content-pc content-tablet content-mobile
1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ 6 chữ

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Bốn mùa mơ ước (Nguyễn Lãm Thắng)


I. Mở bài - Giới thiệu tác giả Nguyễn Lãm Thắng và bài thơ Bốn mùa mơ ước. - Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Khát vọng tuổi thơ đẹp đẽ, hồn nhiên và lòng yêu cuộc sống, yêu đất nước qua bức tranh bốn mùa.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Lãm Thắng và bài thơ Bốn mùa mơ ước.

- Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Khát vọng tuổi thơ đẹp đẽ, hồn nhiên và lòng yêu cuộc sống, yêu đất nước qua bức tranh bốn mùa.

II. Thân bài

1. Mùa xuân: Khát vọng đem lại niềm vui và sự sống (Khổ 1)

- Hình ảnh: cánh én, nắng xuân, tiếng cười.

- Ý nghĩa: Cánh én báo hiệu mùa xuân, mang sự sống và hơi ấm đến cho muôn nơi.

- Tâm hồn nhà thơ (nhân vật trữ tình): Trong veo, tràn đầy tình yêu thương và sự gắn kết với mọi người.

2. Mùa hạ: Khát vọng sẻ chia và ích lợi cho đời (Khổ 2)

- Hình ảnh: cơn gió, ngày nắng hạ nồng oi, mây, mưa dịu mát.

- Ý nghĩa: Sự đối lập giữa cái oi bức của mùa hạ và sự dịu mát mà cơn gió, làn mây đem lại.

- Tâm hồn nhà thơ: Ước muốn được hóa thân thành thiên nhiên để xoa dịu những nhọc nhằn, mang lại sự dễ chịu cho cuộc đời.

3. Mùa thu: Khát vọng hòa nhập vào vẻ đẹp lung linh của vũ trụ (Khổ 3)

- Hình ảnh: vầng trăng tỏ, trời thu xanh, ngôi sao nhỏ, đôi mắt long lanh.

- Ý nghĩa: Bức tranh thiên nhiên mùa thu trong trẻo, nên thơ và đầy mộng mơ.

- Tâm hồn nhà thơ: Sự gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên cao rộng, thể hiện nét đẹp tâm hồn trong sáng, bay bổng.

4. Mùa đông: Khát vọng sưởi ấm và mang lại sự bình yên (Khổ 4)

- Hình ảnh: ngọn lửa, giá lạnh mùa đông, đàn chim về tổ, bữa cơm chiều quê ấm nồng.

- Ý nghĩa: Sức mạnh của ngọn lửa không chỉ xua đi cái lạnh của thời tiết mà còn sưởi ấm tình cảm gia đình, quê hương.

- Tâm hồn nhà thơ: Trái tim giàu tình cảm, biết hướng về sự sum vầy, ấm áp và bình dị của đời sống.

5. Tổng kết và mở rộng về khát vọng tuổi thơ (Khổ cuối)

- Hình ảnh: dặm dài đất nước, con đường xa, chân trời bao la.

- Ý nghĩa: Những ước mơ qua bốn mùa không đơn thuần là mơ mộng cá nhân mà gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng.

- Nghệ thuật đặc sắc: Thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, giọng thơ trong trẻo, hình ảnh thơ gần gũi, biện pháp nhân hóa và điệp từ sinh động.

III. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Bốn mùa mơ ước.

- Nêu cảm nhận sâu sắc của bản thân về thông điệp ý nghĩa mà tác giả gửi gắm (sống có ước mơ, biết yêu thương và cống hiến).

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng đã vẽ nên một bức tranh tâm hồn trẻ thơ vô cùng trong trẻo, giàu đẹp qua thi phẩm "Bốn mùa mơ ước". Bài thơ là chuỗi những khát vọng hóa thân để mang lại yêu thương, sự sống và niềm vui cho cuộc đời qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân tràn đầy nhựa sống gắn liền với khát vọng cống hiến hồn nhiên:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hòa trong rộn rã tiếng cười."

Hình ảnh cánh én báo hiệu mùa xuân kết hợp cùng "nắng xuân" và "tiếng cười" gợi ra một không gian rộn ràng, tươi vui. Nhân vật trữ tình ước được hóa thân thành cánh én để "gọi nắng", mang hơi ấm đến muôn nơi. Cụm từ "trong veo nỗi niềm thương mến" bộc lộ một tâm hồn trẻ thơ thuần khiết, biết yêu thương và muốn hòa nhịp hạnh phúc cùng cộng đồng.

Bước sang mùa hạ, khát vọng ấy chuyển hóa thành ước muốn sẻ chia, xoa dịu những nhọc nhằn của cuộc sống:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự đối lập tinh tế giữa cái oi bức của "ngày nắng hạ" và sự "dịu mát" của gió, mưa làm nổi bật tấm lòng nhân hậu của nhà thơ. Ước mơ hóa thân thành cơn gió, làn mây không chỉ là mộng tưởng thiên nhiên mà còn là khát vọng được đem lại những điều ích lợi, xoa dịu cái oi nồng của nhọc nhằn đời thường.

Vẻ đẹp tâm hồn tiếp tục thăng hoa qua bức tranh mùa thu lung linh, huyền ảo:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Khung cảnh mùa thu hiện lên với vầng trăng tỏ giữa bầu trời xanh thẳm và những vì sao như ngàn đôi mắt long lanh. Trẻ thơ ở đây tìm thấy sự đồng điệu tuyệt vời với thiên nhiên cao rộng, thể hiện một đời sống nội tâm phong phú, bay bổng và đầy chất thơ.

Đến với mùa đông, ước mơ hóa thân mang một ý nghĩa thiết thực và sâu lắng hơn về tình cảm gia đình, quê hương:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Hình ảnh "ngọn lửa" xuất hiện như một biểu tượng của sự sống, sự sưởi ấm. Ngọn lửa ấy không chỉ xua đi cái giá lạnh của thời tiết mà còn hòa quyện với hình ảnh "đàn chim bay về tổ" và "bữa cơm chiều quê ấm nồng", gợi nhắc đến tình cảm gia đình bình dị, sự sum vầy và yên bình.

Khép lại bài thơ, khát vọng tuổi thơ được nâng lên tầm cao mới gắn liền với tình yêu đất nước sâu nặng:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Những ước mơ qua bốn mùa không nằm tách rời mà hòa quyện vào "dặm dài đất nước" và "con đường xa" ở phía chân trời bao la. 

Bằng thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, giọng thơ trong trẻo, kết hợp các biện pháp nhân hóa và từ ngữ giàu sức gợi, tác giả đã thành công khẳng định một chân lý giản dị: sống là biết ước mơ, biết yêu thương và hướng về cuộc đời với tất cả sự chân thành. Bài thơ đọng lại trong lòng người đọc dư âm ngọt ngào về khát vọng tuổi trẻ và tình yêu thiết tha đối với thiên nhiên, quê hương.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Thế giới tuổi thơ qua ngòi bút của Nguyễn Lãm Thắng trong "Bốn mùa mơ ước" hiện lên thật lung linh, nơi những khát vọng hồn nhiên được chắp cánh qua từng nhịp điệu đổi thay của đất trời. Bài thơ giống như một bản hòa tấu dịu êm về tình yêu cuộc sống, nơi nhân vật trữ tình mượn hình ảnh bốn mùa để gửi gắm những ước nguyện làm đẹp cho đời.

Mùa xuân mở đầu bằng nhịp đập rộn rã của sự sống và tấm lòng nhân ái thiết tha:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Hình ảnh cánh én chao lượn mang theo nắng xuân không chỉ đánh thức thiên nhiên mà còn đánh thức cả những rung cảm ngọt ngào trong tâm hồn trẻ thơ. Cụm từ "trong veo" diễn tả tuyệt đẹp sự tinh khôi, nơi tình yêu thương hòa quyện tự nhiên vào niềm vui chung của nhân loại.

Khát vọng ấy tiếp tục trải dài sang cái nồng oi của mùa hạ, hóa thành hơi thở xoa dịu những nhọc nhằn:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Không còn là những mộng tưởng viển vông, ước mơ ở đây mang hơi thở thiết thực của lòng trắc ẩn. Cơn gió hiền hòa, làn mây trôi và hạt mưa dịu mát chính là biểu tượng cho mong ước được sẻ chia, gánh vác và đem lại sự dễ chịu cho cuộc đời đang oằn mình trong nắng hạn.

Đến với mùa thu, tâm hồn ấy lại bay bổng, hòa nhập vào vẻ đẹp tĩnh lặng và nên thơ của vũ trụ:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bức tranh thiên nhiên thu sang hiện lên trong trẻo với vầng trăng và ngàn ánh sao long lanh. Trẻ thơ đứng giữa đất trời, đối thoại và hòa làm một với tự nhiên, bộc lộ một nội tâm giàu mộng mơ và sự nhạy cảm tinh tế trước cái đẹp.

Nhưng có lẽ ấm áp nhất là khi mùa đông tràn về, mang theo khát vọng sưởi ấm những không gian bình dị:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Ngọn lửa nhỏ bé bỗng trở thành điểm tựa thiêng liêng chống lại giá lạnh. Hình ảnh đàn chim tìm về tổ ấm và khói bếp chiều quê quyện vào nhau, gợi nhắc về tình gia đình, sự sum vầy và bình yên sâu thẳm trong tâm hồn Việt.

Khép lại hành trình bốn mùa, những ước mơ tuổi thơ đã vươn xa tới tầm vóc lớn lao của tình yêu Tổ quốc:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Bằng thể thơ bốn chữ ngắn gọn, nhạc điệu uyển chuyển cùng các hình ảnh thơ trong sáng, bài thơ đã chạm đến những góc mềm mại nhất trong tim người đọc. 

Tác phẩm không chỉ là khúc ca về thiên nhiên mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về vẻ đẹp của một tâm hồn luôn biết ước mơ và hướng về những chân trời thiện lương.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Đọc "Bốn mùa mơ ước" của Nguyễn Lãm Thắng, ta như được bước vào khu vườn tâm hồn trong trẻo, nơi những đứa trẻ gửi gắm vào đất trời biết bao khát vọng dịu dàng. Thi phẩm là sự hóa thân kỳ diệu của nhân vật trữ tình qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông để trao gửi yêu thương và làm trọn vẹn thêm những giá trị tốt đẹp cho cuộc đời.

Mùa xuân mở màn bằng hơi thở tươi mới và nhịp điệu rộn ràng của sự sống:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Cánh én nhỏ bé nhưng mang trên mình sứ mệnh gọi mùa xuân về với muôn nơi. Tấm lòng của trẻ thơ trong veo như giọt sương mai, ôm ấp nỗi niềm thương mến và hòa vào tiếng cười rộn rã của vạn vật đang hồi sinh.

Đến với mùa hạ, ước mơ ấy chuyển hóa thành hành động sẻ chia đầy ý nghĩa giữa ngày nắng gắt:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự đối lập giữa cái oi nồng của mùa hạ và sự dịu mát mà cơn gió, làn mây mang lại đã làm nổi bật tấm lòng vị tha, nhân hậu. Ước mơ hóa thân thành thiên nhiên ở đây chính là khát vọng được cống hiến, đem lại sự bình yên và xoa dịu những nhọc nhằn của cuộc sống con người.

Vẻ đẹp tâm hồn tiếp tục thăng hoa trong không gian thu thanh tịnh và nên thơ:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bầu trời thu hiện lên cao xanh, bàng bạc ánh trăng và những vì sao lấp lánh như đôi mắt biết cười. Con người lúc này như hòa tan vào vũ trụ bao la, tìm thấy sự đồng điệu tuyệt vời giữa thiên nhiên và nội tâm thơ mộng, trong sáng.

Khi mùa đông lạnh giá buốt qua, khát vọng của tuổi thơ lại đọng lại ở những giá trị bình dị và ấm áp nhất:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Hình ảnh ngọn lửa xua tan giá lạnh kết hợp với khung cảnh đoàn tụ của đàn chim và bữa cơm chiều quê đã đánh thức tình yêu gia đình sâu sắc. Đó là ngọn lửa của tình thân, của sự che chở và bình yên giữa đời thường giông bão.

Bài thơ kết lại bằng một tầm nhìn khoáng đạt, nơi những giấc mơ tuổi thơ bay xa cùng đất nước:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Mỗi mùa qua đi là thêm một hạt giống ước mơ được gieo mầm trên dặm dài đất nước. 

Bằng thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, hình ảnh sinh động và giọng thơ giàu cảm xúc, Nguyễn Lãm Thắng đã khắc họa thành công một bức tranh thơ đẹp đẽ về lòng yêu đời, yêu người và khát vọng sống cống hiến chân thành của tuổi thơ.

