Hãy làm sáng tỏ nhận định: "Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người....">
I. MỞ BÀI - Văn học bắt nguồn từ đời sống nhưng điều khiến đời sống đi vào trang viết không chỉ là tài năng quan sát mà trước hết là một trái tim biết rung động trước con người.
Dàn ý
I. MỞ BÀI
- Văn học bắt nguồn từ đời sống nhưng điều khiến đời sống đi vào trang viết không chỉ là tài năng quan sát mà trước hết là một trái tim biết rung động trước con người.
- Nêu vấn đề nghị luận: Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người...”
II. THÂN BÀI
1. Giải thích ý kiến
Luận điểm 1: “Nhà văn mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người”
- “Mang nặng”: không phải tình cảm thoáng qua mà là tình cảm sâu sắc, mãnh liệt, thường trực, trở thành một phần trong thế giới tinh thần của người nghệ sĩ.
- “Tình yêu cuộc sống”: là sự gắn bó, thiết tha với cuộc đời, khả năng phát hiện, nâng niu những vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và những giá trị đáng quý của sự sống.
- “Nhất là tình yêu thương con người”: con người là đối tượng trung tâm của văn học, nhà văn quan tâm đến phẩm giá, số phận, nỗi đau, khát vọng và quyền được sống hạnh phúc của con người.
→ Nguyễn Minh Châu khẳng định: tình yêu cuộc sống, đặc biệt là tình thương con người, là phẩm chất không thể thiếu của một nhà văn chân chính.
Luận điểm 2: Tình yêu ấy có hai biểu hiện gắn bó với nhau: Một niềm hân hoan say mê và một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.
- “Một niềm hân hoan say mê”:
+ Nhà văn say mê trước vẻ đẹp của cuộc sống.
+ Hân hoan khi phát hiện: vẻ đẹp tâm hồn con người, tình yêu, lòng nhân ái, sự hi sinh, sức sống và khả năng vươn lên của con người.
=> Vì yêu con người nên nhà văn luôn muốn tìm kiếm, phát hiện, khẳng định và ngợi ca những giá trị tốt đẹp ở con người.
- “Một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình”
+ Vì yêu con người nên nhà văn không thể dửng dưng trước đau khổ, đói nghèo, chiến tranh, bất công, sự tha hóa, những bi kịch tinh thần của con người.
+ Nhà văn đau cùng nỗi đau của nhân vật, đặt câu hỏi về nguyên nhân khiến con người bất hạnh và hướng tới một cuộc sống nhân đạo hơn.
→ Hai trạng thái “hân hoan” và “đau đớn” không đối lập mà đều bắt nguồn từ một tình yêu lớn. Càng yêu cuộc sống, nhà văn càng vui trước vẻ đẹp của nó; càng yêu con người, nhà văn càng đau trước những gì chà đạp lên con người.
=> Ý kiến của Nguyễn Minh Châu khẳng định: Tình yêu cuộc sống và tình thương con người vừa là cội nguồn thôi thúc nhà văn sáng tạo, vừa là nền tảng tạo nên giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học. Nhà văn chân chính phải là người biết vui trước vẻ đẹp của con người, đau trước nỗi đau của con người và không ngừng trăn trở về số phận, phẩm giá, hạnh phúc của họ.
2. Chứng minh qua trải nghiệm văn học
Luận điểm 1. Vì yêu con người, nhà văn hân hoan, say mê phát hiện và khẳng định vẻ đẹp, sức sống, khát vọng của con người
Dẫn chứng 1: Vợ nhặt – Kim Lân
- Bối cảnh tác phẩm là nạn đói khủng khiếp năm 1945: cái chết bao phủ, con người đứng bên bờ vực của sự sống. Thế nhưng Kim Lân không chỉ nhìn thấy cái đói, cái chết mà còn phát hiện khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.
+ Nhân vật Tràng: nghèo, xấu xí, thô kệch nhưng vẫn biết yêu thương, biết cưu mang một người xa lạ, khao khát mái ấm.
+ Nhân vật người vợ nhặt: phía sau vẻ chao chát, chỏng lỏn do cái đói gây ra là khát vọng sống, khát vọng được làm vợ, làm dâu, mong muốn có một mái nhà.
+ Nhân vật bà cụ Tứ: nghèo khổ nhưng giàu tình thương, đón nhận người con dâu bằng sự cảm thông, cố gieo vào lòng các con niềm tin về tương lai.
→ Kim Lân hân hoan phát hiện ánh sáng của tình người ngay giữa bóng tối của cái đói và cái chết. Điều nhà văn say mê không phải một cuộc sống hoàn hảo mà là sức sống bất diệt và khả năng hướng về hạnh phúc của con người ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.
Dẫn chứng 2: Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu
- Nhà văn phát hiện vẻ đẹp ở những con người bình thường: người đàn bà hàng chài nhẫn nhịn nhưng sâu sắc, giàu đức hi sinh, thấu hiểu cuộc đời, luôn đặt sự sống của các con lên trên đau khổ của mình.
→ Tình yêu khiến Nguyễn Minh Châu không nhìn con người bằng cái nhìn đơn giản, phán xét mà cố đi sâu vào những khuất lấp để phát hiện vẻ đẹp ẩn giấu bên trong một số phận lam lũ.
=> Yêu con người trước hết là tin vào con người. Bởi thế, văn chương chân chính luôn có khả năng tìm thấy ánh sáng ngay trong những nơi tưởng chỉ có bóng tối.
Luận điểm 2. Cũng chính vì yêu con người, nhà văn đau đớn, khắc khoải trước những số phận bị tổn thương và những thế lực tước đoạt hạnh phúc của họ
Dẫn chứng: Chí Phèo – Nam Cao
- Nỗi đau trước bi kịch của Chí Phèo: Chí vốn là đứa trẻ bị bỏ rơi, anh canh điền hiền lành, từng có ước mơ rất bình dị về một mái ấm. Nhưng xã hội đã đẩy Chí vào tù, biến đổi nhân hình, hủy hoại nhân tính, biến một người lương thiện thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”.
→ Nam Cao không nhìn Chí như một kẻ lưu manh đáng ghét mà nhìn thấy một con người bị tước mất quyền làm người.
- Niềm xót xa sâu sắc nhất nằm ở bi kịch bị cự tuyệt quyền trở về làm người: Khi gặp Thị Nở, phần người trong Chí thức tỉnh. Hắn nghe thấy âm thanh đời sống, nhớ lại ước mơ, muốn làm hòa với mọi người, khao khát được sống lương thiện. Nhưng định kiến xã hội, qua lời bà cô Thị Nở, đã đóng sập cánh cửa trở về.
→ Không chỉ là tiếng kêu của Chí mà còn là nỗi đau và câu hỏi nhức nhối của Nam Cao về quyền làm người.
- Từ thương xót đến tố cáo: Tình thương ở đây trở thành thái độ phê phán xã hội đã hủy hoại nhân hình, nhân tính và quyền sống của con người. Nỗi đau của Nam Cao càng lớn bởi phía sau một Chí Phèo lưu manh, ông vẫn nhìn thấy một con người đáng được yêu thương và cứu vớt.
Dẫn chứng 2: Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu
- Nguyễn Minh Châu không chỉ xót thương người đàn bà bị chồng đánh. Ông đặt ra hàng loạt vấn đề sâu xa:
+ Vì sao người đàn bà không bỏ chồng?
+ Vì sao một người đàn ông từ hiền lành trở thành vũ phu?
+ Vì sao những giải pháp tưởng đúng đắn lại không dễ áp dụng vào đời sống?
→ Nhà văn buộc người đọc nhìn sâu vào: đói nghèo, hoàn cảnh sống, sự phức tạp của số phận, những nghịch lí trong đời sống con người.
→ Tình thương chân chính vì thế không phải thương hại từ bên ngoài, mà là nỗ lực: hiểu con người, đi vào hoàn cảnh của họ, nhìn thấy những nghịch lí, tìm kiếm con đường để con người có thể sống tốt đẹp hơn.
=> Nhà văn lớn không chỉ khóc cùng nỗi đau của con người mà còn truy tìm căn nguyên của nỗi đau ấy. Đó chính là “mối quan hoài thường trực” mà Nguyễn Minh Châu đề cập.
3. Đánh giá, mở rộng ý kiến
- Ý kiến đề cao thiên chức nhân văn của người nghệ sĩ: Nhà văn cần tài năng, vốn sống, trí tuệ, năng lực sáng tạo nghệ thuật. Nhưng sâu xa hơn, phải có một trái tim lớn. Tài năng giúp nhà văn viết hay; tình thương giúp tác phẩm có khả năng sống lâu trong lòng con người.
- Tình yêu thương phải gắn với sự thấu hiểu: Không nên hiểu đơn giản yêu thương con người đồng nghĩa với việc chỉ ngợi ca con người. Bởi nhà văn có thể phê phán, lên án, cảnh báo, phơi bày những mặt xấu của con người. Nhưng sự phê phán chân chính vẫn có thể bắt nguồn từ tình yêu. Phê phán cái xấu để bảo vệ cái tốt, phơi bày sự tha hóa để gìn giữ phần người.
- Tình yêu con người phải được chuyển hóa thành giá trị nghệ thuật: Tấm lòng nhân đạo là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Nhà văn còn cần tài năng nghệ thuật để xây dựng hình tượng, lựa chọn chi tiết, tổ chức tình huống, sử dụng ngôn ngữ, sáng tạo hình thức biểu đạt. Một trái tim lớn cần gặp một tài năng lớn mới có thể tạo nên tác phẩm lớn.
- Ý nghĩa đối với người đọc: Tác phẩm sinh ra từ tình thương cũng có khả năng đánh thức tình thương. Người đọc hiểu những số phận khác mình, biết cảm thông, biết đau trước nỗi đau của người khác, biết trân trọng phẩm giá và hạnh phúc con người. Văn học vì thế không chỉ phản ánh con người mà còn góp phần làm cho con người trở nên người hơn.
