những người lính, người dân trên đảo.
Tóm lại, phân cảnh bão biển Cô Tô là sự kết tinh rực rỡ của phong cách Nguyễn Tuân: luôn khát khao săn tìm những cảm giác mạnh và tôn vinh Cái Hùng Vĩ của đời sống. Qua đó, nhà văn không chỉ khẳng định sức mạnh vô biên của tự nhiên mà còn ngầm tôn vinh vị thế của con người – những chủ thể tĩnh tại, kiên cường đứng vững giữa muôn vàn biến động của vũ trụ.
Bài tham khảo Mẫu 14
Nếu thiên nhiên trong văn chương Nguyễn Tuân là một thực thể mang đầy cá tính, thì cấu trúc không gian Cô Tô sau bão lại chính là minh chứng cho triết lý về sự Tái sinh và Hòa hợp. Đoạn trích kết hợp giữa cảnh mặt trời mọc rực rỡ trên bãi đá Thanh Luân và nhịp sống bình dị quanh giếng nước ngọt đã tạo nên một chỉnh thể thẩm mỹ trọn vẹn: đưa người đọc đi từ đỉnh cao của cái đẹp tráng lệ, thiêng liêng về tới chiều sâu của cái đẹp đời thường, nhân văn.
Khoảnh khắc bình minh xuất hiện sau trận bão không đơn thuần là sự bắt đầu của một ngày mới, mà là biểu tượng cho sự gột rửa và phục sinh của vũ trụ. Để thu nhận được kiệt tác này, Nguyễn Tuân đã thực hiện một "hành trình chiêm bái" đúng nghĩa: thức dậy từ canh tư, vượt qua bãi đá đầu sư để "rình" mặt trời. Thái độ ấy thể hiện một sự tôn kính tuyệt đối đối với Cái Đẹp. Sau dông bão, không gian được gột sạch "như tấm kính lau hết mây hết bụi", mở ra một khoảng không tinh khôi. Hình ảnh mặt trời "tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn" đặt trên "mâm bạc" màu ngọc trai của biển cả không chỉ là một phát hiện độc đáo về mặt hình khối và màu sắc, mà còn mang tầm vóc một biểu tượng triết học. Đó là "mâm lễ phẩm" mà vũ trụ dâng tặng cho con người, một lời chúc phúc vĩnh hằng cho sự trường tồn của những người chài lưới trên Biển Đông.
Tuy nhiên, đỉnh cao tư tưởng của Nguyễn Tuân không chỉ dừng lại ở bức tranh hừng đông kiệt tác, mà còn nằm ở sự dịch chuyển ống kính về phía giếng nước ngọt – tâm điểm của sự sống trên đảo. Giếng nước ngọt ở ria đảo, với cái đậm đà, mát nhẹ, trở thành bến đỗ bình yên sau những ngày giông bão. Nơi đây, nhịp sống lao động bừng lên rộn rã qua hình ảnh những gánh nước nối tiếp nhau, chuẩn bị cho chuyến khơi xa mười ngày đánh cá hồng của anh hùng Châu Hòa Mãn. Chi tiết "vo gạo bằng nước biển", dành trọn nước ngọt để uống đã cô đọng lại toàn bộ ý chí kiên cường, sự dạn dĩ và tinh thần thích nghi sinh tồn kỳ diệu của người lao động.
Đặc biệt, hình ảnh chị Châu Hòa Mãn dịu dàng địu con bên bờ giếng đã khép lại bài ký bằng một nốt trầm dịu ngọt. Từ hình ảnh người mẹ trẻ, Nguyễn Tuân vươn tới một khái quát mang tính triết lý sâu sắc về mối quan hệ giữa Thiên nhiên và Con người: "biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành". Biển không chỉ có bão tố hay sự trừng phạt, biển còn là người mẹ bao dung, nuôi dưỡng và che chở cho sự sống của con người.
Qua sự kết hợp tài hoa giữa cảnh mặt trời mọc tráng lệ và giếng nước ngọt bình dị, Nguyễn Tuân đã thể hiện trọn vẹn nhân sinh quan sâu sắc của mình. Cái đẹp cuối cùng không nằm ở sự xa xôi, bí ẩn mà nó được kết tinh trong chính nhịp đập sinh hoạt bền bỉ, trong tình yêu lao động và sự gắn kết gắn bó giữa con người với biển đảo quê hương.
Bài tham khảo Mẫu 15
Có những trang văn khiến thiên nhiên hiện lên không chỉ bằng đường nét, màu sắc mà bằng cả nhịp đập dữ dội của sự sống. Với Nguyễn Tuân, biển Cô Tô cũng là một thế giới như thế: khi nổi giận, biển trời trở nên dữ dằn, khốc liệt; khi bão tan, thiên nhiên lại khoác lên mình vẻ đẹp trong trẻo, tinh khôi đến mê hoặc. Nhưng vượt lên trên vẻ đẹp của cảnh sắc, “Cô Tô” còn là khúc ca về sức sống của con người nơi đầu sóng ngọn gió. Qua đoạn trích, tài hoa nghệ thuật và tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên, đất nước, con người của Nguyễn Tuân được bộc lộ sâu sắc.