Bài tham khảo Mẫu 1

Có những ước mơ chỉ lướt qua tuổi thơ như một đám mây trắng, nhưng cũng có những ước mơ ở lại rất lâu, trở thành ngọn lửa âm thầm soi sáng con đường con người đi tới. Tuổi thơ vốn đẹp bởi thế giới trong trẻo của nó: ở đó, một cánh chim cũng có thể chắp thành đôi cánh khổng lồ của tưởng tượng, một cơn gió có thể trở thành sứ giả mang mưa, một vầng trăng có thể hóa thành người bạn tâm tình. Trong “Bốn mùa mơ ước”, Nguyễn Lãm Thắng đã bước vào thế giới ấy bằng một giọng thơ dịu dàng, hồn nhiên mà giàu suy tưởng. Bốn mùa của thiên nhiên trở thành bốn miền của ước vọng; còn “em” – nhân vật trữ tình – không ngừng hóa thân để đem nắng, gió, ánh sáng và hơi ấm đến cho muôn nơi. Đằng sau vẻ đẹp thơ mộng ấy là một quan niệm sống thật đẹp: ước mơ chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó không khép lại trong cái tôi mà biết hướng về con người, quê hương và cuộc đời.

Bài thơ mở ra bằng mùa xuân, mùa của sự khởi đầu:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

“Cánh én” là một hình ảnh nhỏ bé nhưng mang sức gợi lớn. Én xuất hiện báo hiệu mùa xuân, báo hiệu sự hồi sinh của đất trời sau những tháng ngày lạnh giá. Vì thế, khi “em” mơ mình là cánh én, đó không đơn thuần là một trò chơi tưởng tượng của trẻ thơ. Đó là khát vọng được trở thành người mang đến niềm vui và sức sống. Đáng chú ý, cánh én ấy không chỉ gọi nắng cho một khoảng trời riêng mà là “muôn nơi”. Chỉ hai tiếng ngắn gọn đã mở rộng tâm hồn của nhân vật trữ tình từ cái riêng đến cái chung.

Càng đẹp hơn khi giấc mơ ấy được đặt bên cạnh:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

“Trong veo” vốn là tính từ thường dùng để miêu tả ánh sáng, dòng nước, bầu trời; nay được dùng để nói về “nỗi niềm thương mến”, khiến tình cảm trở nên hữu hình và có màu sắc. Đó là một tình yêu không vẩn đục, không vụ lợi, một tình yêu hồn nhiên như chính tâm hồn trẻ nhỏ. Tình thương ấy hòa cùng “tiếng cười”, biến mùa xuân thành mùa của sự sống và hạnh phúc.

Nếu mùa xuân cần ánh nắng thì mùa hạ lại cần một làn gió:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Ở đây, cách xây dựng hình tượng có sự chuyển biến rất tinh tế. Cánh én đem mùa xuân đến; cơn gió xuất hiện giữa cái nóng để đem lại sự dễ chịu. “Nồng oi” gợi cảm giác bức bối, ngột ngạt của mùa hè. Chính trong hoàn cảnh ấy, ước mơ về một cơn gió trở nên có ý nghĩa. Gió không chỉ bay:

“Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Một lần nữa, cụm từ “muôn nơi” lại vang lên. Dường như mỗi giấc mơ của “em” đều mang trong mình một hướng đi: đi về phía người khác. “Em” muốn trở thành một phần nhỏ bé của thiên nhiên để trao tặng sự dịu mát cho cuộc đời.

Sang mùa thu, nhịp thơ trở nên mềm hơn:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Nếu cánh én tượng trưng cho sự khởi đầu, cơn gió tượng trưng cho sự sẻ chia thì vầng trăng lại gợi vẻ đẹp của ánh sáng và niềm vui. “Trời thu xanh” mở ra một không gian cao rộng, trong trẻo. Giữa không gian ấy, vầng trăng “lung linh” như một điểm sáng dịu dàng. Đặc biệt, “em” không đứng một mình mà:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Phép so sánh khiến bầu trời trở nên có linh hồn. Những ngôi sao được nhìn bằng đôi mắt của tuổi thơ, trở thành “ngàn đôi mắt” đang lấp lánh trong đêm. Thiên nhiên vì thế không còn xa cách mà trở thành một thế giới thân thuộc, gần gũi với con người.

Đến mùa đông, vẻ đẹp của ước mơ lại chuyển sang một cung bậc khác:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Nếu những hình tượng trước đó đem đến ánh sáng, sự mát lành và niềm vui thì ngọn lửa mang trong mình hơi ấm. “Em” muốn trở thành ngọn lửa để xua tan giá lạnh – một ước mơ giản dị nhưng giàu lòng nhân ái. Và từ ngọn lửa ấy, nhà thơ đưa người đọc trở về với hình ảnh thân thương nhất:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

“Bay về tổ” gợi sự đoàn tụ. “Bữa cơm chiều quê” gợi mái nhà. Hai hình ảnh ấy khiến cái ấm của ngọn lửa được nâng lên thành cái ấm của tình thân. Có những giá trị tưởng như bình thường nhưng lại là nơi con người luôn muốn trở về sau mọi hành trình: một mái nhà, một bữa cơm, những người thân yêu.

Từ bốn mùa, bài thơ dần mở ra một mùa khác – mùa của tương lai:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây là bước chuyển quan trọng nhất. Những ước mơ ban đầu vốn gắn với thiên nhiên nay đã vươn đến đất nước. “Con đường xa” vừa là hành trình khám phá thế giới, vừa có thể hiểu là hành trình trưởng thành. Đó là con đường mà phía trước còn vô vàn điều chưa biết, nhưng cũng chính vì thế mà nó đầy hấp dẫn.

Hai câu kết mở ra một không gian rộng đến vô tận:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

Từ “bao” được lặp lại tạo cảm giác về sự vô tận. Ước mơ không có điểm dừng; chân trời cũng không có giới hạn. Bài thơ kết thúc nhưng cánh cửa của tương lai lại mở ra. Đó là cách kết thúc rất đẹp: không đóng lại bằng một lời khẳng định mà bằng một khoảng trời để người đọc tự mình tiếp tục mơ.

Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi thể thơ bốn chữ ngắn gọn, nhịp điệu nhẹ nhàng, trong trẻo; điệp cấu trúc “Em mơ” tạo nên dòng chảy liên tục của trí tưởng tượng. Hệ thống hình ảnh cánh én, cơn gió, vầng trăng, ngọn lửa vừa gần gũi vừa mang tính biểu tượng. Mỗi hình ảnh đại diện cho một cách trao gửi điều tốt đẹp vào cuộc đời. Đặc biệt, sự vận động từ mùa xuân đến mùa đông rồi từ đó mở ra “chân trời bao la” khiến cấu trúc bài thơ giống như một hành trình trưởng thành của ước mơ.

“Bốn mùa mơ ước” vì thế không chỉ là bài thơ viết cho trẻ thơ. Đó còn là lời nhắc nhở dịu dàng dành cho mỗi người: hãy giữ cho mình một tâm hồn biết mơ, nhưng đừng để ước mơ chỉ xoay quanh bản thân. Hãy mơ như cánh én để gọi nắng, như cơn gió để đem mát lành, như vầng trăng để soi sáng và như ngọn lửa để sưởi ấm. Bởi khi một giấc mơ có thể làm cho cuộc đời đẹp hơn, nó đã vượt khỏi giới hạn của một giấc mơ riêng tư để trở thành một lý tưởng sống.

Bài tham khảo Mẫu 2

Tuổi thơ có một đặc quyền mà những năm tháng trưởng thành đôi khi đánh mất: đó là quyền được mơ những điều thật đẹp mà không cần hỏi chúng có xa vời hay không. Trong tâm hồn trẻ nhỏ, thế giới không bị chia cắt thành những điều có thể và không thể. Một cánh én có thể mang mùa xuân về, một cơn gió có thể đi qua muôn nẻo đường, một vầng trăng có thể làm bạn với những vì sao, một ngọn lửa có thể sưởi ấm cả một mái nhà. Bởi vậy, đọc “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng, người đọc không chỉ bắt gặp một bức tranh thiên nhiên bốn mùa mà còn được trở về với miền tâm hồn hồn nhiên, nơi những giấc mơ luôn hướng về điều thiện lành. Bài thơ giống như một bản nhạc có bốn chương, mỗi chương mang một sắc thái của thiên nhiên nhưng cùng ngân lên một giai điệu: giai điệu của tình yêu thương.

Mùa xuân là nốt nhạc đầu tiên, tươi sáng và rộn ràng:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

Câu thơ mở đầu bằng hai chữ “Em mơ”, như mở ra cánh cửa bước vào thế giới tưởng tượng. “Cánh én” vốn nhỏ bé, nhưng trong cảm nhận của nhà thơ, đôi cánh ấy mang theo cả mùa xuân. Động từ “gọi” làm cho hình tượng cánh én trở nên chủ động: em không chỉ bay trong mùa xuân mà còn góp phần làm nên mùa xuân. Đó là một cách nói giản dị mà đẹp về khát vọng cống hiến.

Ước mơ ấy được nối tiếp bằng:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

Tình thương được hình dung như một dòng nước trong. “Trong veo” khiến cảm xúc trở nên tinh khiết, không chút vụ lợi. Còn “rộn rã tiếng cười” lại tạo nên âm thanh của cuộc sống. Nếu hai câu đầu thiên về hình ảnh và màu sắc thì hai câu sau thiên về cảm xúc và âm thanh, khiến bức tranh mùa xuân trở nên có cả hình, cả sắc, cả nhạc.

Mùa hạ tiếp nối bằng một sắc thái hoàn toàn khác:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Nhà thơ đặt “cơn gió” vào giữa “nắng hạ nồng oi”, tạo nên sự đối lập giữa nóng và mát, bức bối và dễ chịu. Nhưng điều đáng nói là cơn gió không tìm kiếm sự bình yên cho riêng mình. Nó:

“Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Động từ “bay” khiến không gian mở rộng; cụm từ “đi đây đó” gợi sự tự do; còn “muôn nơi” cho thấy phạm vi của tình yêu thương không bị giới hạn. Em muốn mình trở thành cơn gió để có thể đi đến nhiều nơi và đem theo sự dịu mát. Ước mơ ở đây đã mang dáng dấp của một lẽ sống: được sống là được trao đi.

Nếu mùa hạ có chuyển động của gió thì mùa thu lại chìm vào vẻ đẹp tĩnh lặng:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

“Trăng tỏ”, “trời thu xanh”, “lung linh” – những từ ngữ giàu chất hội họa tạo nên một không gian thanh sạch, dịu dàng. Vầng trăng trở thành trung tâm của bức tranh. Nhưng trăng không cô độc. Trăng:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Hình ảnh “ngôi sao nhỏ” mang màu sắc rất trẻ thơ. Nhà thơ không gọi chúng bằng những khái niệm xa xôi mà nhìn chúng như những người bạn bé nhỏ. Phép so sánh “như ngàn đôi mắt long lanh” khiến bầu trời trở thành một khuôn mặt khổng lồ, trong đó mỗi vì sao là một ánh nhìn. Đó là cái nhìn ngây thơ nhưng cũng rất nhân hậu: nhìn thiên nhiên bằng tâm thế của một người bạn.

Mùa đông là chương cuối của bốn mùa, nơi ước mơ mang sức nóng của tình thân:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Hình ảnh ngọn lửa mang tính biểu tượng rất rõ. Lửa là ánh sáng, là hơi ấm, là sự sống. “Xua tan” không chỉ nói đến việc làm tan cái lạnh của thời tiết mà còn gợi mong muốn xua đi những lạnh lẽo trong tâm hồn. Để rồi hình ảnh:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

đưa bài thơ về một không gian đặc biệt thân thương. “Tổ” là nơi trở về của đàn chim; “bữa cơm chiều quê” là nơi trở về của con người. Hai hình ảnh song song tạo nên một quy luật giản dị của sự sống: đi xa đến đâu, cuối cùng vẫn mong có một nơi để trở về.

Dấu ba chấm ở cuối câu thơ có giá trị gợi mở. Nó khiến dư âm của “bữa cơm chiều quê” dường như không dừng lại ở trang giấy. Người đọc có thể tưởng tượng ánh chiều đang chậm rãi buông xuống, tiếng gọi nhau trong căn nhà nhỏ, hơi cơm nghi ngút và những người thân ngồi bên nhau. Cái đẹp của bài thơ nhiều khi nằm chính ở những điều không nói hết.

Sau bốn mùa thiên nhiên là một mùa của tâm hồn:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Hai câu thơ này làm tầm vóc bài thơ bất ngờ mở rộng. Nếu bốn mùa trước là những giấc mơ hóa thân thì đến đây, “em” đã có một tình yêu trực tiếp dành cho quê hương, đất nước. “Từng dặm dài” khiến đất nước hiện ra không phải như một khái niệm trừu tượng mà là những miền đất cụ thể, những con đường có thể bước chân tới. “Con đường xa” cũng là biểu tượng của tương lai – nơi tuổi trẻ sẽ khám phá, trải nghiệm và trưởng thành.