III. KẾT BÀI
- Khẳng định ý kiến của Nguyễn Minh Châu là một quan niệm sâu sắc về bản chất và thiên chức của văn chương.
- Nhà văn chân chính không đứng ngoài cuộc đời: họ hân hoan trước cái đẹp vì yêu cuộc sống; họ đau đớn trước bất hạnh vì thương con người; họ khắc khoải trước số phận con người vì mong con người được sống xứng đáng và hạnh phúc hơn. Chính tình yêu ấy làm nên chiều sâu nhân đạo và sức sống lâu bền của tác phẩm.
Bài siêu ngắn Mẫu
Văn chương chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ cuộc đời và hướng về con người. Bởi vậy, Nguyễn Minh Châu khẳng định nhà văn phải “mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống”, đặc biệt là tình thương con người. Tình yêu ấy vừa là niềm hân hoan trước vẻ đẹp, sức sống của con người, vừa là nỗi đau đớn, khắc khoải trước những số phận bất hạnh.
Trong Vợ nhặt, tình yêu con người khiến Kim Lân phát hiện ánh sáng của tình người ngay giữa bóng tối của nạn đói. Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ dù đứng bên bờ vực cái chết vẫn biết cưu mang, yêu thương và hướng tới một mái ấm. Với Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại nhìn sâu vào số phận người đàn bà hàng chài để nhận ra phía sau vẻ ngoài lam lũ là lòng bao dung, đức hi sinh và tình thương con sâu sắc. Yêu con người, vì thế, trước hết là tin vào vẻ đẹp tiềm ẩn của con người.
Nhưng càng yêu thương, nhà văn càng đau trước những gì hủy hoại con người. Nam Cao trong Chí Phèo xót xa trước một anh canh điền lương thiện bị xã hội đẩy thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Đau đớn hơn, khi Chí thức tỉnh, khao khát trở lại làm người lương thiện thì định kiến xã hội lại đóng sập cánh cửa trở về. Qua đó, Nam Cao không chỉ thương xót mà còn tố cáo những thế lực tước đoạt nhân hình, nhân tính và quyền sống của con người. Cũng trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đi tìm căn nguyên phía sau bạo lực gia đình: đói nghèo, cuộc sống lênh đênh và những nghịch lí phức tạp của số phận. Tình thương chân chính vì vậy không dừng ở thương cảm mà còn đòi hỏi sự thấu hiểu.
Ý kiến của Nguyễn Minh Châu đã khẳng định sâu sắc thiên chức nhân văn của người nghệ sĩ. Tình yêu con người là cội nguồn của sáng tạo, nhưng phải được chuyển hóa thành những khám phá chân thực và giá trị nghệ thuật. Văn chương được sinh ra từ tình thương cũng có khả năng đánh thức tình thương, giúp con người biết cảm thông, trân trọng phẩm giá và hạnh phúc của nhau. Bởi thế, một nhà văn chân chính luôn vui cùng vẻ đẹp của con người, đau cùng nỗi đau của họ và không ngừng thao thức trước số phận con người.
Bài tham khảo Mẫu 1
Có những tác phẩm khép lại từ lâu nhưng nỗi vui, nỗi buồn và số phận của con người trong đó vẫn tiếp tục ám ảnh người đọc. Sức sống ấy không chỉ đến từ tài năng nghệ thuật mà còn bắt nguồn từ cách người cầm bút đặt trái tim mình giữa cuộc đời, biết nâng niu những điều tốt đẹp và day dứt trước những cảnh đời bất hạnh. Bởi văn chương chân chính chưa bao giờ là cái nhìn lạnh lẽo từ bên ngoài; phía sau mỗi trang viết có giá trị luôn thấp thoáng niềm vui khi con người được sống, được yêu thương, đồng thời là nỗi đau khi phẩm giá và hạnh phúc của họ bị tổn thương. Từ chính trải nghiệm của một người cả đời gắn bó với văn chương, Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.” Đó không chỉ là lời tự bạch về trái tim người nghệ sĩ mà còn là một quan niệm sâu sắc về cội nguồn nhân văn và thiên chức của văn chương.
Trước hết, “mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người” là sự gắn bó sâu sắc của nhà văn với cuộc đời. Nhà văn không đứng ngoài cuộc sống để quan sát một cách lạnh lùng mà sống giữa cuộc đời, vui buồn cùng con người và nhạy cảm trước từng biến động của số phận. Đặc biệt, Nguyễn Minh Châu nhấn mạnh hai trạng thái tưởng như đối lập: “hân hoan say mê” và “đau đớn, khắc khoải”. Thực chất, cả hai đều bắt nguồn từ một tình yêu lớn. Vì yêu cuộc sống, nhà văn vui sướng khi phát hiện những vẻ đẹp và sức sống bền bỉ; vì thương con người, họ đau đớn trước những cảnh đời bất hạnh, những thế lực chà đạp lên phẩm giá và quyền sống. Do đó, tình yêu cuộc sống và con người vừa là động lực thôi thúc người nghệ sĩ sáng tạo, vừa là nền tảng làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Tình yêu ấy trước hết thể hiện ở niềm hân hoan khi nhà văn khám phá vẻ đẹp, sức sống và khát vọng hạnh phúc của con người. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là một minh chứng tiêu biểu. Tác phẩm lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, khi cái chết phủ bóng lên xóm ngụ cư và con người bị đẩy đến ranh giới cuối cùng của sự sống. Thế nhưng Kim Lân không chỉ nhìn thấy bóng tối. Ngay giữa cái đói, nhà văn vẫn phát hiện ánh sáng của tình người và niềm khao khát mái ấm. Tràng – một người dân ngụ cư nghèo khổ – lại dám cưu mang một người đàn bà xa lạ và từ khi có vợ, anh thấy mình gắn bó hơn với căn nhà, thấy mình “nên người”, có trách nhiệm với gia đình. Người vợ nhặt từ một người đàn bà chao chát, chỏng lỏn vì đói cũng trở nên hiền hậu, đúng mực khi bước vào mái ấm. Đặc biệt, bà cụ Tứ dù nghèo khổ vẫn mở lòng đón nhận nàng dâu và gieo vào các con niềm hi vọng về tương lai. Bữa cơm ngày đói chỉ có những thức ăn nghèo nàn nhưng vẫn thấp thoáng niềm vui gia đình. Kim Lân đã phát hiện một sự thật đẹp đẽ: khi bị cái chết bủa vây, con người vẫn hướng về sự sống; khi nghèo đói đến tận cùng, họ vẫn có thể yêu thương và cưu mang nhau. Chính niềm tin vào con người khiến trang văn của ông dù buồn đau vẫn không chìm trong tuyệt vọng.
Tình yêu ấy cũng hiện diện sâu sắc trong Chiếc thuyền ngoài xa của chính Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, người đàn bà hàng chài là một người phụ nữ xấu xí, thô kệch, cam chịu những trận đòn tàn nhẫn của chồng. Nhưng nhà văn không dừng lại ở cái nhìn giản đơn ấy. Qua câu chuyện tại tòa án huyện, đằng sau vẻ ngoài lam lũ hiện lên một người mẹ giàu đức hi sinh, thấu hiểu những nhọc nhằn của cuộc sống trên biển và chấp nhận nhiều đau khổ vì đàn con. Chị vẫn biết chắt chiu những khoảnh khắc hạnh phúc, nhất là khi nhìn đàn con được ăn no. Nguyễn Minh Châu không tô hồng sự cam chịu, càng không biện minh cho bạo lực; điều ông hướng đến là yêu cầu phải nhìn con người trong toàn bộ sự phức tạp của hoàn cảnh và số phận. Tình thương khiến nhà văn đi qua lớp vỏ bề ngoài để tìm thấy những vẻ đẹp âm thầm mà một cái nhìn vội vàng rất dễ bỏ quên.
Nhưng càng yêu con người, nhà văn càng đau đớn trước những gì làm tổn thương con người. Nỗi đau ấy được Nam Cao thể hiện ám ảnh trong Chí Phèo. Chí không sinh ra đã là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Hắn từng là đứa trẻ bị bỏ rơi, lớn lên nhờ sự cưu mang của những người dân nghèo, rồi trở thành một anh canh điền hiền lành. Chí từng có những ước mơ hết sức bình dị về một gia đình nhỏ. Thế nhưng nhà tù thực dân và xã hội làng Vũ Đại đã biến đổi cả nhân hình lẫn nhân tính của Chí, đẩy một con người lương thiện thành kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ, sống trong những cơn say và trở thành công cụ cho Bá Kiến.
Điều đáng quý là Nam Cao không nhìn Chí Phèo bằng ánh mắt khinh miệt. Đằng sau bộ dạng lưu manh, ông vẫn nhìn thấy một con người đang bị vùi lấp. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã đánh thức phần người ấy. Sau cơn say, lần đầu tiên sau bao năm Chí nhận ra những âm thanh quen thuộc của cuộc sống, cảm thấy tuổi già, sự cô độc và khao khát được trở lại với xã hội loài người. Bát cháo hành giản dị của Thị Nở trở thành hơi ấm của tình thương, khiến Chí muốn sống lương thiện và hi vọng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn trở về. Nhưng định kiến của xã hội, được thể hiện trực tiếp qua sự ngăn cản của bà cô Thị Nở, đã đóng sập cánh cửa ấy. Câu hỏi đau đớn “Ai cho tao lương thiện?” không chỉ là tiếng kêu tuyệt vọng của Chí mà còn chứa đựng nỗi day dứt của Nam Cao về quyền làm người. Nhà văn không chỉ thương một kẻ bị tha hóa mà còn tố cáo một xã hội đã đẩy con người vào con đường tha hóa rồi lại tước mất cơ hội trở về. Nỗi đau trong Chí Phèo vì vậy càng sâu sắc bởi ngay dưới đáy cùng của sự lưu manh, Nam Cao vẫn tin phần người chưa hoàn toàn chết.