Trước hết, đoạn trích gây ấn tượng mạnh bởi bức tranh thiên nhiên Cô Tô trong cơn bão. Nguyễn Tuân không nhìn gió bão bằng cái nhìn thông thường mà biến nó thành một cuộc giao tranh dữ dội giữa con người và thiên nhiên. Những cơn gió được hình dung như một đạo quân đang tấn công: “Mỗi viên cát bắn vào má vào gáy lúc này buốt như một viên đạn mũi kim”. Cát không còn là những hạt nhỏ bé vô tri mà trở thành “viên đạn”; gió không còn là hiện tượng tự nhiên mà mang dáng dấp một thứ vũ khí có sức công phá ghê gớm. Hàng loạt động từ mạnh như “bắn”, “giật”, “quạt”, “đẩy”, “đánh”, “thúc”, “thốc”, “vuốt”, “rít”, “rú” khiến bức tranh bão biển trở nên chuyển động liên hồi, dồn dập, dữ dội. Nguyễn Tuân dường như đã nghe được tiếng gầm của biển bằng tất cả các giác quan để rồi chuyển hóa nó thành ngôn ngữ.
Đặc biệt, trí tưởng tượng độc đáo của nhà văn khiến gió bão mang dáng vẻ của một trận chiến. Gió “liên thanh quạt lia lịa”, lúc ngừng lại “như để thay băng đạn”, rồi bất ngờ tiếp tục tấn công. Hình ảnh so sánh ấy vừa táo bạo vừa giàu chất điện ảnh, khiến người đọc có cảm giác đang đứng giữa một chiến trường mà kẻ thù vô hình là gió, cát và sóng biển. Không gian cũng bị bao phủ bởi màu trắng mù mịt: “trời đất trắng mù mù toàn bãi như là kẻ thù đã bắt đầu thả hơi ngạt”. Cơn bão vì thế không chỉ được nhìn mà còn được cảm nhận bằng âm thanh, sức ép, màu sắc và cả cảm giác đau rát trên da thịt. Đến tiếng sóng, Nguyễn Tuân lại liên tưởng đến “vua thủy tộc rung thêm trống trận”. Biển như một vị thần khổng lồ đang nổi giận, làm rung chuyển cả không gian. Qua đó, ta thấy rõ phong cách Nguyễn Tuân: luôn tìm kiếm cái dữ dội, phi thường, khác lạ trong những sự vật tưởng như quen thuộc.
Nếu cơn bão là bản nhạc dữ dội của biển cả thì sau bão, Cô Tô lại hiện ra như một bức tranh vừa được thiên nhiên gột rửa. “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo sáng sủa.” Những tính từ “trong trẻo”, “sáng sủa”, “xanh mượt”, “lam biếc”, “vàng giòn” khiến cảnh vật như bừng tỉnh sau giấc ngủ dài. Núi đảo xanh hơn, nước biển đậm màu hơn, cát biển vàng óng hơn. Thiên nhiên không chỉ trở lại vẻ đẹp vốn có mà dường như còn đẹp hơn sau thử thách. Đằng sau sự thay đổi ấy là một quy luật đầy sức gợi: sau giông bão, sự sống càng trở nên mạnh mẽ. Cá lại đầy khoang, “lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi”. Cô Tô không phải một thiên đường tĩnh tại mà là một vùng đất đang sống, đang lao động, đang hồi sinh từng ngày.
Đỉnh cao của vẻ đẹp thiên nhiên được Nguyễn Tuân dành cho cảnh mặt trời mọc trên biển. Đây có lẽ là một trong những bức tranh bình minh đặc sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nhà văn thức từ “canh tư”, đi mãi ra tận đầu mũi đảo để “rình mặt trời lên”. Chỉ một từ “rình” đã cho thấy sự háo hức của người nghệ sĩ trước khoảnh khắc đặc biệt của tạo hóa. Mặt trời được ví như “lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, rồi lại được đặt trên “một mâm bạc” giữa “chân trời màu ngọc trai”. Hàng loạt hình ảnh so sánh, liên tưởng nối tiếp nhau khiến bình minh Cô Tô mang vẻ đẹp vừa gần gũi vừa kỳ vĩ. Mặt trời không đơn thuần là một thiên thể mà trở thành “mâm lễ phẩm” của biển trời, như được dâng lên để chúc phúc cho những người chài lưới. Trong cái nhìn của Nguyễn Tuân, thiên nhiên và con người không tách rời nhau: vẻ đẹp của bình minh cuối cùng vẫn hướng về sự sống của con người.