Và rồi:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

Hai chữ “bao la” khiến không gian bài thơ mở rộng đến vô cùng. “Chân trời” vốn là nơi mắt người nhìn thấy nhưng không thể chạm tới, vì vậy nó rất thích hợp để biểu tượng hóa tương lai. Tương lai luôn ở phía trước, luôn mời gọi, luôn có những điều chưa biết. Ước mơ cũng vậy: càng đi xa, con người càng nhận ra phía trước còn nhiều điều đáng sống.

Điểm đặc sắc của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật tổ chức hình tượng. Bốn mùa được kết nối bằng bốn hình ảnh: én – gió – trăng – lửa. Đó là một chuỗi vận động từ mùa xuân đến mùa đông, từ ánh sáng đến hơi mát, từ vẻ đẹp đến hơi ấm. Điệp ngữ “Em mơ” tạo nhịp điệu như một lời tự sự trong trẻo. Thể thơ bốn chữ khiến câu thơ ngắn, sáng, dễ ngân vang, phù hợp với giọng điệu hồn nhiên. Ngôn ngữ không cầu kỳ nhưng giàu khả năng gợi hình, gợi cảm.

Điều khiến bài thơ ở lại lâu hơn trong lòng người đọc chính là vẻ đẹp của những ước mơ không vị kỷ. “Em” không mơ trở thành người giàu có, nổi tiếng hay quyền lực. Em chỉ muốn gọi nắng, đem mưa, soi sáng, sưởi ấm. Đó là những ước mơ tưởng nhỏ mà hóa ra rất lớn, bởi chúng bắt đầu từ tình yêu thương.

Có lẽ vì thế, “Bốn mùa mơ ước” không chỉ kể về những giấc mơ của một đứa trẻ mà còn đánh thức những giấc mơ đẹp trong mỗi chúng ta. Khi con người còn biết mơ về một mùa xuân có tiếng cười, một mùa hạ có mưa mát, một mùa thu đầy ánh trăng và một mùa đông có bữa cơm sum họp, nghĩa là trong trái tim vẫn còn một khoảng trời trong trẻo. Và khi những giấc mơ ấy hướng về “từng dặm dài đất nước”, chúng đã trở thành khát vọng sống đẹp – thứ ánh sáng có thể dẫn con người đi qua những con đường xa của cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 3

Có những bài thơ không cần những hình ảnh quá lớn lao vẫn có thể mở ra trước mắt người đọc cả một bầu trời rộng lớn. Có những câu thơ tưởng chỉ là lời nói ngây thơ của trẻ nhỏ nhưng phía sau lại ẩn chứa một quan niệm sống sâu sắc. “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng là một bài thơ như thế. Tác giả không kể một câu chuyện, cũng không dựng lên những biến cố; ông chỉ để nhân vật trữ tình cất lên những lời “em mơ”. Thế nhưng từ một giấc mơ đến một giấc mơ, từ mùa xuân đến mùa đông, từ một hình ảnh nhỏ bé đến “chân trời bao la”, bài thơ đã âm thầm kể câu chuyện về sự lớn lên của tâm hồn: lớn lên trong tình yêu thiên nhiên, trong lòng nhân ái, trong tình yêu quê hương và trong khát vọng hướng tới tương lai.

Ngay từ đầu bài thơ, Nguyễn Lãm Thắng đã lựa chọn một hình ảnh giàu sức sống:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

Cánh én vốn là tín hiệu của mùa xuân. Nhưng điều thú vị nằm ở động từ “gọi”. Cánh én không chỉ xuất hiện để báo hiệu mùa xuân mà dường như chính nó đang gọi mùa xuân đến. Nhân vật “em” muốn được hóa thân thành một sinh thể có khả năng đem lại sự đổi thay cho cuộc sống. Ước mơ ấy mang vẻ đẹp của tuổi thơ bởi nó hồn nhiên, nhưng đồng thời cũng mang một chiều sâu đáng quý: em muốn trở thành một người mang đến, chứ không phải một người chỉ nhận lấy.

“Muôn nơi” là một từ ngữ quan trọng. Nó khiến giấc mơ vượt khỏi phạm vi cá nhân. Nắng xuân không chỉ dành cho “em” mà phải được trao đến tất cả mọi người. Từ đó, câu thơ:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

như một lời giải thích cho nguồn gốc của giấc mơ. Đó là tình thương. Tình thương ấy “trong veo” – trong trẻo, tinh khôi, không vụ lợi. Nó hòa vào tiếng cười, nghĩa là trở thành một phần của niềm vui chung. Một tâm hồn biết yêu thương chính là một tâm hồn luôn muốn nhìn thấy cuộc sống tươi sáng hơn.

Sang mùa hạ, giấc mơ tiếp tục biến đổi:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Mùa hạ được cảm nhận bằng cái nóng “nồng oi”, một cảm giác rất cụ thể. Trong cái nóng ấy, cơn gió trở thành biểu tượng của sự giải tỏa. Em muốn là cơn gió để đem lại sự dễ chịu cho người khác. Nhưng cơn gió ấy không đứng yên:

“Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Nhịp thơ như được kéo dài theo chuyển động “bay đi đây đó”. Không gian từ một ngày hè cụ thể mở rộng ra nhiều miền. Lại một lần nữa, “muôn nơi” xuất hiện. Có thể thấy, Nguyễn Lãm Thắng cố ý xây dựng một nhân vật trữ tình luôn có xu hướng hướng ngoại: càng mơ, “em” càng muốn đi xa hơn để trao gửi những điều tốt đẹp.

Đến mùa thu, giấc mơ mang vẻ đẹp của ánh sáng:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Nếu mùa xuân có ánh nắng, mùa hạ có cơn mưa thì mùa thu có ánh trăng. “Vầng trăng tỏ” đứng giữa “trời thu xanh” tạo nên một bức tranh thanh sạch, khoáng đạt. Từ “lung linh” không chỉ tả ánh sáng mà còn gợi một vẻ đẹp có hồn, có sức lay động.

Đặc biệt, vầng trăng không cô độc:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Nhà thơ nhìn bầu trời bằng đôi mắt của trẻ thơ. Những ngôi sao được gọi là “những ngôi sao nhỏ”, rồi được so sánh với “ngàn đôi mắt”. Thiên nhiên bỗng trở nên gần gũi như một gia đình lớn. Những ngôi sao nhìn nhau, trăng vui cùng sao; tất cả tạo nên cảm giác hòa hợp và thân ái. Đây chính là một đặc điểm đáng yêu trong thế giới nghệ thuật của bài thơ: thiên nhiên không lạnh lẽo, vô tri mà luôn có sự giao cảm.

Nếu mùa thu đem đến ánh sáng thì mùa đông cần hơi ấm:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Hình ảnh ngọn lửa có lẽ là hình ảnh giàu chiều sâu biểu tượng nhất trong bốn hình ảnh hóa thân. Lửa không chỉ làm ấm không gian mà còn gợi mái nhà, gia đình, tình thân. Em muốn trở thành ngọn lửa để “xua tan giá lạnh”, tức là mong muốn chống lại những lạnh lẽo của cuộc đời bằng tình yêu thương.

Hai câu tiếp theo khiến ý nghĩa ấy càng rõ:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

“Đàn chim” bay về “tổ” cũng giống như con người trở về với gia đình. Từ thế giới thiên nhiên, nhà thơ chuyển sang thế giới đời sống. Hình ảnh “bữa cơm chiều quê” giản dị đến mức gần như ai cũng có thể bắt gặp một ký ức nào đó của riêng mình trong đó. Không phải cung điện, không phải những điều xa hoa, mà chỉ là một bữa cơm quê – vậy mà đủ để làm nên “ấm nồng”. Điều ấy cho thấy giá trị của hạnh phúc đôi khi không nằm ở những gì lớn lao, mà nằm trong sự hiện diện của những người ta yêu thương.

Đặc biệt, dấu ba chấm sau câu thơ như một khoảng lặng. Nó không kết thúc hình ảnh mà để hình ảnh tiếp tục lan ra trong trí tưởng tượng người đọc. Có thể là khói bếp, là tiếng nói cười, là ánh chiều, là mái nhà. Chính khoảng trống ấy khiến câu thơ có dư âm.

Sau khi đi qua bốn mùa, “em” không dừng lại:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây chính là điểm nâng tư tưởng của bài thơ. Những giấc mơ về thiên nhiên đã chuyển thành tình yêu đất nước. “Từng dặm dài” gợi một đất nước rộng lớn được kết nối bằng những con đường. Còn “con đường xa” có thể hiểu như biểu tượng của tương lai. Em muốn bước đi, muốn khám phá, muốn trưởng thành. Giấc mơ không phải sự trốn chạy khỏi hiện thực mà chính là động lực để con người bước vào tương lai.

Bởi vậy, hai câu kết có sức ngân vang:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

Không phải “bốn mùa đã hết”, mà là “bốn mùa còn bao mơ ước”. Từ “còn” chứa đựng một niềm tin vào phía trước. Cuộc đời còn dài, những ước mơ còn nhiều, chân trời vẫn rộng. “Chân trời” là nơi mắt người có thể hướng đến nhưng chưa thể chạm tới, vì vậy nó trở thành biểu tượng tuyệt đẹp cho tương lai và khát vọng.

Về nghệ thuật, bài thơ được xây dựng trên kết cấu rất chặt chẽ. Bốn mùa tương ứng với bốn lần hóa thân: cánh én – cơn gió – vầng trăng – ngọn lửa. Đây là những hình ảnh quen thuộc của tự nhiên nhưng qua trí tưởng tượng của trẻ thơ lại mang những ý nghĩa mới. Điệp ngữ “Em mơ” vừa tạo sự liên kết vừa khắc họa dòng chảy không ngừng của ước vọng. Thể thơ bốn chữ với nhịp điệu ngắn, đều, trong sáng giúp lời thơ gần với lời nói tự nhiên của trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, các từ láy như “rộn rã”, “lung linh”, “long lanh”, “ấm nồng” làm cho thế giới thơ giàu màu sắc, âm thanh và cảm xúc.

Tuy nhiên, vẻ đẹp lớn nhất của bài thơ không nằm ở những hình ảnh lung linh ấy mà nằm ở hướng đi của các giấc mơ. “Em” không mơ để trở nên lớn hơn người khác; em mơ để làm cho người khác hạnh phúc hơn. Mùa xuân có nắng, mùa hạ có mưa, mùa thu có ánh trăng, mùa đông có hơi ấm. Tất cả những gì em muốn trở thành đều mang một món quà cho cuộc đời. Từ đó, bài thơ gợi ra một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc: giá trị của một con người không chỉ nằm ở việc mình có thể đạt được bao nhiêu, mà còn ở việc mình có thể trao tặng được bao nhiêu.

Khép lại “Bốn mùa mơ ước”, người đọc có cảm giác như vừa đi qua bốn mùa của đất trời và cũng vừa đi qua bốn mùa của một tâm hồn. Xuân là niềm vui, hạ là sự sẻ chia, thu là ánh sáng, đông là tình thân; còn phía cuối con đường là tình yêu đất nước và một chân trời rộng mở. Bài thơ vì thế giống như một lời nhắn gửi dịu dàng tới tuổi trẻ: hãy cứ mơ, hãy mơ thật đẹp, nhưng đừng để giấc mơ chỉ thuộc về riêng mình. Hãy để mỗi ước mơ trở thành một cách trao ánh sáng cho cuộc đời. Bởi khi con người biết mơ cho những điều tốt đẹp, biết yêu thương và biết hướng về phía chân trời, cuộc sống dù rộng lớn đến đâu cũng sẽ trở thành một hành trình đáng để bước đi.

Bài tham khảo Mẫu 4

Thi ca viết cho tuổi thơ luôn chứa đựng những nhịp đập hồn nhiên, trong trẻo nhất của con người. Đọc thi phẩm "Bốn mùa mơ ước" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng, ta như được bước vào một khu vườn tâm hồn tinh khôi, nơi trí tưởng tượng không bị gò bó bởi những khuôn khổ thực tại mà vươn cánh bay cao vào đất trời bao la. Bài thơ không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên bốn mùa xuân, hạ, thu, đông tuần hoàn, mà sâu xa hơn, đó là sự hóa thân kỳ diệu của nhân vật trữ tình thành những biểu tượng của sự sống, mang trong mình khát vọng cống hiến, sẻ chia và yêu thương trọn vẹn cho cuộc đời.