“Mối quan hoài thường trực” về số phận con người còn được thể hiện rõ trong Chiếc thuyền ngoài xa. Sau vẻ đẹp toàn bích của chiếc thuyền trong sương mà nghệ sĩ Phùng ngỡ là một cảnh “đắt trời cho” lại là cảnh bạo lực gia đình đau đớn. Nghịch lí ấy buộc cả nhân vật lẫn người đọc phải nhìn sâu hơn vào đời sống. Người đàn ông hàng chài đáng trách vì hành vi bạo lực, nhưng Nguyễn Minh Châu đồng thời đặt nhân vật trong cảnh nghèo đói, đông con, cuộc sống lênh đênh và bế tắc để truy tìm những căn nguyên khiến con người trở nên tàn nhẫn. Người đàn bà cần được giải thoát khỏi bạo lực, nhưng giải pháp li hôn mà Đẩu đưa ra lại không đơn giản như anh tưởng bởi cuộc sống của chị còn gắn với đàn con và chiếc thuyền mưu sinh. Qua đó, nhà văn cho thấy tình thương chân chính không phải sự thương hại từ xa hay những phán quyết dễ dàng. Muốn thực sự yêu thương con người phải hiểu hoàn cảnh của họ, nhìn thấy những nghịch lí họ đang mắc kẹt và trăn trở về một con đường có thể đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhà văn lớn vì thế không chỉ khóc cùng nỗi đau của con người mà còn truy tìm nguyên nhân tạo nên nỗi đau ấy.
Nhận định của Nguyễn Minh Châu đã đề cao thiên chức nhân văn của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, tình thương trong văn chương không thể chỉ là cảm xúc dễ dãi. Nhà văn càng yêu con người càng cần thấu hiểu con người trong tính đa diện và phức tạp của họ. Nam Cao không vì thương Chí Phèo mà che khuất sự lưu manh của Chí; Nguyễn Minh Châu không vì cảm thông với người đàn bà hàng chài mà coi bạo lực gia đình là điều có thể chấp nhận. Chính cái nhìn tỉnh táo khiến tình thương trở nên sâu sắc. Đồng thời, lòng nhân ái chỉ trở thành giá trị văn học khi được chuyển hóa bằng tài năng nghệ thuật. Tư tưởng lớn cần được gửi vào những nhân vật sống động, tình huống giàu sức khám phá, hình ảnh ám ảnh và ngôn ngữ có khả năng lay động lòng người. Nếu thiếu nghệ thuật, lòng thương dù chân thành cũng khó tạo nên một tác phẩm có sức sống lâu bền.
Quan niệm ấy còn gợi mở ý nghĩa lớn lao của văn học đối với người đọc. Một tác phẩm được viết bằng tình yêu thương có khả năng tiếp tục đánh thức tình thương trong những người tiếp nhận nó. Đọc Vợ nhặt, ta thêm trân trọng sức sống và sự đùm bọc giữa con người trong cảnh khốn cùng; đọc Chí Phèo, ta hiểu rằng đôi khi phía sau một con người bị xã hội ruồng bỏ là cả một bi kịch cần được lắng nghe; đọc Chiếc thuyền ngoài xa, ta học cách tránh những phán xét đơn giản trước những số phận phức tạp. Văn học bởi thế không chỉ giúp con người hiểu thêm về cuộc đời mà còn mở rộng khả năng đồng cảm, khiến ta biết đau trước nỗi đau của người khác và biết trân trọng hơn phẩm giá, quyền sống, quyền hạnh phúc của mỗi con người.
Thời đại có thể thay đổi, những vấn đề mà nhà văn đối diện cũng không ngừng đổi khác, nhưng điểm xuất phát sâu xa của văn chương chân chính vẫn là con người. Nhận định của Nguyễn Minh Châu vì thế không chỉ nói về cảm xúc của người cầm bút mà còn chạm tới bản chất và thiên chức của nghệ thuật. Từ Kim Lân, Nam Cao đến Nguyễn Minh Châu, những tác phẩm còn lại lâu bền với thời gian đều cho thấy một trái tim vừa biết hân hoan trước ánh sáng của sự sống, vừa không thể bình yên trước những đau khổ của con người. Khi người nghệ sĩ mang số phận của đồng loại như một “mối quan hoài thường trực” trong lòng mình, văn chương mới có thể vượt qua giới hạn của những con chữ để trở thành nơi gìn giữ lòng nhân ái và giúp con người sống nhân văn hơn.
Bài tham khảo Mẫu 2
Từ thuở con người biết gửi tâm tình vào câu hát, lời thơ, văn chương đã trở thành nơi lưu giữ những vui buồn của nhân thế. Trải qua bao biến thiên của thời đại, những áng văn thực sự có sức sống lâu bền dường như đều được viết nên từ một tấm lòng biết thiết tha với cuộc đời, biết vui trước cái đẹp và biết đau trước những cảnh ngộ bất hạnh. Bởi người nghệ sĩ chân chính không thể đứng ngoài cuộc sống như một kẻ bàng quan; họ mang trong lòng những số phận mình từng gặp, những tiếng khóc mình từng nghe và cả những ước vọng bình dị của con người. Bàn về điều ấy, Nguyễn Minh Châu từng viết: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.” Lời tâm niệm ấy đã nói lên một lẽ sâu xa: tình yêu con người chính là mạch nguồn bền bỉ nuôi dưỡng văn chương chân chính.
“Nhà văn mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người” trước hết có nghĩa người cầm bút phải có một tấm lòng tha thiết với cuộc đời. Họ biết trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên, sự sống, nhưng trên hết vẫn là biết yêu thương con người – đối tượng trung tâm của văn học. Đáng chú ý hơn, Nguyễn Minh Châu nhận ra trong tình yêu ấy có cả “niềm hân hoan say mê” lẫn “nỗi đau đớn, khắc khoải”. Hai trạng thái tưởng trái ngược nhưng thực ra lại cùng sinh ra từ một nguồn cội. Càng yêu cuộc sống, người nghệ sĩ càng sung sướng khi bắt gặp ánh sáng, cái đẹp, niềm tin; càng thương con người, họ càng đau khi chứng kiến con người bị đói nghèo, định kiến, bạo lực hay những thế lực vô hình đẩy vào cảnh khốn cùng. Vì thế, tình yêu cuộc sống và con người không chỉ là tình cảm riêng của người nghệ sĩ mà còn là căn nguyên của cảm hứng sáng tạo và nền tảng làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Có lẽ vì yêu con người nên người nghệ sĩ bao giờ cũng muốn tìm kiếm những hạt ngọc của tâm hồn, ngay cả giữa nơi tưởng chừng chỉ còn bóng tối. Vợ nhặt của Kim Lân là một minh chứng cảm động. Câu chuyện diễn ra giữa nạn đói năm 1945, một thời điểm mà cái chết hiện diện khắp nơi, khi người sống “xanh xám như những bóng ma”, người chết “như ngả rạ”. Nhưng Kim Lân không để bóng tối ấy nuốt chửng con người. Giữa ranh giới mong manh của sống và chết, ông lại phát hiện ra một điều tưởng như nghịch lí: người ta vẫn muốn yêu thương, vẫn khao khát một mái nhà, vẫn tin vào ngày mai.
Tràng nghèo, xấu xí, lại là dân ngụ cư, vậy mà giữa ngày đói vẫn “nhặt” được vợ. Đằng sau tình huống có phần éo le ấy là một khát vọng rất đỗi con người: khát vọng được sống trong một gia đình. Từ khi có vợ, Tràng bỗng thấy căn nhà của mình thân thiết hơn, thấy bản thân có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Người vợ nhặt cũng đổi khác. Sự chao chát, chỏng lỏn trên đường theo Tràng về dần nhường chỗ cho vẻ hiền hậu, đúng mực của một người đàn bà đang vun vén mái ấm. Đặc biệt, bà cụ Tứ dù nghèo đến mức chẳng biết lấy gì nuôi các con vẫn mở lòng đón nhận nàng dâu. Trong bữa cơm ngày đói, bà cố nói những chuyện vui, chuyện tương lai để gieo vào lòng các con chút hi vọng. Kim Lân đã không né tránh hiện thực tàn khốc, nhưng từ hiện thực ấy, ông nâng niu từng tia sáng của tình người. Cái đói có thể làm thân xác tiều tụy nhưng chưa thể dập tắt niềm mong ước hạnh phúc. Đó chính là niềm “hân hoan say mê” của một trái tim vẫn tin vào con người giữa những ngày khốn khó nhất.
Đến với Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại tìm thấy vẻ đẹp con người ở những miền khuất lấp hơn. Người đàn bà hàng chài bước vào tác phẩm với một ngoại hình thô kệch, lam lũ và một cuộc đời đầy nhẫn nhục. Chị thường xuyên bị chồng đánh đập nhưng khi được Đẩu khuyên bỏ chồng, chị lại nhất quyết van xin đừng bắt mình li hôn. Nếu chỉ nhìn bằng con mắt bên ngoài, người ta có thể cho đó là sự mê muội. Nhưng khi người đàn bà kể câu chuyện đời mình, Phùng và Đẩu mới hiểu đằng sau sự nhẫn nhục ấy là một người mẹ luôn đặt sự sống của đàn con lên trên nỗi đau của bản thân. Chị hiểu những nhọc nhằn của nghề biển, hiểu rằng trên chiếc thuyền cần có một người đàn ông khi phong ba, và hạnh phúc hiếm hoi của chị là lúc nhìn đàn con được ăn no. Nguyễn Minh Châu không ca ngợi sự cam chịu, nhưng ông trân trọng tấm lòng của một người mẹ. Bởi yêu con người, ông không bằng lòng với cái nhìn đơn giản mà tìm vào tận chiều sâu số phận để nhận ra những phẩm chất âm thầm bị che khuất bởi dáng vẻ lam lũ của đời thường.