Nếu thiên nhiên Cô Tô đẹp bởi sự kỳ vĩ thì con người nơi đây lại đẹp bởi sự bình dị, khỏe khoắn và đầy sức sống. Sau khoảnh khắc mặt trời mọc, nhà văn trở về với một sinh hoạt rất đời thường: tắm ở giếng nước ngọt. Cái giếng giữa đảo xa được ví như “một cái bến”, sinh hoạt quanh giếng “vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền”. Chỉ một giếng nước nhỏ nhưng Nguyễn Tuân đã nhìn thấy cả nhịp sống cộng đồng. Những người dân gánh nước, múc nước, những thùng gỗ, ang gốm, những con thuyền chuẩn bị ra khơi... tất cả tạo nên một bức tranh lao động đông vui, rộn ràng.
Đặc biệt, hình ảnh anh hùng Châu Hòa Mãn quẩy từng gánh nước cho chuyến đi biển mười ngày đã làm nổi bật vẻ đẹp khỏe khoắn của người lao động. Nước ngọt giữa đảo xa quý giá đến mức phải được tính toán cẩn thận: chỉ dùng để uống, còn vo gạo phải dùng nước biển. Chi tiết nhỏ ấy khiến cuộc sống của những người dân biển hiện lên chân thực và gợi nhiều cảm phục. Họ sống giữa thiên nhiên khắc nghiệt nhưng không hề nhỏ bé trước biển cả; trái lại, họ chủ động thích nghi, lao động và làm chủ cuộc sống của mình.
Đặc biệt xúc động là hình ảnh người phụ nữ “địu con” bên giếng nước. Nguyễn Tuân bất ngờ chuyển từ cái nhìn mạnh mẽ, dữ dội sang một liên tưởng mềm mại: người mẹ hiện lên như biểu tượng của biển cả “là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Hình ảnh ấy khiến bức tranh Cô Tô có thêm hơi ấm gia đình. Biển không còn chỉ là nơi thử thách con người mà đã trở thành nguồn sống, người mẹ lớn lao nuôi dưỡng những thế hệ cư dân nơi đảo xa.
Qua đoạn trích, có thể thấy Nguyễn Tuân đã huy động một ngòi bút tài hoa để khám phá Cô Tô bằng nhiều giác quan và nhiều cung bậc cảm xúc. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, liên tưởng bất ngờ, phép so sánh táo bạo, hàng loạt động từ mạnh cùng những câu văn giàu nhịp điệu đã biến thiên nhiên thành một thế giới vừa dữ dội vừa thơ mộng. Nhưng đằng sau cái tôi tài hoa ấy còn là một tình yêu sâu nặng đối với đất nước. Nguyễn Tuân không chỉ ngắm Cô Tô mà còn nhận ra trong từng con sóng, giếng nước, mẻ cá, đoàn thuyền và người dân lao động một phần vẻ đẹp của Tổ quốc.
“Cô Tô” vì thế không đơn thuần là một trang du kí ghi lại chuyến đi. Đó là một bức tranh biển đảo được vẽ bằng ngôn từ, nơi thiên nhiên hiện lên vừa hùng vĩ vừa trữ tình, con người hiện lên vừa bình dị vừa mạnh mẽ. Sau những cơn bão dữ, trời biển lại sáng trong; sau những thử thách, con người lại tiếp tục ra khơi. Chính sức sống ấy làm nên vẻ đẹp bền bỉ của Cô Tô và cũng làm nên sức ngân vang lâu dài cho trang văn Nguyễn Tuân: giữa muôn trùng biển cả, ta vẫn nhận ra hình bóng thân thương của quê hương, đất nước và con người Việt Nam.
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích phân tích du kí Đồng Tháp Mười mùa nước nổi (Văn Công Hùng) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích du kí Nghìn năm tháp Khương Mỹ (Lam Linh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích phân tích du kí Cảnh thác bờ (Nguyên Hồng) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích hồi kí Tuổi thơ im lặng (Duy Khán) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích hồi kí Buổi đầu tiên học trường Yên Phụ (Nguyễn Hiến Lê) hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Đoạn văn đánh giá về chủ đề trong đoạn trích:“ Lòng đâu sẵn mối lương tâm...Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài." (Truyện Kiều - Nguyễn Du) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích du kí Nghìn năm tháp Khương Mỹ (Lam Linh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích phân tích du kí Đồng Tháp Mười mùa nước nổi (Văn Công Hùng) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích du kí Cô Tô (Nguyễn Tuân) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích phân tích du kí Cảnh thác bờ (Nguyên Hồng) hay nhất




Danh sách bình luận