Mở đầu hành trình ấy là bức tranh mùa xuân tràn đầy nhựa sống, nơi khát vọng hòa nhập và đem lại niềm vui được bộc lộ trực diện qua những vần thơ dạt dào cảm xúc:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Hình ảnh cánh én chao lượn không chỉ là sứ giả báo hiệu mùa xuân về mà còn là hiện thân của sự khởi đầu tốt đẹp. Nhân vật trữ tình ước ao được hóa thân thành cánh én để "gọi nắng xuân về muôn nơi", đánh thức vạn vật sau giấc ngủ đông dài. Điều đáng quý nhất nằm ở "trong veo nỗi niềm thương mến" – một trạng thái tinh khôi của tâm hồn chưa từng vướng bận bụi trần. Tình yêu thương ấy không giữ cho riêng mình mà được hòa quyện trọn vẹn vào "rộn rã tiếng cười" của cộng đồng. Đó là sự gắn kết bền chặt giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung rộng lớn, mở đầu cho chuỗi những khát vọng cao đẹp của tuổi thơ.

Bước sang mùa hạ, khi cái oi nồng của thời tiết bao trùm vạn vật, ước mơ của nhà thơ lại chuyển hóa thành một hành động mang tính chất xoa dịu và chở che:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự đối lập tinh tế giữa "ngày nắng hạ nồng oi" và "mưa dịu mát" đã làm nổi bật tấm lòng nhân hậu, biết thấu cảm và sẻ chia của chủ thể trữ tình. Mơ làm cơn gió, làm áng mây trôi trôi "đi đây đó" để đem hạt mưa xuống cho khô cạn chính là ước nguyện được mang lại sự dễ chịu, gánh vớt bớt những nhọc nhằn, oi bức của cuộc đời. Ước mơ ở đây không còn là sự viển vông, mơ mộng hão huyền mà đã mang hơi thở ấm áp của lòng trắc ẩn, của mong muốn được làm ích lợi cho tha nhân.

Đến với mùa thu, tâm hồn thơ ca lại chùng lại, đằm thắm hơn trong một không gian tĩnh lặng, huyền ảo và nên thơ của đất trời:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp thanh tao, trong sáng. Vầng trăng tỏ ngự trị giữa bầu trời thu xanh thẳm, vây quanh là những ngôi sao nhỏ lấp lánh như ngàn đôi mắt biết cười. Con người lúc này đã hoàn toàn hòa nhập, giao cảm sâu sắc với vũ trụ bao la. Không gian thu không chỉ đẹp bởi ngoại cảnh mà còn đẹp bởi sự trong sáng, hướng thượng của một tâm hồn biết nâng niu những giá trị tinh thần lung linh, kỳ diệu của thiên nhiên.

Nhưng có lẽ, khoảng lặng sâu lắng và xúc động nhất trong bài thơ lại thuộc về mùa đông – mùa của giá lạnh nhưng cũng là mùa bùng cháy những ngọn lửa ấm áp của tình thân:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Hình ảnh "ngọn lửa" xuất hiện như một biểu tượng của sự sống, của lòng nhiệt thành và sự che chở. Giữa cái lạnh buốt của mùa đông, ngọn lửa ấy không chỉ sưởi ấm thể xác mà còn lan tỏa đến "đàn chim vui bay về tổ" và "bữa cơm chiều quê ấm nồng". Chỉ bằng vài nét chấm phá, nhà thơ đã gọi tên được vẻ đẹp bình dị nhưng thiêng liêng nhất của đời sống: sự sum vầy, tình cảm gia đình và sự bình yên nơi xóm làng. Ngọn lửa ước mơ của đứa trẻ bỗng hóa thành ngọn lửa của tình yêu thương gia đình nồng đượm, xua tan mọi bão giông ngoài khung cửa.

Khép lại thi phẩm, những ước mơ qua bốn mùa không dừng lại ở không gian chật hẹp mà vươn ra tầm vóc lớn lao của tình yêu đất nước:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Tình yêu thiên nhiên, yêu gia đình đã tự nhiên chuyển hóa thành tình yêu Tổ quốc sâu nặng. "Dặm dài đất nước" và "chân trời bao la" chính là những không gian vẫy gọi những bước chân tuổi thơ lên đường khám phá và cống hiến. Bằng thể thơ bốn chữ ngắn gọn, nhạc điệu nhịp nhàng uyển chuyển cùng hệ thống hình ảnh giàu sức gợi cảm, Nguyễn Lãm Thắng đã chạm đến những góc sâu kín nhất trong tâm hồn người đọc. 

Bài thơ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía rằng: một cuộc đời đẹp đẽ nhất là cuộc đời luôn đong đầy ước mơ, biết yêu thương, sẻ chia và hướng về những chân trời thiện lương của nhân loại.

Bài tham khảo Mẫu 5

Trong kho tàng văn học viết cho thiếu nhi Việt Nam, những vần thơ của Nguyễn Lãm Thắng luôn giữ một vị trí đặc biệt nhờ sự trong trẻo, hồn nhiên nhưng ẩn chứa bên trong là những tầng ý nghĩa triết lý sâu xa về cuộc đời. Thi phẩm "Bốn mùa mơ ước" là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật ấy. Tác phẩm đưa người đọc ngược dòng thời gian trở về với thế giới tuổi thơ – nơi mỗi đứa trẻ đều là một sứ giả của tình yêu thương, mượn sự đổi thay của bốn mùa để dệt nên những ước nguyện hóa thân cao đẹp, làm rạng rỡ thêm cho cõi đời này.

Mở đầu bài thơ là khúc ca của mùa xuân, khúc ca của sự sống đang đâm chồi nảy lộc và lòng người đang rộng mở:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Cánh én chao lượn trên bầu trời cao rộng không chỉ là biểu tượng quen thuộc của mùa xuân mà còn là hiện thân của khát vọng kết nối. Chủ thể trữ tình muốn hóa thân thành cánh én để "gọi nắng xuân về muôn nơi", đem hơi ấm và sự hồi sinh đến cho vạn vật. Điều khiến ngòi bút của nhà thơ trở nên chạm đến trái tim người đọc chính là cụm từ "trong veo nỗi niềm thương mến". Đó là một thứ tình cảm nguyên sơ, không vụ lợi, xuất phát từ một trái tim trẻ thơ trong sáng tuyệt đối. Nỗi niềm ấy không cất giữ cho riêng mình mà hòa quyện một cách tự nhiên, nhịp nhàng vào "rộn rã tiếng cười" của cộng đồng, tạo nên một bản hòa tấu rộn ràng của ngày hội non sông.

Đến với mùa hạ, khát vọng của tuổi thơ không dừng lại ở niềm vui hội hè mà chuyển hóa thành hành động dấn thân, sẻ chia thiết thực:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự khắc nghiệt của "ngày nắng hạ nồng oi" được đặt bên cạnh sự dịu mát của "cơn gió", "làn mây" và "hạt mưa" tạo nên một sự tương phản nghệ thuật đặc sắc. Ước mơ hóa thân thành thiên nhiên ở đây chính là ước mơ được gánh vác, được xoa dịu những nhọc nhằn, vất vả của con người giữa cuộc mưu sinh. Đứa trẻ trong thơ Nguyễn Lãm Thắng không đứng ngoài lề thế giới mà luôn có một sự thấu cảm sâu sắc với những nỗi vất vả của đời thường, biến khát vọng cá nhân thành nguồn năng lượng tích cực cứu rỗi và làm dịu mát không gian xung quanh.

Vẻ đẹp của tâm hồn thơ ca tiếp tục thăng hoa khi bước vào không gian tĩnh lặng, lung linh của mùa thu:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bức tranh thu hiện lên với gam màu trong trẻo, khoáng đạt. Vầng trăng tỏ ngời sáng giữa bầu trời xanh thẳm, quây quần cùng ngàn vì sao lấp lánh như những đôi mắt biết nói. Con người và vũ trụ lúc này như tan vào nhau, không còn khoảng cách. Sự giao cảm tinh tế ấy cho thấy một thế giới nội tâm phong phú, giàu trí tưởng tượng và luôn hướng tới những vẻ đẹp thanh cao, vĩnh cửu của tự nhiên.

Tuy nhiên, đỉnh cao của cảm xúc và giá trị nhân văn trong bài thơ lại tỏa sáng rực rỡ nhất khi mùa đông lạnh giá tràn về:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Giữa cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, hình ảnh "ngọn lửa" bỗng trở thành biểu tượng thiêng liêng của sự sống, của sự sưởi ấm và đùm bọc. Ngọn lửa ấy không chỉ đơn thuần xua đi thời tiết khắc nghiệt mà còn thắp lên hơi ấm của tình thân, gắn liền với "đàn chim vui bay về tổ" và "bữa cơm chiều quê ấm nồng". Đó là khát vọng hướng về cội nguồn, hướng về gia đình – nơi có sự sum vầy, yên bình và tình người ấm áp nhất để nương náu qua mọi giông bão cuộc đời.

Khép lại bài thơ, những ước mơ qua bốn mùa bỗng vươn cánh bay xa, hòa quyện vào nhịp đập lớn của dân tộc:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Tình yêu thiên nhiên, yêu gia đình đã được nâng lên thành tình yêu Tổ quốc thiết tha, sâu nặng. "Dặm dài đất nước" và "chân trời bao la" mở ra trước mắt người đọc một không gian khoáng đạt, nơi tuổi trẻ mang theo biết bao hoài bão lên đường. Bằng thể thơ bốn chữ cô đọng, nhịp điệu linh hoạt cùng hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, Nguyễn Lãm Thắng đã thành công khắc họa một tượng đài tâm hồn trẻ thơ đầy kiêu hãnh và nhân ái. 

Bài thơ đọng lại trong lòng chúng ta như một lời nhắc nhở dịu dàng: hãy luôn giữ gìn cho mình những giấc mơ, bởi chính những giấc mơ ấy sẽ nâng đỡ cánh én cuộc đời bay đến những chân trời cao rộng và tốt đẹp hơn.

Bài tham khảo Mẫu 6

Thơ ca chân chính luôn là nơi trú ngụ của những gì đẹp đẽ, trong sáng và hướng thượng nhất trong tâm hồn con người. Thi phẩm "Bốn mùa mơ ước" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng là một tác phẩm như thế – một khúc ca trữ tình đậm chất nhân văn, ngợi ca vẻ đẹp của khát vọng tuổi thơ qua sự xoay vần của bốn mùa đất trời. Qua ngòi bút tinh tế và giàu cảm xúc, tác giả đã biến những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thành chiếc cầu nối kỳ diệu để đứa trẻ gửi gắm ước nguyện hóa thân, đem lại tình yêu thương và sự sống cho cuộc đời.

Khởi đầu bài thơ là không gian mùa xuân rộn rã, tươi vui, nơi mầm sống và tình cảm bắt đầu nảy nở:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Cánh én chao liệng giữa bầu trời mùa xuân không chỉ mang theo tín hiệu của sự đổi thay thời tiết mà còn mang theo sứ mệnh đánh thức vạn vật. Nhân vật trữ tình ước ao hóa thân thành cánh én để "gọi nắng xuân về muôn nơi", mang hơi ấm và niềm vui đến với mọi ngóc ngách của cuộc sống. Điều đáng trân trọng nhất là "trong veo nỗi niềm thương mến" – một trạng thái tâm hồn nguyên sơ, trong sáng tuyệt đối, không mảy may vướng bận vụ lợi. Tình cảm ấy tự nhiên hòa vào "rộn rã tiếng cười" của cộng đồng, tạo nên một sự gắn kết thiêng liêng giữa cái tôi nhỏ bé và cõi đời bao la.

Vượt qua mùa xuân tươi mới, khát vọng ấy tiếp tục trải dài và biến đổi linh hoạt khi mùa hạ khắc nghiệt ghé qua:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự đối lập giữa cái oi bức, ngột ngạt của "ngày nắng hạ" và sự dịu ngọt của "cơn gió", "làn mây", "hạt mưa" đã làm nổi bật tâm lòng vị tha, nhân hậu của chủ thể trữ tình. Mơ làm cơn gió trôi đi đây đó không phải để phiêu du vô định mà là để "đem mưa dịu mát muôn nơi", xoa dịu những nhọc nhằn, mệt mỏi của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Ước mơ ở đây đã mang đậm hơi thở của lòng trắc ẩn và tinh thần cống hiến thầm lặng, vị tha.

Đến với mùa thu, nhịp thơ chùng lại trong một không gian tĩnh lặng, trong trẻo và đầy chất mộng mơ:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp thanh tao, khoáng đạt. Vầng trăng sáng ngời giữa bầu trời xanh thẳm cùng muôn ngàn ngôi sao lấp lánh như đôi mắt biết cười tạo nên một khung cảnh huyền ảo, nên thơ. Con người lúc này đã hoàn toàn hòa nhập, đối thoại và đồng điệu với vũ trụ bao la. Sự giao cảm tinh tế ấy chứng tỏ một đời sống nội tâm phong phú, nhạy cảm trước cái đẹp và luôn hướng về những giá trị thanh cao, vĩnh cửu.