Song tình yêu của người nghệ sĩ đâu chỉ có niềm vui khi bắt gặp cái đẹp. Có những trang văn được viết ra như mang theo một nỗi đau không thể nguôi ngoai trước số phận bị chà đạp. Chí Phèo của Nam Cao là một tiếng đau như thế. Chí vốn không phải kẻ lưu manh từ thuở lọt lòng. Hắn là một đứa trẻ bị bỏ rơi, lớn lên trong sự cưu mang của dân làng rồi trở thành anh canh điền hiền lành. Chí cũng từng mơ một cuộc sống bình dị: chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, cùng gây dựng một mái nhà nhỏ. Một ước mơ giản đơn đến vậy, nhưng xã hội đương thời cũng không để Chí có được.
Từ nhà tù thực dân trở về, Chí bị biến đổi cả nhân hình lẫn nhân tính. Những cơn say nối tiếp cơn say, tiếng chửi thay cho lời giao tiếp, những vết rạch ngang dọc trên khuôn mặt trở thành dấu tích của một cuộc đời bị hủy hoại. Chí trở thành tay sai cho Bá Kiến, thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Nhưng nếu chỉ nhìn thấy ở Chí một tên lưu manh, Nam Cao đã không trở thành Nam Cao. Với lòng thương người sâu sắc, ông vẫn nhận ra dưới lớp tro tàn ấy còn một đốm lửa của nhân tính.
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã làm phần người trong Chí sống dậy. Sau một đêm được chăm sóc, Chí tỉnh rượu và bắt đầu nghe lại những âm thanh của đời thường. Hắn nhớ về quá khứ, nghĩ đến tuổi già và cảm thấy sợ sự cô độc. Bát cháo hành của Thị Nở tuy nhỏ bé mà lại mang sức mạnh của tình thương, khiến Chí muốn làm hòa với mọi người, muốn trở về làm một người lương thiện. Chính lúc hi vọng vừa nhen lên thì định kiến lại dập tắt nó. Bà cô Thị Nở không chấp nhận Chí; cánh cửa trở về với cộng đồng một lần nữa đóng lại. Trong tuyệt vọng, Chí bật lên câu hỏi: “Ai cho tao lương thiện?” Đó là tiếng kêu của một con người ý thức được quyền làm người khi quyền ấy đã bị tước đoạt. Đồng thời, đó cũng là câu hỏi đau đáu mà Nam Cao gửi tới xã hội: ai đã đẩy một người lương thiện thành quỷ dữ, và tại sao khi họ muốn trở lại làm người, cuộc đời lại không cho họ một con đường? Tình thương của Nam Cao vì vậy không dừng ở giọt nước mắt xót xa mà trở thành lời tố cáo một xã hội đã làm tha hóa con người rồi lạnh lùng cự tuyệt họ.
Nếu Nam Cao đau trước bi kịch con người bị tước đoạt quyền làm người thì trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại khắc khoải trước những nghịch lí khiến hạnh phúc con người trở nên xa vời. Phía sau cảnh chiếc thuyền trong sương đẹp như một bức tranh mực tàu cổ lại là cảnh người đàn ông đánh vợ một cách tàn nhẫn. Một bên là cái đẹp tuyệt đích của nghệ thuật, một bên là sự thật đau đớn của đời sống. Sự đối lập ấy khiến Phùng nhận ra rằng không thể nhìn cuộc đời từ xa rồi vội vàng kết luận về nó.
Câu chuyện của người đàn bà hàng chài càng khiến Phùng và Đẩu phải suy nghĩ. Li hôn tưởng là một cách giải thoát chị khỏi bạo lực, nhưng trong hoàn cảnh một gia đình đông con sống lênh đênh bằng nghề biển, mọi việc không hề giản đơn. Qua nghịch lí ấy, Nguyễn Minh Châu không phủ nhận khát vọng giải thoát con người khỏi đau khổ mà muốn nhắc nhở rằng lòng tốt nếu thiếu sự thấu hiểu có khi vẫn chưa thể giúp được con người. Muốn thương một số phận, trước hết phải bước vào hoàn cảnh của họ, phải thấy những ràng buộc mà từ bên ngoài ta khó lòng nhận biết. Chính sự day dứt ấy là biểu hiện rõ rệt của “mối quan hoài thường trực” về số phận và hạnh phúc con người mà nhà văn từng nói tới.
Nhìn từ những tác phẩm ấy, ý kiến của Nguyễn Minh Châu đã chạm đến thiên chức nhân văn cao quý của người nghệ sĩ. Người cầm bút chân chính cần một trái tim biết yêu thương, nhưng tình thương ấy không đồng nghĩa với sự thương hại dễ dãi. Yêu con người còn là hiểu con người. Nam Cao thương Chí Phèo nhưng không che giấu những hành động lưu manh của Chí; Nguyễn Minh Châu cảm thông với người đàn bà hàng chài nhưng không vì thế mà xem bạo lực là điều có thể dung thứ. Nhà văn phải đi sâu vào căn nguyên của bi kịch, đặt con người trong hoàn cảnh cụ thể để từ đó có một cái nhìn vừa nhân ái vừa tỉnh táo.
Mặt khác, tình yêu thương dù cao đẹp đến đâu cũng cần được chuyển hóa qua tài năng nghệ thuật. Văn chương không phải lời thuyết giảng về lòng nhân ái. Sức mạnh của Vợ nhặt nằm trong tình huống “nhặt vợ” éo le mà thấm thía; sức ám ảnh của Chí Phèo được kết tinh qua một số phận điển hình cùng những chi tiết như bát cháo hành, tiếng chửi, câu hỏi về quyền lương thiện; còn Chiếc thuyền ngoài xa để lại suy tư nhờ tình huống nhận thức giàu nghịch lí. Chính nghệ thuật đã khiến tình thương của người cầm bút từ một cảm xúc riêng trở thành sự rung động có khả năng sống trong tâm hồn nhiều thế hệ.
Và có lẽ đó cũng là một trong những món quà đẹp đẽ nhất mà văn chương trao cho con người. Người đọc có thể chưa từng sống trong nạn đói năm 1945 nhưng vẫn xót xa trước gia đình Tràng; chưa từng bước vào làng Vũ Đại nhưng vẫn day dứt trước câu hỏi của Chí Phèo; chưa từng lênh đênh trên một chiếc thuyền đánh cá nhưng vẫn có thể hiểu phần nào nỗi nhọc nhằn của người đàn bà hàng chài. Những trang văn sinh ra từ lòng thương đã nối những số phận xa lạ lại gần nhau, dạy con người biết nhìn sâu hơn, cảm thông nhiều hơn và bớt đi những phán xét lạnh lùng.
Văn chương qua bao đời vẫn đi tìm con người giữa những vui buồn, được mất của nhân thế. Có khi người nghệ sĩ tìm thấy một đốm sáng của tình người giữa mùa đói, có khi đau đớn trước một linh hồn bị xô đẩy đến bước đường cùng, lại có khi trăn trở trước những nghịch lí không dễ gì tháo gỡ. Nhưng dù viết về ánh sáng hay bóng tối, điểm cuối cùng mà người cầm bút chân chính hướng tới vẫn là số phận và hạnh phúc của con người. Bởi vậy, lời Nguyễn Minh Châu không chỉ đúng với hành trình sáng tạo của riêng ông mà còn như một lời nhắc nhở đối với văn chương muôn đời: tác phẩm có thể được làm nên bởi tài năng, nhưng để sống lâu trong lòng người, nó cần được sưởi ấm bởi một trái tim biết yêu cuộc sống, biết thương con người và biết đau nỗi đau của nhân thế.
Bài tham khảo Mẫu 3
Một tác phẩm có thể khiến người đọc khâm phục bởi tài năng, nhưng để khiến họ nhớ lâu, nó cần chạm đến một điều sâu hơn: cảm giác rằng phía sau những con chữ ấy có một con người thực sự quan tâm đến con người. Nhà văn không chỉ kể lại những gì đang diễn ra. Họ nhìn thấy điều đáng quý trong những cuộc đời bình thường, nhận ra sức sống ở nơi tưởng như chỉ còn tuyệt vọng và không thể thản nhiên trước những số phận bị tổn thương. Bởi thế, Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.” Đó là một cách nói đầy sức nặng về nền tảng nhân văn của nghề viết: muốn đi xa với văn chương, trước hết phải biết yêu và biết đau cùng con người.
“Nhà văn mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người” nghĩa là người nghệ sĩ chân chính không thể đứng ngoài cuộc đời với thái độ lạnh lùng. Họ gắn bó với cuộc sống, nhạy cảm trước những buồn vui và đặc biệt quan tâm đến số phận con người. Nguyễn Minh Châu còn chỉ ra hai trạng thái của tình yêu ấy: “hân hoan say mê” và “đau đớn, khắc khoải”. Thoạt nhìn, đó là hai cảm xúc trái chiều, nhưng thực chất chúng gặp nhau ở một điểm: đều bắt nguồn từ tình yêu. Vì yêu con người nên nhà văn vui khi nhận ra vẻ đẹp, sức sống và khả năng vượt lên nghịch cảnh của họ; cũng vì yêu nên nhà văn không thể bình thản khi phẩm giá, quyền sống và hạnh phúc của con người bị chà đạp. Như vậy, tình yêu cuộc sống và con người vừa thôi thúc nhà văn cầm bút, vừa tạo nên chiều sâu nhân đạo của tác phẩm. Nhà văn chân chính không chỉ nhìn thấy con người đang sống thế nào mà còn luôn tự hỏi: họ có được sống xứng đáng với phẩm giá của mình hay không?
Tình yêu con người trước hết được thể hiện ở khả năng phát hiện ánh sáng ngay trong những hoàn cảnh tưởng như chỉ có bóng tối. Với Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đưa người đọc đến miền núi Tây Bắc, nơi cuộc đời Mị bị vùi lấp dưới ách thống trị của cường quyền và thần quyền. Từ một cô gái trẻ trung, tài hoa, yêu đời, Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, sống lặng lẽ, “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Những tháng ngày bị bóc lột tưởng như đã làm Mị mất hoàn toàn ý thức về bản thân. Nhưng Tô Hoài không nhìn nhân vật như một con người đã chết về tinh thần. Ông kiên nhẫn tìm dưới lớp tro lạnh ấy một sức sống chưa bao giờ tắt hẳn.