Nhưng có lẽ, điểm chạm xúc cảm sâu sắc và ấm áp nhất của bài thơ lại dồn tụ vào mùa đông – mùa của giá lạnh nhưng cũng là mùa bùng cháy những ngọn lửa tình thân:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Giữa cái buốt giá của mùa đông, hình ảnh "ngọn lửa" xuất hiện như một biểu tượng của sự sống, sự sưởi ấm và che chở. Ngọn lửa ấy không chỉ xua đi cái lạnh của thời tiết mà còn hòa quyện với khung cảnh "đàn chim vui bay về tổ" và "bữa cơm chiều quê ấm nồng". Đó là khát vọng hướng về cội nguồn, về sự sum vầy gia đình và tình yêu thương bình dị nhưng thiêng liêng nhất. Ngọn lửa nhỏ bé của đứa trẻ đã thắp lên bầu không khí ấm cúng, xua tan mọi cô đơn, giông bão của đời thường.

Khép lại hành trình bốn mùa, những ước mơ tuổi thơ đã vươn xa, gắn liền với vận mệnh và vẻ đẹp của quê hương, đất nước:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Tình yêu thiên nhiên, yêu gia đình đã tự nhiên nâng lên thành tình yêu Tổ quốc sâu nặng. "Dặm dài đất nước" và "chân trời bao la" mở ra những không gian lớn lao, vẫy gọi tuổi thơ tiếp tục hành trình khám phá và cống hiến. Bằng thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, hình ảnh giàu sức gợi cùng giọng thơ trong trẻo, Nguyễn Lãm Thắng đã khắc họa thành công bức tranh tuyệt đẹp về một tâm hồn trẻ thơ luôn khao khát yêu thương và làm đẹp cho đời.

 Bài thơ đọng lại trong lòng người đọc dư âm ngọt ngào về sức mạnh của những giấc mơ – đôi cánh nâng đỡ con người bay đến những chân trời nhân ái và thiện lương.

Bài tham khảo Mẫu 7

Thơ ca đôi khi không cần những điều quá lớn lao để lay động lòng người. Chỉ một cánh én chao nghiêng trên nền trời, một làn gió lướt qua ngày hạ, một vầng trăng treo giữa trời thu hay một ngọn lửa hồng trong buổi chiều đông cũng đủ đánh thức trong ta những rung động dịu dàng. Bởi thiên nhiên vốn là nơi con người gửi gắm tâm hồn, còn ước mơ chính là đôi cánh đưa tâm hồn ấy vượt khỏi những giới hạn của thực tại. Đến với “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng, người đọc như bước vào một khu vườn tuổi thơ ngập ánh sáng, nơi mỗi mùa đi qua lại gieo xuống một hạt mầm của yêu thương. Bài thơ không chỉ đẹp bởi bức tranh thiên nhiên bốn mùa mà còn bởi cách nhà thơ nâng những ước mơ hồn nhiên thành một lẽ sống: sống là biết yêu, biết trao tặng và biết hướng về một chân trời rộng lớn phía trước.

Mở đầu bài thơ là mùa xuân – mùa của những khởi đầu trong trẻo:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi
Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

Hai chữ “em mơ” vang lên như một tiếng mở cửa. Cánh cửa ấy dẫn người đọc vào thế giới của trí tưởng tượng, nơi con người có thể hóa thân thành những gì đẹp đẽ nhất của thiên nhiên. “Cánh én” là hình ảnh quen thuộc của mùa xuân, nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Lãm Thắng, nó không chỉ là dấu hiệu báo xuân mà còn là hiện thân của khát vọng đem mùa xuân đến cho cuộc đời. Động từ “gọi” khiến đôi cánh nhỏ trở nên có sức mạnh kỳ diệu: cánh én gọi nắng, gọi mùa, gọi cả niềm vui trở về.

Đáng chú ý, nắng xuân ấy không dừng ở một góc trời mà lan tỏa “muôn nơi”. Ước mơ của “em” vì thế không phải một ước mơ ích kỷ. Em muốn điều đẹp đẽ mình có thể mang đến cho tất cả. Để rồi “nỗi niềm thương mến” được gọi là “trong veo”. Cách kết hợp từ ngữ ấy thật giàu chất thơ: tình thương vốn vô hình nay trở nên trong sáng như một giọt sương, một dòng nước đầu nguồn. Tình thương ấy hòa vào “rộn rã tiếng cười”, khiến mùa xuân không chỉ có màu sắc mà còn có âm thanh của hạnh phúc.

Nếu mùa xuân được gọi bằng đôi cánh én thì mùa hạ lại hiện ra trong sự đối lập giữa cái nóng và niềm mong mát:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi
Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Câu thơ “Giữa ngày nắng hạ nồng oi” gợi ra cái gay gắt, bức bối của mùa hè. Chính trong cái nóng ấy, ước mơ hóa thành cơn gió trở nên thật tự nhiên. Nhưng cơn gió trong bài thơ không chỉ làm mát cho riêng “em”. Nó “cùng mây bay đi đây đó”, mang theo “mưa dịu mát muôn nơi”. Một lần nữa, ước mơ được đo bằng khả năng trao tặng. Cánh én trao nắng; cơn gió trao mưa. Thiên nhiên qua trí tưởng tượng của trẻ thơ trở thành những món quà mà “em” muốn gửi đến cuộc đời.

Đến mùa thu, giấc mơ chuyển sang sắc màu dịu dàng và huyền ảo:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh
Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

“Trời thu xanh” vốn đã gợi một vẻ đẹp cao rộng, trong trẻo. Trên nền trời ấy, “vầng trăng tỏ” hiện ra “lung linh”. Đặc biệt, nhà thơ không để vầng trăng một mình mà cho trăng “vui cùng những ngôi sao nhỏ”. Phép nhân hóa khiến thiên nhiên như có một đời sống riêng, có niềm vui và tình bạn. Còn hình ảnh “ngàn đôi mắt long lanh” lại là một liên tưởng rất đỗi trẻ thơ. Những vì sao xa xôi bỗng trở nên gần gũi như những đôi mắt đang nhìn xuống thế gian. Bầu trời vì thế không lạnh lẽo mà trở thành một thế giới thân tình.

Nếu mùa thu là ánh sáng thì mùa đông là hơi ấm:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông
Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

Hình ảnh “ngọn lửa” có sức gợi đặc biệt. Lửa vừa là ánh sáng, vừa là hơi ấm, vừa gợi mái nhà và sự sum vầy. “Em” muốn là ngọn lửa để “xua tan giá lạnh”, nghĩa là mong đem đến sự ấm áp cho những người xung quanh. Và thật đẹp, sau ngọn lửa là hình ảnh đàn chim bay về tổ, rồi “bữa cơm chiều quê”. Hai hình ảnh ấy cùng gợi một điểm đến: trở về.

Có lẽ không có nơi nào ấm hơn một mái nhà sau hành trình dài. “Bữa cơm chiều quê” là một hình ảnh rất giản dị, nhưng chính sự giản dị ấy lại làm câu thơ trở nên lay động. Hạnh phúc đôi khi không phải điều gì xa xôi; đó có thể chỉ là một buổi chiều có người thân ngồi bên nhau, một bữa cơm đạm bạc mà ấm tình. Dấu ba chấm cuối câu như một khoảng ngân dài, để hơi ấm của bữa cơm tiếp tục lan ra ngoài trang giấy.

Từ bốn mùa thiên nhiên, bài thơ bất ngờ mở ra một không gian rộng lớn hơn:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Nếu ở những khổ thơ trước, “em” hóa thân vào thiên nhiên thì đến đây, giấc mơ đã mang dáng hình của một hành trình. “Từng dặm dài đất nước” không còn là cảnh sắc chung chung mà là một đất nước có chiều dài, có những miền quê, những con đường và những vùng trời đang chờ khám phá. “Con đường xa” vừa có thể là con đường đi đến những miền đất mới, vừa là con đường trưởng thành của chính “em”. Ước mơ vì thế không còn chỉ là tưởng tượng; nó trở thành động lực để bước đi.

Hai câu kết:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

là nơi bài thơ mở rộng nhất. “Chân trời” vốn là đường ranh giữa trời và đất, nhưng trong thơ ca, nó thường là biểu tượng của tương lai. Chân trời càng xa, khả năng của ước mơ càng rộng. Đặc biệt, từ “còn” khiến bài thơ không kết thúc mà như tiếp tục mở ra. Bốn mùa vẫn tuần hoàn, thời gian vẫn trôi, nhưng phía trước vẫn còn vô vàn giấc mơ.

Bằng thể thơ bốn chữ, nhịp thơ nhẹ nhàng, ngôn ngữ trong sáng và hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng, Nguyễn Lãm Thắng đã tạo nên một thế giới nghệ thuật rất phù hợp với tâm hồn trẻ thơ. Điệp cấu trúc “Em mơ” như một điệp khúc xuyên suốt, khiến những giấc mơ nối tiếp nhau không dứt. Cánh én, cơn gió, vầng trăng, ngọn lửa – bốn hình ảnh tưởng rời rạc nhưng thực chất cùng hướng về một giá trị: đem đến điều tốt đẹp cho cuộc đời.

Vì thế, “Bốn mùa mơ ước” đẹp không chỉ ở chất thơ mà còn ở chiều sâu nhân văn. Nhà thơ dường như muốn nói rằng một ước mơ đẹp không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều vĩ đại. Nó có thể bắt đầu bằng mong muốn rất nhỏ: làm một cơn gió để ai đó bớt nóng, làm một ngọn lửa để ai đó bớt lạnh, làm một tia nắng để ai đó được vui. Khi biết sống vì người khác, những điều nhỏ bé cũng trở nên lớn lao.

Bài thơ khép lại nhưng chân trời vẫn mở. Có lẽ đó chính là vẻ đẹp của tuổi trẻ: luôn mang trong tim một khoảng trời chưa được khám phá, luôn tin rằng phía trước còn những điều đáng mơ, đáng yêu và đáng sống. Và giữa vô vàn con đường của cuộc đời, thật đẹp nếu mỗi chúng ta vẫn giữ được một giấc mơ trong veo như giấc mơ của “em” – giấc mơ biết hóa thành ánh sáng, thành gió mát, thành trăng dịu, thành lửa hồng để sưởi ấm thế gian.

Bài tham khảo Mẫu 8

Trong ký ức mỗi người, tuổi thơ thường hiện lên như một miền trời có màu xanh rất khác: xanh của cánh đồng, xanh của bầu trời, xanh của những giấc mơ chưa từng bị thực tế làm cho chật hẹp. Ở tuổi ấy, con người có thể hóa thành cánh én để bay qua mùa xuân, thành cơn gió để đi giữa mùa hạ, thành vầng trăng để trò chuyện với sao trời và thành ngọn lửa để sưởi ấm mùa đông. “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng đã bắt đầu từ chính sự hồn nhiên ấy. Nhưng điều khiến bài thơ có sức sống lâu bền không chỉ là trí tưởng tượng phong phú mà còn là hướng vận động rất đẹp của cảm xúc: từ tình yêu thiên nhiên đến tình yêu con người, từ mái ấm gia đình đến tình yêu đất nước, từ những giấc mơ nhỏ bé đến một chân trời tương lai rộng lớn.

Bốn mùa trong bài thơ không đơn thuần là bốn khoảng thời gian của thiên nhiên. Mỗi mùa là một không gian để “em” gửi vào đó một mong ước.

Mùa xuân mở đầu bằng hình ảnh:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

Có thể nói, “cánh én” là một trong những hình ảnh đẹp nhất để nói về mùa xuân. Én mang theo hơi thở của sự sống, của những khởi đầu mới. Nhưng nhà thơ không viết “em mơ mình là cánh én bay”, mà viết “gọi nắng xuân về”. Cách dùng động từ “gọi” khiến hình ảnh mang tính chủ động và giàu ý nghĩa. Em không đứng ngoài mùa xuân để ngắm nhìn; em muốn góp phần làm nên mùa xuân.

Điều đáng quý nhất là mùa xuân ấy hướng tới “muôn nơi”. Từ một cánh én nhỏ bé, tâm hồn “em” đã mở rộng đến cả thế giới. Hai câu sau tiếp tục khắc họa nguồn cội của ước mơ:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

“Nỗi niềm thương mến” vốn là cảm xúc trừu tượng nhưng lại được nhà thơ định tính bằng “trong veo”. Tình thương ấy tinh khôi đến mức dường như có thể nhìn thấy. Và khi nó “hòa” vào tiếng cười, tình cảm riêng đã trở thành niềm vui chung. Đây chính là vẻ đẹp nhân văn đầu tiên của bài thơ.

Mùa hạ đến với cái nóng:

“Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

nhưng “em” lại mơ:

“Em mơ mình là cơn gió”

Cơn gió ở đây không chỉ là một hình ảnh thiên nhiên mà là biểu tượng của sự sẻ chia. Gió đi qua những miền nóng bức để đem đến sự dễ chịu. Cùng mây, gió “bay đi đây đó”, mang mưa đến “muôn nơi”. Nhịp thơ dường như cũng chuyển động theo đôi cánh của mây gió. Nếu mùa xuân là lúc em gọi nắng về thì mùa hạ là lúc em đem mát lành đi trao tặng. Hai mùa khác nhau nhưng cùng chung một hướng: cho đi.

Mùa thu lại mở ra một thế giới khác:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Đây là một bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển nhưng được nhìn bằng đôi mắt rất trẻ thơ. Trăng và sao vốn là những hình ảnh quen thuộc trong thi ca, song ở đây, chúng được đặt trong một mối quan hệ gần gũi:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Từ “vui” khiến trăng có tâm hồn. Còn những ngôi sao được thu nhỏ bằng chữ “nhỏ”, rồi lại được phóng đại thành “ngàn đôi mắt”. Cách nhìn ấy vừa ngây thơ vừa giàu sức gợi. Bầu trời đêm không còn xa cách mà giống như một cộng đồng của những ánh nhìn lấp lánh. Trong thế giới ấy, “em” không chỉ muốn được chiếu sáng mà còn muốn được hòa mình vào niềm vui chung.

Đến mùa đông, giấc mơ trở nên gần gũi với đời sống con người hơn:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Ngọn lửa có lẽ là biểu tượng đẹp nhất của hơi ấm. Nhưng nhà thơ không dừng ở việc tả cái lạnh và cái ấm. Ông nối ngọn lửa với:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

“Tổ” và “bữa cơm chiều” cùng hướng về một ý niệm: mái ấm. Đàn chim trở về tổ cũng giống như con người trở về gia đình. Sau những chuyến đi, sau những vất vả, điều con người mong muốn nhất đôi khi chỉ là được ngồi bên những người thân yêu trong một bữa cơm bình dị. Vì vậy, cái “ấm” ở đây vừa là cái ấm của ngọn lửa vừa là cái ấm của tình thân.

Nếu ba mùa trước đưa “em” đến gần thiên nhiên thì mùa đông đưa “em” trở về với mái nhà. Và từ mái nhà, cảm xúc lại tiếp tục mở rộng:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây là sự chuyển hóa rất tự nhiên của tình cảm. Tình yêu không dừng ở cảnh vật mà đi đến con người; từ con người, nó vươn tới quê hương, đất nước. Cụm từ “từng dặm dài” khiến tình yêu đất nước trở nên cụ thể. Đất nước không phải một khái niệm xa xôi mà hiện diện trên từng con đường, từng miền đất, từng bước chân.

“Con đường xa” cũng là hình ảnh giàu tính biểu tượng. Nó có thể là con đường khám phá thế giới, nhưng sâu xa hơn, đó là con đường tương lai. Em đang đứng ở điểm khởi đầu và nhìn về phía trước. Phía trước có thể có thử thách, có những điều chưa biết, nhưng cũng có vô vàn cơ hội.

Bởi vậy, câu kết:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

không chỉ khép lại một bài thơ mà còn mở ra một hành trình. “Chân trời” là nơi con người luôn hướng mắt tới nhưng chẳng bao giờ chạm tới hoàn toàn. Nó giống như ước mơ: càng tiến gần, con người càng nhận ra phía trước còn những khoảng trời mới. Chính vì thế, giấc mơ không phải thứ khiến con người xa rời thực tế; ngược lại, nó giúp con người có lý do để bước tiếp.

Về nghệ thuật, bài thơ được viết bằng thể thơ bốn chữ, tạo nhịp điệu ngắn gọn, mềm mại và trong sáng. Điệp ngữ “Em mơ” tạo nên một dòng cảm xúc liên tục. Hệ thống hình ảnh được lựa chọn rất tinh tế: cánh én của xuân, cơn gió của hạ, vầng trăng của thu, ngọn lửa của đông. Mỗi hình ảnh mang một vẻ đẹp riêng, nhưng khi đặt cạnh nhau lại tạo thành một hành trình ý nghĩa: mang ánh sáng, đem mát lành, soi chiếu và sưởi ấm. Bên cạnh đó, các từ ngữ như “trong veo”, “rộn rã”, “lung linh”, “long lanh”, “ấm nồng” góp phần tạo nên một thế giới thơ giàu nhạc tính và màu sắc.

Điều đáng quý hơn cả là giọng thơ không lên lớp, không giáo huấn. Nhà thơ không nói trực tiếp rằng con người phải sống như thế nào. Ông chỉ kể những giấc mơ. Nhưng chính những giấc mơ ấy đã tự nói lên một triết lý: hãy trở thành điều gì đó có ích cho cuộc đời.

Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc bài thơ, người ta không chỉ nhớ bốn mùa mà còn nhớ một hình bóng nhỏ bé đang đứng giữa đất trời và mơ. Em mơ rất nhiều, nhưng tất cả những giấc mơ ấy đều hướng ra bên ngoài bản thân. Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn biết yêu thương.

“Bốn mùa mơ ước” vì thế giống như một dòng suối trong chảy qua bốn mùa của đất trời, rồi cuối cùng đổ ra biển lớn của tình yêu quê hương và khát vọng tương lai. Bài thơ nhắc mỗi chúng ta rằng: cuộc đời có thể rộng lớn, con đường có thể rất xa, nhưng chỉ cần trong tim còn một ước mơ đẹp, con người vẫn có thể bước đi với niềm tin. Và đẹp nhất là khi ước mơ ấy không chỉ làm sáng cuộc đời mình, mà còn đem một chút nắng, một chút gió, một ánh trăng, một ngọn lửa đến cho những người quanh ta.

Bài tham khảo Mẫu 9

Nếu cuộc đời là một chuyến đi dài, thì ước mơ chính là ánh sáng ở phía cuối con đường. Không có ước mơ, những bước chân dễ trở nên mỏi mệt; không có khát vọng, tương lai đôi khi chỉ là một khoảng trời mờ xa. Nhưng ước mơ đẹp nhất không phải là ước mơ khiến con người chỉ biết nhận về cho mình. Đó là ước mơ khiến trái tim biết mở cửa, biết yêu thiên nhiên, yêu con người và muốn đem những điều tốt lành đến cuộc sống. Trong “Bốn mùa mơ ước”, Nguyễn Lãm Thắng đã dùng ngôn ngữ của tuổi thơ để nói về một điều rất lớn lao: khát vọng sống đẹp. Bài thơ là cuộc du hành qua bốn mùa, nhưng sâu xa hơn, đó là cuộc du hành của tâm hồn từ những rung động hồn nhiên đến tình yêu đất nước và niềm tin vào tương lai.

Bài thơ bắt đầu bằng mùa xuân, nhưng thực chất là bắt đầu bằng một giấc mơ:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

“Em mơ” – hai tiếng ấy nghe thật nhẹ, nhưng lại mở ra cả một thế giới. Trong thế giới ấy, “em” có thể hóa thân thành thiên nhiên. Cánh én vốn chỉ là một sinh thể nhỏ bé giữa bầu trời, vậy mà lại có thể “gọi nắng xuân”. Hình ảnh ấy mang vẻ đẹp của trí tưởng tượng trẻ thơ: hồn nhiên, trong sáng và đầy niềm tin vào khả năng của mình.

Nhưng điều làm giấc mơ trở nên đáng quý lại nằm ở hai chữ “muôn nơi”. Em không muốn gọi nắng về cho riêng mình. Em muốn mùa xuân hiện diện ở mọi miền. Có thể nói, ngay từ những câu thơ đầu tiên, Nguyễn Lãm Thắng đã gieo vào bài thơ một hạt mầm nhân ái. Giấc mơ đẹp là giấc mơ biết hướng ra ngoài cái tôi.

Vì thế:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

Cụm từ “trong veo” khiến tình thương trở nên tinh khiết như ánh sáng. Nó không có bóng dáng của vụ lợi, không đòi hỏi đáp trả. Tình thương ấy hòa vào tiếng cười, nghĩa là cái riêng đã tan vào cái chung. Mùa xuân của thiên nhiên cũng chính là mùa xuân của lòng người.

Mùa hạ xuất hiện với một sắc thái trái ngược:

“Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Cái nóng được cảm nhận bằng từ “nồng oi”, gợi một không gian bức bối. Và trong cái bức bối ấy, “em” mơ mình là:

“cơn gió”

Gió là sự chuyển động, là tự do, là khả năng đi đến những nơi mà con người không dễ dàng đặt chân. Cùng mây, gió “bay đi đây đó”, rồi đem theo “mưa dịu mát”. Hình ảnh ấy tiếp tục khắc họa một tâm hồn luôn muốn trao tặng.

Nếu nhìn sâu vào cấu trúc bài thơ, ta sẽ nhận ra sự lặp lại của một ý niệm: “muôn nơi”. Mùa xuân, em gọi nắng cho muôn nơi; mùa hạ, em đem mưa cho muôn nơi. Điều ấy cho thấy ước mơ của nhân vật trữ tình luôn có một hướng đi rất rõ: từ bản thân đến cộng đồng.

Sang mùa thu, bài thơ chậm lại như một tiếng đàn ngân:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Vầng trăng không chỉ đẹp mà còn là biểu tượng của ánh sáng dịu dàng. Giữa nền trời thu cao xanh, trăng hiện lên lung linh. Nhưng điều đáng yêu là trăng không đứng một mình:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Những vì sao được gọi là “những ngôi sao nhỏ”, mang cách nhìn rất hồn nhiên. Rồi phép so sánh “như ngàn đôi mắt long lanh” lại khiến bầu trời có một vẻ đẹp kỳ diệu. Những vì sao như những đôi mắt bé nhỏ đang thức, đang nhìn, đang chia sẻ niềm vui với vầng trăng.

Qua đó, thiên nhiên hiện ra không phải một thế giới vô tri mà là một thế giới có tình bạn, có niềm vui, có sự giao hòa. “Em” mơ mình là vầng trăng cũng có nghĩa là em muốn được sống trong sự hòa hợp ấy.

Mùa đông lại đưa bài thơ về gần hơn với hơi thở đời sống:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Trong bốn hình tượng hóa thân, “ngọn lửa” có lẽ là hình ảnh chứa nhiều tầng nghĩa nhất. Lửa có thể thắp sáng bóng tối, sưởi ấm cái lạnh, nhưng trong văn hóa và tâm thức con người, lửa còn là biểu tượng của mái nhà. Bởi thế, từ “ngọn lửa”, bài thơ tự nhiên chuyển sang:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

Chỉ hai hình ảnh mà mở ra cả một thế giới ký ức. Chim bay về tổ sau một ngày kiếm ăn; con người trở về bên bữa cơm gia đình sau một ngày dài. “Tổ” và “quê” cùng gặp nhau ở ý niệm trở về.

“Bữa cơm chiều quê” là một hình ảnh rất bình dị. Nhưng chính sự bình dị ấy làm nên chiều sâu cảm xúc. Nhà thơ dường như muốn nhắc rằng có những điều không hề lớn lao nhưng lại trở thành nơi nâng đỡ tâm hồn con người suốt cả cuộc đời. Một mái nhà, một bữa cơm, một tiếng gọi thân quen – đôi khi đó chính là hạnh phúc.

Dấu ba chấm ở cuối câu thơ khiến cảm xúc không khép lại. Nó giống như một khoảng lặng sau bản nhạc, để người đọc tự nghe thấy những thanh âm của quê nhà: tiếng bát đũa, tiếng nói cười, mùi khói bếp, ánh chiều đang chậm rãi buông xuống. Chính những điều không được nói hết ấy lại làm bài thơ thêm dư ba.

Sau mùa đông, bài thơ không kết thúc mà mở rộng:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây là khoảnh khắc giấc mơ tuổi thơ bắt đầu mang tầm vóc của một khát vọng. “Em” không chỉ yêu một góc quê, một bữa cơm, một khoảng trời. Em yêu “từng dặm dài đất nước”. Tình yêu đất nước được diễn đạt không bằng những lời lớn lao mà bằng một hình ảnh rất cụ thể: “từng dặm dài”. Đất nước vì thế hiện lên như một hành trình có thể đi qua bằng chính đôi chân.

“Con đường xa” là một hình ảnh vừa thực vừa biểu tượng. Nó có thể là con đường của những chuyến đi, nhưng cũng là con đường của tuổi trẻ. Trên con đường ấy, “em” sẽ lớn lên, sẽ khám phá, sẽ gặp những chân trời mới. Và chính vì tương lai còn rộng nên ước mơ vẫn còn tiếp tục:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

Câu kết có sức gợi mở đặc biệt. “Chân trời” là nơi luôn ở phía trước. Con người đi mãi mà chân trời vẫn xa, cũng như ước mơ luôn có thể được mở rộng. “Bao la” không chỉ nói về không gian mà còn nói về khả năng của tương lai. Còn biết mơ nghĩa là còn tin. Còn tin nghĩa là còn muốn bước đi.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ sự kết hợp hài hòa giữa chất hồn nhiên và chất trữ tình. Thể thơ bốn chữ tạo nhịp điệu nhẹ nhàng như lời kể, lời hát. Điệp ngữ “Em mơ” tạo nên kết cấu thống nhất. Bốn hình ảnh hóa thân cánh én – cơn gió – vầng trăng – ngọn lửa được lựa chọn theo bốn mùa, vừa tạo nên vẻ đẹp của thiên nhiên vừa biểu tượng cho những giá trị mà “em” muốn trao tặng. Các từ láy “trong veo”, “rộn rã”, “lung linh”, “long lanh”, “ấm nồng” làm cho câu thơ giàu nhạc tính và sức gợi.