Đêm tình mùa xuân là lúc sức sống ấy trở lại mạnh mẽ. Tiếng sáo gọi bạn tình, hơi rượu và kí ức tuổi trẻ khiến Mị nhớ rằng mình vẫn còn trẻ, vẫn muốn đi chơi. Khát vọng sống tưởng đã bị chôn vùi bỗng thức dậy. Dù sau đó bị A Sử trói đứng vào cột, sự thức tỉnh ấy cho thấy cường quyền có thể trói thân thể nhưng chưa thể hoàn toàn giết chết tâm hồn Mị. Đến đêm đông, khi nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ, Mị từ thương người đến ý thức sâu sắc về chính số phận mình. Hành động cắt dây trói cứu A Phủ rồi chạy theo anh là một bước ngoặt quyết liệt: Mị không chỉ giải thoát A Phủ mà còn tự giải thoát bản thân. Ở đây, cái nhìn của Tô Hoài chứa đựng một niềm tin mạnh mẽ: ngay trong con người bị áp bức đến cùng cực vẫn tồn tại khả năng phản kháng và khát vọng tự do. Yêu con người, vì thế, còn là tin rằng con người có thể tự tìm đường bước ra khỏi bóng tối.
Niềm tin ấy cũng tạo nên vẻ đẹp đặc biệt của Những đứa con trong gia đình. Nguyễn Thi viết về một gia đình Nam Bộ chịu quá nhiều mất mát bởi chiến tranh, nhưng tác phẩm không chìm trong không khí bi thương. Trái lại, từ đau thương, những con người trong gia đình ấy hiện lên với sức sống mạnh mẽ và ý chí tiếp nối truyền thống. Việt và Chiến còn rất trẻ, vẫn giữ những nét hồn nhiên của tuổi mới lớn. Hai chị em tranh nhau đi bộ đội, tranh công bắt ếch, và trước ngày nhập ngũ vẫn có những câu chuyện rất đời thường. Nhưng phía sau sự trẻ trung ấy là một ý thức sâu sắc về gia đình và quê hương.
Đặc biệt, cảnh Việt và Chiến khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm trước ngày lên đường là một chi tiết giàu sức gợi. Trong khoảnh khắc ấy, Việt cảm nhận rõ tình cảm dành cho chị và mối thù đối với kẻ đã gây nên bao mất mát cho gia đình. Dòng sông truyền thống mà chú Năm gìn giữ trong cuốn sổ gia đình nay tiếp tục chảy qua thế hệ của Việt và Chiến. Khi bị thương nằm lại giữa chiến trường, Việt nhiều lần mê đi tỉnh lại nhưng vẫn giữ chắc ý thức chiến đấu, vẫn sẵn sàng đối diện với kẻ thù. Nguyễn Thi không biến nhân vật thành những biểu tượng xa lạ với đời thường. Ông để họ vừa anh hùng vừa rất trẻ, vừa mang trách nhiệm với đất nước vừa có những tình cảm gia đình gần gũi. Chính tình yêu con người giúp nhà văn nhận ra vẻ đẹp lớn lao trong những con người bình dị ấy.
Nhưng yêu con người không chỉ là vui mừng khi tìm thấy vẻ đẹp. Tình yêu càng sâu thì nỗi đau trước những số phận bất hạnh càng trở nên day dứt. Lão Hạc của Nam Cao là một câu chuyện không có những biến cố dữ dội, nhưng lại chứa đựng nỗi xót xa dai dẳng về một người nông dân nghèo bị đẩy đến đường cùng. Lão Hạc sống cô độc, nghèo túng, chỉ còn mảnh vườn dành cho con trai và con chó Vàng làm bạn. Cái đói ngày một bủa vây khiến lão buộc phải bán con chó mà mình yêu quý. Sau khi bán cậu Vàng, lão đau đớn, ân hận vì cảm thấy mình đã “đánh lừa một con chó”. Đằng sau sự day dứt tưởng nhỏ bé ấy là một nhân cách đáng trọng: một người nghèo khổ đến tận cùng nhưng vẫn giữ được sự lương thiện và lòng nhân hậu.
Bi kịch của lão Hạc càng đau hơn khi lão lựa chọn cái chết để bảo toàn mảnh vườn cho con và không trở thành gánh nặng cho người khác. Nam Cao đã để nhân vật chết dữ dội bằng bả chó – một cái chết khiến người đọc ám ảnh bởi chính lão từng đau đớn sau khi bán con chó của mình. Nhà văn không chỉ thương lão vì nghèo. Điều khiến ông đau hơn là một con người lương thiện, giàu lòng tự trọng lại bị hoàn cảnh dồn đến mức phải tự kết thúc sự sống để giữ gìn những điều cuối cùng mình trân quý. Qua lời suy ngẫm của ông giáo, Nam Cao còn nhắc người đọc đừng vội phán xét con người từ vẻ ngoài hay một vài hành động. Đằng sau mỗi số phận có thể là những nỗi niềm mà nếu không cố tìm hiểu, ta sẽ không bao giờ thấy hết. Bởi vậy, tình thương trong văn Nam Cao luôn đi cùng sự thấu hiểu.
Nếu Lão Hạc là nỗi đau trước một con người bị cái nghèo dồn đến cái chết thì Tắt đèn của Ngô Tất Tố lại cho thấy cả một cơ chế xã hội đang bóp nghẹt cuộc sống của người nông dân. Gia đình chị Dậu vốn đã nghèo lại phải đối diện với sưu thuế nặng nề. Anh Dậu ốm yếu vẫn bị trói, đánh đập vì chưa có tiền nộp sưu. Để cứu chồng, chị Dậu phải bán chó, bán khoai, thậm chí phải bán cả đứa con gái nhỏ. Ngô Tất Tố đặt nhân vật vào một tình thế đau đớn: một người mẹ thương con nhưng lại phải tự tay đẩy con ra khỏi mái nhà chỉ vì sự sống của cả gia đình đang bị dồn đến giới hạn.
Đặc biệt, cảnh cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào nhà bắt trói anh Dậu đã cho thấy sự tàn nhẫn của bộ máy thuế khóa. Ban đầu, chị Dậu nhẫn nhịn van xin vì muốn bảo vệ người chồng đang ốm. Nhưng khi sự nhẫn nhịn bị đáp lại bằng bạo lực, chị đã vùng lên chống trả. Sự phản kháng ấy không chỉ cho thấy sức mạnh của một người phụ nữ bị dồn vào bước đường cùng mà còn thể hiện cái nhìn trân trọng của Ngô Tất Tố đối với phẩm giá con người. Nhà văn đau trước cảnh người nông dân bị áp bức, nhưng ông không nhìn họ như những nạn nhân hoàn toàn bất lực. Trong chị Dậu vẫn có một sức phản kháng mạnh mẽ, một ý thức bảo vệ những người mình yêu thương. Chính vì thương con người, Ngô Tất Tố vừa phơi bày bộ mặt tàn nhẫn của xã hội vừa phát hiện sức sống tiềm tàng trong những con người ở dưới đáy.
Từ Mị, A Phủ, Việt, Chiến đến lão Hạc và chị Dậu, có thể thấy “hân hoan” và “đau đớn” trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu chưa bao giờ tách rời nhau. Nhà văn vui bởi con người vẫn có thể đẹp trong nghịch cảnh; nhà văn đau bởi những vẻ đẹp ấy nhiều khi phải tồn tại giữa đói nghèo, bạo lực và áp bức. Nếu không yêu Mị, Tô Hoài khó có thể kiên nhẫn nhận ra sức sống âm thầm phía sau vẻ ngoài câm lặng. Nếu không thương lão Hạc, Nam Cao có thể chỉ nhìn thấy một người nông dân nghèo quẫn trí. Nếu không đứng về phía chị Dậu, Ngô Tất Tố khó có thể biến câu chuyện sưu thuế thành một lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội đương thời. Văn chương chân chính vì vậy không bằng lòng với việc ghi chép hiện thực. Nó đi sâu vào số phận con người để tìm ra điều đáng yêu, đồng thời truy tìm những nguyên nhân khiến con người phải đau khổ.
Ý kiến của Nguyễn Minh Châu bởi thế đã đặt ra một yêu cầu quan trọng đối với người nghệ sĩ: tình yêu thương phải đi cùng sự thấu hiểu. Thương con người không có nghĩa là chỉ nhìn thấy điều tốt đẹp hay né tránh những giới hạn của họ. Một tình thương thực sự cần đủ gần để hiểu hoàn cảnh, đủ sâu để nhận ra những phần khuất và cũng đủ tỉnh táo để không biến văn chương thành sự thương hại đơn giản. Người nghệ sĩ phải nhìn con người trong toàn bộ sự phức tạp của họ, bởi đôi khi một hành động tưởng khó hiểu lại ẩn chứa phía sau cả một lịch sử đau đớn.
Tuy nhiên, tấm lòng thôi chưa đủ để tạo nên văn chương lớn. Tình yêu con người phải được chuyển hóa thành giá trị nghệ thuật. Sức sống của Mị trở nên ám ảnh qua tiếng sáo mùa xuân và hành động cắt dây trói; phẩm giá của lão Hạc được khắc sâu qua câu chuyện bán chó và cái chết dữ dội; sức phản kháng của chị Dậu được đẩy lên cao trong cuộc đối đầu với cai lệ; vẻ đẹp của Việt và Chiến được đặt trong dòng chảy truyền thống gia đình. Chính tài năng lựa chọn tình huống, xây dựng nhân vật, tổ chức chi tiết và ngôn ngữ đã giúp lòng nhân ái của nhà văn trở thành một trải nghiệm thẩm mĩ có sức sống lâu dài.