Đặc biệt, bài thơ không dừng lại ở việc ca ngợi ước mơ. Nó âm thầm định hướng cho ước mơ. Một cánh én mang nắng, một cơn gió mang mưa, một vầng trăng mang ánh sáng, một ngọn lửa mang hơi ấm. Như vậy, “em” luôn mong mình trở thành một nguồn sáng, một làn mát, một hơi ấm cho thế giới. Đây chính là chiều sâu tư tưởng của bài thơ: ước mơ đẹp nhất là ước mơ biết cho đi.

Có lẽ vì vậy, “Bốn mùa mơ ước” giống một lời hát dịu dàng dành cho tuổi trẻ. Nhà thơ không bảo chúng ta phải mơ những điều thật vĩ đại. Ông chỉ nhắc rằng hãy giữ cho giấc mơ của mình đủ trong để yêu thương, đủ rộng để sẻ chia và đủ xa để dẫn ta đến những chân trời mới.

Bốn mùa rồi sẽ lại đi qua. Cánh én sẽ trở về, gió sẽ bay, trăng sẽ sáng, mùa đông rồi cũng tan. Nhưng những giấc mơ đẹp thì có thể ở lại rất lâu trong tâm hồn con người. Và nếu một ngày chúng ta đứng trước một “con đường xa”, hãy nhớ rằng phía cuối con đường ấy luôn có một “chân trời bao la”. Chỉ cần trái tim còn biết mơ, biết yêu và biết trao tặng, hành trình phía trước sẽ không bao giờ là một hành trình vô nghĩa.

Bài tham khảo Mẫu 10

Có những vần thơ cất lên tựa như tiếng chuông ngân trong trẻo giữa buổi sớm mai, đánh thức cả những ngóc ngách ngủ quên trong tâm hồn người đọc. Thi phẩm "Bốn mùa mơ ước" của nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng là một tác phẩm như thế. Giữa thế giới ngập tràn những bộn bề lo toan, bài thơ đưa ta trở về với miền kí ức nguyên sơ, nơi có một tâm hồn trẻ thơ trong veo đang dệt lên những bức tranh bốn mùa bằng thứ chất liệu của tình yêu thương và sự sống nhiệm màu.

Mùa xuân mở đầu bằng nhịp đập rộn rã của vạn vật và khúc ca hân hoan của lòng người:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Cánh én chao liệng giữa bầu trời cao rộng không chỉ đánh thức mùa xuân mà còn đánh thức cả những rung cảm ngọt ngào trong sâu thẳm con người. Ước mơ hóa thân thành cánh én để "gọi nắng xuân về muôn nơi" đẹp biết bao bởi nó xuất phát từ một "trong veo nỗi niềm thương mến". Tình cảm ấy không thu vén cho riêng mình mà hòa quyện trọn vẹn vào tiếng cười rộn rã của cộng đồng, tạo nên khúc ca mở đầu đầy thi vị cho hành trình khát vọng.

Bước sang mùa hạ, cái oi ả của thời tiết không làm lu mờ đi sự dịu ngọt của tâm hồn mà ngược lại, trở thành phông nền để tấm lòng nhân hậu tỏa sáng:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự đối lập giữa "ngày nắng hạ nồng oi" và "mưa dịu mát" làm nổi bật lên một tâm nguyện sẻ chia cao đẹp. Hóa thân thành cơn gió, thành làn mây trôi đi đây đó để mang hạt mưa làm dịu lòng đất mẹ, đó chính là khát vọng dấn thân, là mong ước được đem lại sự bình yên và xoa dịu những nhọc nhằn của cuộc đời.

Rồi mùa thu ghé đến, mang theo một khoảng trời lung linh, huyền ảo làm đắm say lòng người:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp thanh tao, khoáng đạt. Vầng trăng ngời sáng giữa bầu trời xanh thẳm, quây quần cùng ngàn vì sao lấp lánh như đôi mắt biết cười. Con người lúc này đã hòa tan vào vũ trụ bao la, tìm thấy sự đồng điệu tuyệt vời giữa thiên nhiên và nội tâm thơ mộng, trong sáng.

Nhưng có lẽ, khoảng trời xúc động nhất trong bài thơ lại thuộc về mùa đông – mùa của giá lạnh nhưng đồng thời cũng là mùa bùng cháy những ngọn lửa ấm áp nhất của tình thân:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Giữa cái buốt giá của thời tiết, hình ảnh ngọn lửa bỗng trở thành biểu tượng thiêng liêng của sự sống, sự sưởi ấm và đùm bọc. Ngọn lửa ấy hòa quyện với khung cảnh "đàn chim vui bay về tổ" và "bữa cơm chiều quê ấm nồng", đánh thức tình cảm gia đình sâu sắc, sự sum vầy và yên bình đến nao lòng.

Khép lại hành trình bốn mùa, những ước mơ tuổi thơ đã vươn xa, hòa quyện vào nhịp đập lớn của dân tộc:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Tình yêu thiên nhiên, yêu gia đình đã tự nhiên nâng lên thành tình yêu Tổ quốc thiết tha, sâu nặng. Bằng thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, uyển chuyển, Nguyễn Lãm Thắng đã khắc họa thành công bức tranh tuyệt đẹp về một tâm hồn trẻ thơ luôn khao khát yêu thương và làm đẹp cho đời. 

Bài thơ đọng lại trong lòng người đọc dư âm ngọt ngào về sức mạnh của những giấc mơ – đôi cánh diệu kỳ nâng đỡ con người bay đến những chân trời nhân ái và thiện lương.

Bài tham khảo Mẫu 11

Có một thứ ánh sáng lạ kỳ tỏa ra từ những vần thơ viết cho thiếu nhi của Nguyễn Lãm Thắng, thứ ánh sáng của sự tinh khôi, trong trẻo và ngập tràn tình yêu thương. Bài thơ "Bốn mùa mơ ước" giống như một nốt nhạc êm đềm trong bản hòa tấu của cuộc sống, nơi nhân vật trữ tình mượn sự luân chuyển của bốn mùa để gửi gắm những khát vọng hóa thân cao đẹp, làm rạng rỡ thêm cho cõi đời này.

Khởi đầu bài thơ là không gian mùa xuân rộn rã, tươi vui, nơi mầm sống và tình cảm bắt đầu nảy nở:

"Em mơ mình là cánh én Gọi nắng xuân về muôn nơi Trong veo nỗi niềm thương mến Hoà trong rộn rã tiếng cười."

Cánh én chao liệng giữa bầu trời mùa xuân không chỉ mang theo tín hiệu của sự đổi thay thời tiết mà còn mang theo sứ mệnh đánh thức vạn vật. Nhân vật trữ tình ước ao hóa thân thành cánh én để "gọi nắng xuân về muôn nơi", mang hơi ấm và niềm vui đến với mọi ngóc ngách của cuộc sống. Điều đáng trân trọng nhất là "trong veo nỗi niềm thương mến" – một trạng thái tâm hồn nguyên sơ, trong sáng tuyệt đối, hòa quyện tự nhiên vào tiếng cười rộn rã của cộng đồng.

Vượt qua mùa xuân tươi mới, khát vọng ấy tiếp tục trải dài và biến đổi linh hoạt khi mùa hạ khắc nghiệt ghé qua:

"Em mơ mình là cơn gió Giữa ngày nắng hạ nồng oi Cùng mây bay đi đây đó Đem mưa dịu mát muôn nơi."

Sự đối lập giữa cái oi bức, ngột ngạt của "ngày nắng hạ" và sự dịu ngọt của "cơn gió", "làn mây", "hạt mưa" đã làm nổi bật tấm lòng vị tha, nhân hậu của chủ thể trữ tình. Mơ làm cơn gió trôi đi đây đó không phải để phiêu du vô định mà là để "đem mưa dịu mát muôn nơi", xoa dịu những nhọc nhằn, mệt mỏi của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, mang đậm tinh thần cống hiến thầm lặng.

Đến với mùa thu, nhịp thơ chùng lại trong một không gian tĩnh lặng, trong trẻo và đầy chất mộng mơ:

"Em mơ là vầng trăng tỏ Lung linh giữa trời thu xanh Vui cùng những ngôi sao nhỏ Như ngàn đôi mắt long lanh."

Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp thanh tao, khoáng đạt. Vầng trăng sáng ngời giữa bầu trời xanh thẳm cùng muôn ngàn ngôi sao lấp lánh như đôi mắt biết cười tạo nên một khung cảnh huyền ảo, nên thơ. Con người lúc này đã hoàn toàn hòa nhập, đối thoại và đồng điệu với vũ trụ bao la, chứng tỏ một đời sống nội tâm phong phú và luôn hướng về những giá trị thanh cao.

Nhưng có lẽ, điểm chạm xúc cảm sâu sắc và ấm áp nhất của bài thơ lại dồn tụ vào mùa đông – mùa của giá lạnh nhưng cũng là mùa bùng cháy những ngọn lửa tình thân:

"Em mơ mình là ngọn lửa Xua tan giá lạnh mùa đông Đàn chim vui bay về tổ Bữa cơm chiều quê ấm nồng..."

Giữa cái buốt giá của mùa đông, hình ảnh "ngọn lửa" xuất hiện như một biểu tượng của sự sống, sự sưởi ấm và che chở. Ngọn lửa ấy không chỉ xua đi cái lạnh của thời tiết mà còn hòa quyện với khung cảnh "đàn chim vui bay về tổ" và "bữa cơm chiều quê ấm nồng", đánh thức tình cảm gia đình sâu sắc, sự sum vầy và yên bình đến nao lòng.

Khép lại hành trình bốn mùa, những ước mơ tuổi thơ đã vươn xa, gắn liền với vận mệnh và vẻ đẹp của quê hương, đất nước:

"Yêu từng dặm dài đất nước Em mơ về con đường xa Bốn mùa còn bao mơ ước Ở phía chân trời bao la."

Tình yêu thiên nhiên, yêu gia đình đã tự nhiên nâng lên thành tình yêu Tổ quốc thiết tha, sâu nặng. Bằng thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, hình ảnh giàu sức gợi cùng giọng thơ trong trẻo.

Nguyễn Lãm Thắng đã khắc họa thành công bức tranh tuyệt đẹp về một tâm hồn trẻ thơ luôn khao khát yêu thương và làm đẹp cho đời, để lại dư âm ngọt ngào trong lòng người đọc muôn thế hệ.

Bài tham khảo Mẫu 12

Có một khoảng trời mà con người chỉ có thể trở về bằng ký ức – đó là tuổi thơ. Ở nơi ấy, bầu trời luôn xanh hơn, nắng dường như trong hơn và những ước mơ cũng rộng dài hơn mọi con đường thực tại. Một đứa trẻ có thể tin rằng chỉ cần dang tay là chạm được mây trời, chỉ cần một giấc mơ là có thể hóa thành cánh chim, thành ánh trăng, thành ngọn lửa. Nhưng điều kỳ diệu nhất của tuổi thơ không nằm ở khả năng tưởng tượng ra những điều không có thật, mà ở chỗ những điều tưởng tượng ấy thường bắt đầu từ một trái tim rất thật: trái tim biết yêu thương. “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng là một bài thơ như vậy. Từ những giấc mơ hồn nhiên của một “em” nhỏ bé, nhà thơ đã mở ra cả một thế giới bốn mùa lung linh, để rồi từ thiên nhiên, từ gia đình, từ quê hương, ước mơ dần vươn tới một chân trời rộng lớn của tương lai.

Điều đặc biệt của bài thơ là nhà thơ không trực tiếp giảng giải thế nào là một ước mơ đẹp. Ông để nhân vật trữ tình tự cất tiếng:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

Câu thơ mở ra bằng hai tiếng “Em mơ”, nhẹ như một làn gió thoảng. Nhưng ngay sau đó, trí tưởng tượng đã đưa “em” vượt khỏi hình hài nhỏ bé để hóa thành “cánh én”. Én vốn là tín hiệu của mùa xuân, là đôi cánh nhỏ mang theo dấu hiệu của sự hồi sinh. Vì thế, “em” không mơ trở thành một thứ gì quá quyền năng; em chỉ mong mình là một cánh én để “gọi nắng xuân về”. Chính sự hồn nhiên ấy lại làm cho ước mơ trở nên đẹp đẽ.