Và khi tình thương đã trở thành nghệ thuật, nó không dừng lại ở trái tim người viết. Nó đi sang phía người đọc. Ta có thể chưa từng sống cuộc đời của Mị, chưa từng chịu cảnh sưu thuế như chị Dậu, chưa từng trải qua nỗi cô độc của lão Hạc hay chiến đấu như Việt và Chiến, nhưng qua văn chương, ta có thể hiểu và cảm nhận phần nào những cuộc đời ấy. Một tác phẩm chân chính khiến khoảng cách giữa “ta” và “người khác” trở nên nhỏ hơn. Nó khiến con người bớt dễ dàng phán xét, biết lắng nghe những nỗi đau không thuộc về mình và biết trân trọng hơn quyền được sống, được yêu thương, được tự do và hạnh phúc của mỗi người. Theo nghĩa đó, văn học không chỉ phản ánh con người mà còn góp phần làm cho con người trở nên người hơn.
Có lẽ thước đo bền vững nhất của một trang văn không nằm ở việc nó nói những điều lớn lao đến đâu, mà ở việc sau khi đọc xong, ta nhìn con người khác đi như thế nào. Vợ chồng A Phủ, Những đứa con trong gia đình, Lão Hạc, Tắt đèn ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau, viết về những số phận khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm: phía sau câu chữ là một trái tim không dửng dưng trước con người. Bởi vậy, nhận định của Nguyễn Minh Châu đã chạm đúng bản chất nhân văn và thiên chức sâu xa của văn chương. Người nghệ sĩ chân chính biết vui khi con người vươn về phía ánh sáng, biết đau khi con người bị đẩy vào bóng tối, và quan trọng hơn, không bao giờ thôi đặt câu hỏi về phẩm giá và hạnh phúc của họ. Chính từ mối quan hoài ấy, văn chương có được khả năng sống lâu hơn thời đại đã sinh ra nó.
Bài tham khảo Mẫu 4
Có những trang văn không tìm đến người đọc bằng những điều quá lớn lao. Chúng ở lại chỉ bằng một con người lặng lẽ làm việc giữa núi rừng, một cô gái trẻ đi qua chiến tranh với những rung động rất trong trẻo, hay một mái nhà nghèo khiến ta chợt thấy lòng mình se lại. Văn chương có sức lay động nhiều khi bắt đầu từ những điều giản dị như thế, bởi phía sau câu chữ là một trái tim biết vui cùng niềm vui của con người và biết buồn trước những cảnh đời bất hạnh. Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.” Nhận định ấy đã nói thật sâu sắc về điểm khởi đầu của văn chương chân chính: tình yêu dành cho cuộc đời và con người.
“Nhà văn mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người” nghĩa là người cầm bút luôn gắn bó với cuộc đời bằng một tấm lòng thiết tha. Họ không chỉ quan sát con người từ bên ngoài mà còn cố gắng lắng nghe những niềm vui, nỗi buồn, những mong ước đôi khi rất thầm kín của mỗi số phận. Nguyễn Minh Châu đặc biệt nhấn mạnh hai trạng thái của tình yêu ấy: “hân hoan say mê” và “đau đớn, khắc khoải”. Đó không phải hai cảm xúc đối lập. Chúng cùng được sinh ra từ một trái tim biết yêu. Càng yêu cuộc sống, nhà văn càng vui khi phát hiện những điều đẹp đẽ; càng thương con người, nhà văn càng day dứt trước những gì khiến con người phải chịu đau khổ. Vì thế, tình yêu cuộc sống và con người vừa là nguồn cảm hứng thôi thúc người nghệ sĩ sáng tạo, vừa làm nên chiều sâu nhân đạo của tác phẩm. Một nhà văn chân chính luôn biết nâng niu vẻ đẹp của con người và không thể bình thản trước những số phận bị tổn thương.
Có những khi, tình yêu ấy hiện ra trong niềm vui nhẹ nhàng của người nghệ sĩ khi bắt gặp những con người đang âm thầm làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một tác phẩm như vậy. Sa Pa trong truyện không chỉ có mây, núi, những rặng đào hay vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên. Giữa không gian tưởng như chỉ có sự tĩnh lặng ấy, nhà văn phát hiện một cuộc sống khác đang bền bỉ diễn ra qua công việc của những con người bình thường.
Anh thanh niên sống một mình trên đỉnh Yên Sơn, làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Công việc của anh đòi hỏi sự chính xác, đều đặn và tinh thần trách nhiệm cao. Có những lần phải thức dậy giữa đêm lạnh để làm nhiệm vụ, nhưng anh vẫn nghiêm túc với công việc bởi hiểu rằng những số liệu mình thu thập có ích cho sản xuất và chiến đấu. Điều đáng quý là cuộc sống một mình không khiến anh trở nên khép kín. Anh trồng hoa, đọc sách, nuôi gà, sắp xếp căn nhà nhỏ gọn gàng và luôn tha thiết được gặp gỡ mọi người. Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung, anh lại ngượng ngùng từ chối và giới thiệu những người mà anh cho rằng còn đáng được ghi nhận hơn mình. Nguyễn Thành Long đã nhìn thấy ở một người trẻ bình thường biết bao điều đẹp đẽ: trách nhiệm, khiêm nhường, lòng yêu nghề và một đời sống tâm hồn trong sáng. Qua anh thanh niên, nhà văn như muốn nói rằng giữa cuộc đời rộng lớn có rất nhiều con người đang lặng lẽ cống hiến mà vẻ đẹp của họ không phải lúc nào cũng dễ dàng được nhìn thấy. Niềm “hân hoan say mê” của người nghệ sĩ chính là niềm vui khi được phát hiện và nâng niu những vẻ đẹp bình dị ấy.
Nếu Lặng lẽ Sa Pa mang vẻ đẹp êm dịu của những con người lao động thì Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê lại đưa người đọc đến một nơi dữ dội hơn: chiến trường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Ở đó có ba cô gái thanh niên xung phong: Phương Định, Nho và chị Thao. Công việc của họ là quan sát trọng điểm, đo khối lượng đất đá, đánh dấu những quả bom chưa nổ và khi cần phải trực tiếp phá bom. Cái chết luôn ở rất gần, nhưng điều Lê Minh Khuê lưu giữ trên trang văn không chỉ là sự khốc liệt của chiến tranh mà còn là vẻ đẹp trẻ trung, hồn nhiên của những cô gái đang sống giữa chiến trường.
Phương Định can đảm khi làm nhiệm vụ nhưng vẫn là một cô gái Hà Nội thích hát, hay nhớ về thành phố, nhạy cảm trước ánh mắt của những người xung quanh. Chị Thao bình tĩnh trong công việc nhưng lại sợ máu. Nho nhỏ nhắn, đáng yêu và khi bị thương lập tức nhận được sự chăm sóc đầy lo lắng của đồng đội. Đặc biệt, trận mưa đá ngắn ngủi giữa chiến trường đã làm sống dậy trong Phương Định biết bao kí ức về Hà Nội, về gia đình và những ngày bình yên. Những chi tiết ấy khiến các cô gái hiện lên không phải như những hình tượng xa vời mà rất gần gũi, trẻ trung. Lê Minh Khuê yêu quý họ nên không chỉ nhìn thấy lòng dũng cảm mà còn gìn giữ cả những nét hồn nhiên tưởng như chiến tranh có thể làm mất đi. Giữa bom đạn, tâm hồn họ vẫn sáng trong như những “ngôi sao xa xôi”. Chính niềm tin vào vẻ đẹp của con người đã giúp nhà văn tìm thấy ánh sáng ở nơi cái chết luôn rình rập.
Nhưng một trái tim biết vui trước vẻ đẹp cũng sẽ dễ đau trước những cuộc đời không được sống như họ mong muốn. Nam Cao là một nhà văn thường mang trong mình nỗi day dứt như thế. Trong Đời thừa, ông viết về Hộ – một người trí thức nghèo từng ôm ấp lí tưởng đẹp đẽ về văn chương. Hộ muốn viết những tác phẩm thực sự có giá trị, muốn văn chương của mình phải đem đến một điều gì mới mẻ và có ý nghĩa. Anh từng xem nghệ thuật là lẽ sống lớn lao của đời mình.
Nhưng gánh nặng cơm áo đã dần đẩy Hộ ra xa những ước mơ ấy. Vì phải kiếm tiền nuôi gia đình, anh buộc phải viết vội vàng, dễ dãi, rồi chính anh lại đau đớn khi đọc lại những gì mình viết. Bi kịch của Hộ không chỉ nằm ở sự bất thành trong sự nghiệp. Đau hơn, những bế tắc của cuộc sống còn khiến anh có lúc trở nên thô bạo với Từ và các con – những người anh vốn yêu thương và từng muốn che chở. Khi tỉnh lại, Hộ đau đớn nhận ra mình đã vi phạm chính nguyên tắc sống mà mình trân trọng: tình thương.
Nam Cao không nhìn Hộ bằng thái độ kết tội lạnh lùng. Ông hiểu cả ước mơ đẹp đẽ lẫn sự yếu đuối, những phút sai lầm và nỗi ân hận của nhân vật. Chính vì hiểu nên nỗi đau càng trở nên sâu sắc. Một con người từng muốn sống đẹp, muốn sáng tạo những tác phẩm có giá trị lại bị hoàn cảnh đẩy vào sự giằng xé giữa lí tưởng nghệ thuật và trách nhiệm gia đình. Qua Hộ, Nam Cao không chỉ thương một người trí thức nghèo mà còn đau trước hoàn cảnh sống đã làm những khát vọng đẹp đẽ bị bào mòn. Tình thương của ông vì thế không phải sự thương hại từ bên ngoài mà là một nỗ lực đi sâu vào những vùng phức tạp nhất của tâm hồn con người.
Nếu Đời thừa khiến ta day dứt về bi kịch tinh thần của người trí thức thì Nhà mẹ Lê của Thạch Lam lại để lại một nỗi buồn lặng hơn. Mẹ Lê là một người đàn bà nghèo, đông con, sống cùng đàn con trong một căn nhà chật chội ở một phố huyện nghèo. Cuộc sống của cả gia đình luôn bị cái đói đeo bám. Mẹ phải làm lụng vất vả, mùa nào việc ấy, chỉ mong kiếm đủ thức ăn cho những đứa trẻ. Khi mùa rét đến, công việc trở nên khó kiếm, cái nghèo càng siết chặt lấy gia đình.
Thạch Lam không cần đến những lời tố cáo gay gắt. Ông kể về mẹ Lê và những đứa trẻ bằng một giọng văn chậm, nhẹ mà buồn. Chính sự bình thản ấy lại khiến cảnh nghèo hiện lên càng xót xa. Trong bước đường cùng, mẹ Lê phải tìm đến nhà ông Bá để xin gạo rồi bị chó cắn. Vết thương cuối cùng dẫn đến cái chết của người mẹ nghèo, để lại đàn con bơ vơ. Đằng sau câu chuyện nhỏ ấy là một câu hỏi lớn về số phận của những con người nghèo khổ: tại sao một người mẹ chỉ mong có chút thức ăn cho con cũng phải trả một cái giá quá đắt?
Nỗi đau của Thạch Lam không ồn ào nhưng thấm lâu. Nhà văn dường như đứng rất gần những con người nhỏ bé ấy, lắng nghe cái đói, cái rét và nỗi lo thường ngày của họ. Ông không biến mẹ Lê thành một con người phi thường; bà chỉ là một người mẹ nghèo cố gắng nuôi con bằng tất cả sức lực mình có. Nhưng chính sự bình thường ấy khiến số phận của bà trở nên đáng thương hơn. Qua Nhà mẹ Lê, có thể hiểu rõ hơn điều Nguyễn Minh Châu gọi là “một mối quan hoài thường trực” về số phận và hạnh phúc của những người chung quanh mình. Người nghệ sĩ không nhất thiết phải nói thật lớn về nỗi đau. Đôi khi chỉ cần nhìn một cuộc đời đủ lâu và đủ gần, nỗi xót xa tự nó đã cất thành lời.
Từ Lặng lẽ Sa Pa, Những ngôi sao xa xôi đến Đời thừa, Nhà mẹ Lê, ta nhận ra rằng niềm vui và nỗi đau của người nghệ sĩ thực ra luôn đi cùng nhau. Nguyễn Thành Long vui khi bắt gặp những con người lặng thầm cống hiến. Lê Minh Khuê trìu mến trước những cô gái vẫn giữ được tuổi trẻ trong chiến tranh. Nam Cao đau khi một con người có khát vọng đẹp lại bị cuộc sống làm cho méo mó. Thạch Lam xót xa trước một người mẹ nghèo không thể bảo vệ nổi hạnh phúc nhỏ bé của gia đình. Tất cả đều bắt đầu từ một điều rất giản dị: họ quan tâm đến con người. Yêu con người trước hết là tin vào những điều tốt đẹp nơi họ; nhưng càng tin và càng yêu, người nghệ sĩ càng không thể dửng dưng trước những gì đang làm tổn thương họ.
Bởi vậy, ý kiến của Nguyễn Minh Châu đã chạm tới thiên chức nhân văn của người cầm bút. Tuy nhiên, tình yêu thương trong văn chương không nên dừng lại ở lòng thương cảm. Muốn thương con người thật sự, nhà văn cần hiểu họ. Hộ trong Đời thừa không hoàn toàn tốt cũng không hoàn toàn xấu; anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa đáng quý không phải bởi những lời ngợi ca mà bởi cách anh sống và làm việc mỗi ngày. Cái nhìn nhân văn là cái nhìn đủ kiên nhẫn để đi qua bề mặt của một số phận và nhận ra những điều đang diễn ra bên trong.
Tình yêu ấy cũng phải được chuyển hóa bằng tài năng nghệ thuật. Nếu chỉ có lòng tốt, người ta có thể trở thành một người tử tế nhưng chưa chắc đã trở thành một nhà văn lớn. Nguyễn Thành Long tạo nên một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi mà từ đó vẻ đẹp của nhiều con người được hé mở; Lê Minh Khuê lựa chọn ngôi kể của Phương Định để chiến tranh hiện lên vừa dữ dội vừa trẻ trung; Nam Cao đặt Hộ vào những xung đột nội tâm đau đớn; Thạch Lam dùng giọng kể nhẹ nhàng để nỗi buồn của Nhà mẹ Lê lan ra một cách tự nhiên. Nghệ thuật giúp tình thương của một cá nhân trở thành cảm xúc có thể truyền sang người khác.
Và đó có lẽ cũng là điều đẹp nhất mà văn chương có thể làm. Khi đọc về một người xa lạ, ta dần hiểu một cuộc đời khác với cuộc đời mình. Ta biết quý hơn những con người âm thầm cống hiến, biết yêu vẻ trong trẻo của tuổi trẻ, nhưng cũng biết buồn trước một ước mơ bị vùi dập hay một mái nhà bị cái nghèo làm tan tác. Tác phẩm được sinh ra từ tình thương lại tiếp tục gieo tình thương vào người đọc. Nhờ thế, văn học không chỉ kể cho chúng ta biết con người đã sống ra sao mà còn âm thầm dạy ta cách nhìn nhau bằng một ánh mắt bao dung và thấu hiểu hơn.
Có lẽ một tác phẩm thực sự có ý nghĩa là tác phẩm mà khi trang sách đã khép lại, một số phận nào đó vẫn còn ở lại trong lòng ta. Ta nhớ anh thanh niên một mình giữa Sa Pa, nhớ những cô gái trẻ trên cao điểm, thương những giằng xé của Hộ và không khỏi buồn trước mái nhà của mẹ Lê. Những con người ấy khác nhau, nhưng đều được giữ lại trong văn chương bởi một tấm lòng không thờ ơ với cuộc sống. Bởi thế, quan niệm của Nguyễn Minh Châu không chỉ nói đúng về người nghệ sĩ mà còn gợi ra lí do văn chương có thể đi cùng con người qua nhiều thế hệ. Khi nhà văn thực sự biết yêu niềm vui của con người và biết đau trước nỗi đau của họ, trang viết sẽ không còn chỉ là câu chữ; nó trở thành một cách để con người tìm đến, hiểu và thương nhau hơn.
Bài tham khảo Mẫu 5
Có những trang văn giống như một ngọn đèn được thắp lên giữa đời sống: không rực rỡ đến chói mắt, nhưng đủ ấm để người đọc nhìn rõ hơn một gương mặt, một số phận, một nỗi buồn hay một ước mơ còn đang dang dở. Đằng sau ánh sáng ấy thường là trái tim của người nghệ sĩ – một trái tim biết rung động trước cái đẹp, biết vui khi con người giữ được phẩm giá, và cũng biết đau khi hạnh phúc của họ bị vùi lấp. Bởi thế, Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình.” Đó là một quan niệm sâu sắc về cội nguồn của văn chương: muốn viết được về con người, trước hết phải biết yêu con người.
“Nhà văn mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người” có nghĩa là người cầm bút không thể đi qua cuộc đời với ánh mắt lạnh lẽo. Họ nhìn cuộc sống bằng sự thiết tha, lắng nghe những vui buồn nhỏ bé, nhận ra cả những phần sáng lẫn những góc tối trong số phận con người. Tình yêu ấy có hai biểu hiện tưởng chừng trái ngược mà thực ra lại gắn bó sâu xa. Đó là “niềm hân hoan say mê” khi người nghệ sĩ phát hiện vẻ đẹp, sức sống, khát vọng và phẩm giá của con người; đồng thời cũng là “nỗi đau đớn, khắc khoải” khi những điều đẹp đẽ ấy bị cuộc đời làm tổn thương. Càng yêu cuộc sống, nhà văn càng dễ rung động trước ánh sáng; càng thương con người, họ càng day dứt trước bóng tối. Vì thế, tình yêu con người vừa là nguồn cảm hứng của sáng tạo, vừa là nền tảng làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Có khi tình yêu ấy hiện lên trong một niềm vui rất dịu dàng: niềm vui được nhận ra rằng ngay giữa một cuộc sống nghèo nàn, con người vẫn biết hướng về ánh sáng. Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một trang văn như thế. Phố huyện trong truyện hiện lên lúc chiều tàn, buồn và vắng. Những kiếp người nhỏ bé sống quanh quẩn trong bóng tối: chị Tí với gánh hàng nước nghèo nàn, bác Siêu với hàng phở, gia đình bác xẩm, bà cụ Thi, chị em Liên và An. Cuộc sống của họ gần như không có một biến cố lớn, chỉ là những ngày lặp lại trong mỏi mòn và thiếu thốn.
Thế nhưng Thạch Lam không nhìn những con người ấy bằng cái nhìn bi quan tuyệt đối. Ông vẫn lặng lẽ nhận ra trong họ một niềm mong đợi, một khát vọng hướng về điều gì đó sáng hơn cuộc sống hiện tại. Chi tiết đoàn tàu đêm đi qua phố huyện đã trở thành điểm sáng đặc biệt. Liên và An dù buồn ngủ vẫn cố thức để chờ tàu. Ánh sáng từ những toa tàu, tiếng bánh sắt, những ô cửa sáng trưng gợi lên một thế giới khác – đông vui, rực rỡ, đầy chuyển động. Với Liên, đoàn tàu còn gợi nhớ Hà Nội xa xăm, gợi về một quãng đời sáng sủa hơn. Khoảnh khắc ấy tuy ngắn ngủi nhưng cho thấy trong tâm hồn những con người nghèo vẫn có một niềm hướng vọng. Thạch Lam yêu họ nên không chỉ nhìn thấy bóng tối của hiện thực mà còn nâng niu một chút ánh sáng trong tâm hồn. Chính vì thế, Hai đứa trẻ buồn mà không tuyệt vọng, lặng lẽ mà vẫn ấm.
Nếu Thạch Lam tìm thấy ánh sáng trong những tâm hồn nhỏ bé của phố huyện, Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù lại say mê trước vẻ đẹp lớn lao của khí phách và thiên lương. Huấn Cao bước vào tác phẩm trong tư thế của một người tử tù, nhưng ngay cả khi bị giam cầm, ông vẫn không mất đi vẻ tự do bên trong. Ông có tài viết chữ đẹp, có khí phách hiên ngang và đặc biệt là một tấm lòng biết quý người có thiên lương. Nguyễn Tuân không chỉ ngợi ca tài hoa, mà còn ngợi ca sự gặp gỡ giữa cái đẹp và cái thiện.
Cảnh cho chữ cuối truyện là nơi niềm say mê ấy đạt đến độ rực rỡ nhất. Trong buồng giam tối tăm, bẩn thỉu, ánh sáng của bó đuốc, mùi mực thơm và những nét chữ vuông tươi tắn đã làm đảo lộn trật tự thông thường. Người tử tù lại ở tư thế của người ban phát cái đẹp; quản ngục cúi đầu trước nhân cách và tài hoa mà mình kính trọng. Không gian nhà tù vì thế trong khoảnh khắc đã bị cái đẹp và thiên lương vượt qua. Nguyễn Tuân dường như muốn khẳng định rằng con người có thể bị giam cầm về thân xác nhưng phẩm giá và khí phách vẫn có thể tự do. Đó là một niềm “hân hoan say mê” rất nghệ sĩ: tìm thấy cái đẹp ở nơi tưởng như chỉ có bóng tối, và tin rằng cái đẹp có khả năng làm con người trở nên thanh sạch hơn.
Nhưng một trái tim biết nâng niu ánh sáng cũng sẽ đau rất sâu trước những gì làm con người bị hạ thấp. Trong Đồng hào có ma, Nguyễn Công Hoan đã hướng ngòi bút trào phúng của mình vào một hiện thực méo mó, nơi đồng tiền có thể làm biến dạng cả đạo lí và nhân cách. Câu chuyện xoay quanh những biểu hiện tham lam, vụ lợi, những con người bị đồng tiền chi phối đến mức trở nên nhỏ nhen và đáng buồn. Tiếng cười Nguyễn Công Hoan tạo ra không phải thứ tiếng cười vô tư. Đằng sau sự châm biếm là nỗi cay đắng trước một xã hội mà đồng tiền có thể len vào quan hệ giữa người với người, khiến lòng tham lấn át tình nghĩa.
Đặc sắc của Nguyễn Công Hoan là ông thường khiến người đọc bật cười trước những nghịch lí, rồi sau tiếng cười ấy lại thấy một nỗi chua chát đọng lại. Tình thương trong văn ông vì thế không mềm mại theo cách của Thạch Lam, mà thường ẩn dưới giọng giễu nhại sắc lạnh. Nhưng chính sự sắc lạnh ấy lại cho thấy ông không thể chấp nhận một đời sống nơi con người bị đồng tiền làm cho méo mó. Càng thấy cái đáng cười, nhà văn càng thấy cái đáng buồn. Càng phơi bày sự lố bịch, ông càng đau trước phẩm giá con người đang bị hạ thấp.
Nỗi đau ấy còn hiện lên ám ảnh trong Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao. Ở đây, cái đói, sự nghèo túng và những ham muốn ích kỉ của người lớn đặt bên cạnh sự ngây thơ, thiếu thốn của trẻ nhỏ đã tạo nên một nghịch lí buồn bã. Nam Cao vốn luôn nhìn những cảnh đời nghèo bằng một sự thấu hiểu sâu xa. Ông không chỉ thấy cái đói của thân xác, mà còn thấy cái đói có thể làm tổn thương tình cảm, làm những quan hệ vốn nên ấm áp trở nên méo mó.
Những đứa trẻ trong truyện không có lỗi gì, nhưng lại phải gánh chịu sự thiếu thốn và những ứng xử vô tình của người lớn. Chính ở đó, nỗi đau của Nam Cao trở nên rõ rệt. Ông không cần dùng những lời bi lụy. Chỉ cần đặt sự hồn nhiên của trẻ nhỏ bên cạnh một cuộc sống nghèo đói và khắc nghiệt, câu chuyện đã đủ khiến người đọc chạnh lòng. Tình thương của Nam Cao là một thứ tình thương rất tỉnh táo: ông nhìn thấy cả những phần xấu xí, nhỏ nhen mà hoàn cảnh có thể tạo ra ở con người, nhưng càng nhìn thấy chúng, ông càng đau cho con người hơn. Bởi phía sau một hành động đáng trách đôi khi là cả một đời sống bị bóp nghẹt bởi đói nghèo và thiếu thốn.
Từ Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù đến Đồng hào có ma, Trẻ con không được ăn thịt chó, có thể thấy rõ hai sắc thái mà Nguyễn Minh Châu từng nói đến. Có niềm vui khi nhà văn bắt gặp một tia sáng, một vẻ đẹp, một chút thiên lương còn nguyên vẹn. Nhưng cũng có nỗi đau khi họ chứng kiến con người bị bóng tối, đồng tiền, nghèo đói hay những điều thấp hèn bủa vây. Hai cảm xúc ấy không hề tách rời. Chính vì tin con người có thể đẹp nên người nghệ sĩ càng đau khi vẻ đẹp ấy bị tổn thương; chính vì yêu cuộc sống nên họ càng không thể bình thản trước những điều làm cuộc sống trở nên nghèo nàn và tăm tối.
Nhận định của Nguyễn Minh Châu vì thế đã đề cao thiên chức nhân văn của người nghệ sĩ. Nhưng tình yêu con người trong văn chương không thể chỉ là sự thương cảm từ xa. Muốn yêu một số phận, nhà văn phải hiểu số phận ấy. Thạch Lam hiểu được nỗi mong chờ rất mơ hồ của những con người nơi phố huyện; Nam Cao hiểu sự nghèo đói có thể làm tổn thương những quan hệ thân thuộc; Nguyễn Công Hoan nhìn thấy sự tha hóa của con người trong một xã hội đồng tiền lên ngôi; Nguyễn Tuân lại nhận ra vẻ đẹp có thể bừng sáng trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Sự thấu hiểu ấy khiến tình thương trong văn chương trở nên sâu sắc hơn, không dễ dãi, không một chiều.
Tuy nhiên, tấm lòng nhân ái chỉ thực sự trở thành văn chương khi được chuyển hóa thành nghệ thuật. Thạch Lam dùng giọng văn nhẹ, chậm và giàu chất thơ để bóng tối phố huyện trở nên ám ảnh. Nguyễn Tuân tạo nên một cảnh tượng giàu tính tạo hình, đầy tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Nguyễn Công Hoan dùng tiếng cười trào phúng để phơi bày những nghịch lí xã hội. Nam Cao lại đi sâu vào những tình huống đời thường để làm lộ ra những vết thương tinh thần. Mỗi nhà văn một cách, nhưng đều cho thấy: tình thương chỉ có thể đi xa khi được nâng đỡ bởi tài năng nghệ thuật.
Và rồi, tình yêu từ trái tim người viết sẽ tìm đường sang trái tim người đọc. Ta thương Liên bởi em vẫn hướng về ánh sáng giữa phố huyện tối tăm; ta kính trọng Huấn Cao bởi con người ấy vẫn giữ khí phách và thiên lương trong chốn ngục tù; ta bật cười mà chua xót trước những điều Nguyễn Công Hoan phơi bày; ta lặng đi trước những đứa trẻ nghèo trong trang văn Nam Cao. Văn học khiến ta nhìn thấy những cuộc đời khác mình mà vẫn cảm thấy gần gũi. Nó mở rộng khả năng đồng cảm, làm cho con người biết quý hơn phẩm giá, hạnh phúc và những niềm vui rất nhỏ của người khác. Theo nghĩa ấy, văn chương không chỉ kể về con người mà còn góp phần giữ gìn phần người trong mỗi chúng ta.
Có lẽ văn chương đẹp nhất khi nó giống một dòng ánh sáng đi qua nhiều bóng tối của đời sống mà vẫn không tắt. Ánh sáng ấy có thể là niềm mong đợi của Liên, là thiên lương của Huấn Cao, là tiếng cười chua chát của Nguyễn Công Hoan hay nỗi thương cảm thầm lặng của Nam Cao. Dù mang sắc độ nào, tất cả đều bắt nguồn từ một trái tim không thể dửng dưng trước con người. Bởi vậy, ý kiến của Nguyễn Minh Châu không chỉ là lời nói về nghề viết mà còn là một lời nhắc về căn cốt của văn chương chân chính: người nghệ sĩ phải biết vui trước vẻ đẹp của con người, biết đau trước những gì làm con người tổn thương, và suốt hành trình sáng tạo vẫn không ngừng giữ trong lòng một mối quan hoài về số phận, phẩm giá và hạnh phúc của họ.
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: "Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài..." (Ý nghĩa văn chương- Hoài Thanh) hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cá đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người” (Lê Đình Kỵ) hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách nhữ
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm Khi con tu hú, hãy viết bài văn với chủ đề: “Khúc tự tình về quê hương đất nước trong tác phẩm văn chương” hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm từ một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THCS, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Thơ là sứ giả của tình yêu” (Nguyễn Hữu Quý) hay nhất
- Top 45 bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài thơ Lời của chim hải âu của Nguyễn Đình Tâm. Từ đó, bàn luận về ý kiến sau: "Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính
- Top 45 Bài văn trình bày cảm nhận về những biểu hiện của tình yêu nước qua một số tác phẩm thơ yêu thích hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm Khi con tu hú, hãy viết bài văn với chủ đề: “Khúc tự tình về quê hương đất nước trong tác phẩm văn chương” hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách nhữ




Danh sách bình luận