Đáng chú ý hơn, nắng xuân không chỉ đến một nơi mà đến “muôn nơi”. Một từ ngữ nhỏ nhưng mở rộng cả chiều kích tâm hồn. Nếu một ước mơ chỉ hướng vào bản thân, nó dễ trở thành một mong muốn cá nhân; nhưng ở đây, “em” muốn ánh sáng được lan tỏa. Ước mơ ngay từ điểm khởi đầu đã mang dáng dấp của lòng nhân ái.

Bởi vậy, mùa xuân không chỉ có nắng mà còn có:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

“Trong veo” là một cách dùng từ rất đẹp. Nhà thơ không chỉ nói “thương mến” mà làm cho tình thương ấy mang màu sắc, ánh sáng và độ trong. Nó trong như giọt sương sớm, như bầu trời vừa thức dậy sau đêm dài. Tình thương không ồn ào mà tinh khiết; nhưng khi được hòa vào “rộn rã tiếng cười”, nó lại trở thành niềm vui chung. Như vậy, mùa xuân trong bài thơ thực chất là mùa xuân của lòng người.

Rời mùa xuân, bài thơ bước vào mùa hạ:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Nếu cánh én gọi nắng thì cơn gió lại xuất hiện giữa cái nóng. Hai hình ảnh được đặt trong hai hoàn cảnh khác nhau nhưng cùng mang một ý nghĩa: trở thành điều mà cuộc đời đang cần.

“Ngày nắng hạ nồng oi” gợi một không gian nóng bức, ngột ngạt. Và trong hoàn cảnh ấy, “em” không mơ một bóng mát để trú cho riêng mình mà mơ mình là cơn gió:

“Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Cơn gió ấy có một hành trình. Nó “bay đi đây đó”, cùng mây vượt qua những khoảng trời rộng lớn để đem mưa đến mọi miền. Nếu đọc kỹ, ta sẽ thấy các giấc mơ trong bài thơ luôn có một điểm chung: chúng đều là những hình thức của sự trao tặng. Cánh én trao nắng. Cơn gió trao mưa. “Em” dường như không muốn giữ vẻ đẹp cho riêng mình; em muốn trở thành một phần của thiên nhiên để đem cái đẹp ấy đến cho người khác.

Mùa thu xuất hiện nhẹ hơn, sâu hơn:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Không còn cái rộn ràng của xuân, cái chuyển động của hạ, mùa thu được vẽ bằng những đường nét thanh tân và tĩnh lặng. “Vầng trăng tỏ”, “trời thu xanh”, “lung linh” – tất cả kết hợp tạo thành một bức tranh vừa thực vừa mộng. Nhưng trăng không đứng một mình:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Nhà thơ đã nhìn bầu trời bằng đôi mắt của trẻ thơ. Những vì sao xa xôi bỗng trở thành “những ngôi sao nhỏ”, rồi hóa thành “ngàn đôi mắt”. Cách nhân hóa và so sánh ấy khiến vũ trụ trở nên gần gũi. Bầu trời không còn là khoảng không lạnh lẽo mà giống một gia đình lớn, nơi trăng và sao cùng vui đùa.

Có lẽ, đó cũng chính là thế giới trong tâm hồn trẻ nhỏ: mọi vật đều có linh hồn, mọi khoảng cách đều có thể được nối gần bằng tình yêu.

Nhưng nếu mùa thu là ánh sáng thì mùa đông lại là thử thách của cái lạnh:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Đây là hình ảnh hóa thân giàu sức gợi nhất. Lửa không chỉ sưởi ấm mà còn biểu tượng cho sự sống, niềm tin và mái nhà. “Em” muốn là ngọn lửa để xua tan giá lạnh, nghĩa là muốn chống lại cái lạnh bằng hơi ấm của mình.

Và ngay sau đó, nhà thơ đưa người đọc về một không gian rất đỗi thân thương:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

Hai chữ “về tổ” gợi sự trở về. “Bữa cơm chiều quê” cũng là một hình thức của trở về. Sau cả ngày dài, đàn chim tìm về nơi trú ngụ; sau những nhọc nhằn, con người tìm về mái nhà. Hình ảnh ấy khiến ngọn lửa không còn đơn thuần là lửa của thiên nhiên mà trở thành lửa của tình thân.

Đặc biệt, dấu ba chấm ở cuối câu như một khoảng lặng. Nhà thơ không nói thêm, bởi có những vẻ đẹp càng nói hết càng mất đi dư vị. Chỉ một “bữa cơm chiều quê” cũng đủ gợi khói bếp, ánh hoàng hôn, tiếng gọi nhau, hơi ấm của những người thân ngồi cạnh nhau. Chính khoảng trống ấy làm câu thơ ngân dài hơn.

Sau bốn mùa, “em” không ở lại trong một mái nhà nhỏ. Tâm hồn ấy tiếp tục mở ra:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây là sự trưởng thành âm thầm của ước mơ. Từ việc gọi nắng, đem mưa, vui cùng sao, sưởi ấm mái nhà, “em” đã hướng tới đất nước. Tình yêu thiên nhiên đã hòa vào tình yêu quê hương. “Từng dặm dài” khiến đất nước hiện ra bằng những miền đất cụ thể, những con đường có thể bước chân đến.

“Con đường xa” vừa là con đường địa lý, vừa là con đường của tương lai. Một đứa trẻ hôm nay còn mơ, ngày mai sẽ bước đi trên con đường ấy. Vì vậy, hai câu kết:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

không chỉ là lời khép lại mà là một sự mở ra. “Chân trời” là nơi con người luôn hướng tới nhưng chưa bao giờ chạm hết. Nó giống như ước mơ: càng trưởng thành, con người càng nhận ra phía trước vẫn còn những điều đáng khao khát.

Bài thơ vì thế có một cấu trúc rất đẹp: bắt đầu từ một cánh én nhỏ và kết thúc ở một chân trời bao la. Không gian càng lúc càng mở rộng, nhưng cốt lõi của ước mơ lại không thay đổi. Đó vẫn là khát vọng đem điều tốt đẹp đến cho cuộc đời.

Nguyễn Lãm Thắng đã lựa chọn thể thơ bốn chữ, câu thơ ngắn, nhịp thơ đều, tạo nên âm hưởng gần với lời hát và lời ru. Điệp ngữ “Em mơ” như một điệp khúc trở đi trở lại, làm cho bài thơ có sự liền mạch. Các hình ảnh cánh én, cơn gió, vầng trăng, ngọn lửa được sắp xếp theo bốn mùa, tạo thành một hệ thống biểu tượng giàu sức gợi. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu chất họa, chất nhạc; các từ láy “trong veo”, “rộn rã”, “lung linh”, “long lanh”, “ấm nồng” khiến cảnh vật và cảm xúc cùng rung lên.

Sau cùng, điều đẹp nhất mà bài thơ để lại không phải là vẻ lung linh của bốn mùa mà là cách con người lựa chọn để hiện diện trong thế giới. “Em” không muốn trở thành người lớn lao nhất; em chỉ muốn trở thành một điều có ích. Khi cuộc đời cần ánh sáng, em muốn là cánh én gọi nắng; khi cuộc đời nóng bức, em muốn là cơn gió; khi màn đêm buông xuống, em muốn là vầng trăng; khi mùa đông lạnh giá, em muốn là ngọn lửa.

Đó chính là vẻ đẹp sâu xa của “Bốn mùa mơ ước”. Bài thơ nhắc ta rằng ước mơ chân chính không làm con người xa rời cuộc đời, mà khiến con người yêu cuộc đời hơn. Và có lẽ, khi trưởng thành, điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta không còn những giấc mơ lớn, mà là đánh mất một tâm hồn biết mơ những điều trong trẻo. Bởi chỉ khi còn biết mơ về ánh sáng cho người khác, ta mới thực sự giữ được ánh sáng trong chính mình.

Bài tham khảo Mẫu 13

Thiên nhiên trong thơ ca chưa bao giờ chỉ là thiên nhiên. Một mùa xuân có thể là niềm hy vọng, một mùa hạ có thể là nỗi khát khao, một vầng trăng có thể là nỗi nhớ, một ngọn lửa có thể là biểu tượng của tình thân. Bởi khi bước vào thơ, cảnh vật đã đi qua tâm hồn con người và mang theo những rung động của con người. Với “Bốn mùa mơ ước”, Nguyễn Lãm Thắng cũng không chỉ vẽ bốn mùa. Qua bốn mùa, ông vẽ một tâm hồn. Đó là một tâm hồn trẻ thơ trong trẻo, giàu tưởng tượng, nhưng đáng quý hơn cả là luôn biết hướng tình yêu của mình ra ngoài bản thân. Càng đọc, ta càng nhận ra: bốn mùa trong bài thơ thực chất là bốn cung bậc của một tình yêu đang lớn lên.

Mùa xuân là điểm bắt đầu của mọi sự sống, và cũng là nơi ước mơ đầu tiên cất cánh:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

Có thể nói, đây là một giấc mơ mang vẻ đẹp của sự khởi đầu. “Em” muốn hóa thành cánh én – một hình ảnh vốn đã gắn với mùa xuân trong tâm thức người Việt. Nhưng nếu chỉ bay giữa bầu trời, cánh én sẽ mới chỉ là một hình ảnh đẹp. Điều làm nó trở nên có ý nghĩa là hành động “gọi nắng”.

“Gọi” là đánh thức, là mời gọi, là đem một điều đang chờ đợi trở thành hiện thực. Cánh én vì thế không chỉ báo xuân mà như một sứ giả của mùa xuân. Nó mang ánh sáng đến. Và ánh sáng ấy không thuộc về riêng ai: “muôn nơi”. Chỉ một cụm từ đã khiến giấc mơ nhỏ bé trở thành một ước vọng rộng lớn.

Hai câu thơ sau lại đi sâu vào phần vô hình của mùa xuân:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

Ở đây, nhà thơ không chỉ tả cảnh mà tả một trạng thái tâm hồn. “Nỗi niềm thương mến” được gọi là “trong veo”. Đây là một liên tưởng đẹp bởi tình cảm vốn không thể nhìn thấy, nhưng trong thế giới của thơ, nó có thể mang độ trong như nước. Tình thương ấy hòa vào tiếng cười, để cái riêng trở thành cái chung. Có thể nói, mùa xuân trong bài thơ được tạo nên từ hai thứ ánh sáng: ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của lòng người.

Mùa hạ đến với một sắc thái khác:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Nhà thơ không né tránh cái nóng mà đặt cơn gió “giữa” nó. Chính sự đối lập ấy làm cho hình tượng cơn gió có ý nghĩa. Gió xuất hiện nơi người ta cần nó nhất.

Cơn gió ấy không đứng lại:

“Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Từ “bay” khiến câu thơ có nhịp chuyển động. Không gian cũng được mở rộng bởi “đi đây đó”. Nhưng quan trọng nhất vẫn là “muôn nơi”. Nếu ở mùa xuân, em muốn gọi nắng cho muôn nơi thì đến mùa hạ, em muốn đem mưa cho muôn nơi. Như vậy, “em” không chỉ hòa vào thiên nhiên mà còn muốn trở thành người trao tặng.

Có một điều rất đáng suy ngẫm: cánh én không cần được biết đến vì đã gọi mùa xuân; cơn gió cũng không cần ai nhìn thấy để làm dịu ngày hè. Chúng cứ âm thầm làm công việc của mình. Phải chăng đó cũng là cách bài thơ nói về những điều tốt đẹp trong cuộc sống? Có những người không đứng ở nơi rực rỡ nhất nhưng vẫn lặng lẽ đem nắng, đem mưa, đem hơi ấm đến cho người khác.

Mùa thu lại mở ra một thế giới của ánh sáng:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Nếu xuân có nắng, hạ có mưa thì thu có trăng. Nhưng vầng trăng này không mang vẻ cô tịch thường thấy trong nhiều bài thơ viết về đêm. Nó “vui cùng những ngôi sao nhỏ”. Chỉ một chữ “vui” đã thay đổi cả không gian. Trăng có bạn, sao có trăng, bầu trời trở thành một thế giới giao cảm.

Phép so sánh:

“Như ngàn đôi mắt long lanh”

lại khiến bầu trời trở nên đặc biệt. Những vì sao giống những đôi mắt. Có thể đó là đôi mắt của trẻ thơ đang ngước nhìn trời cao; cũng có thể là những đôi mắt của những người đang dõi theo cuộc sống. Cách nhìn thiên nhiên như thế khiến bài thơ đậm chất mộng mơ. Thiên nhiên không đứng bên ngoài con người mà soi chiếu lại thế giới nội tâm con người.

Mùa đông là điểm hội tụ của những giấc mơ:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Lửa xuất hiện khi cái lạnh trở nên rõ nhất. Bởi thế, lửa không chỉ mang nghĩa vật chất mà còn mang nghĩa tinh thần. Nó là ánh sáng giữa tối tăm, là hơi ấm giữa giá lạnh, là sự sống giữa khắc nghiệt.

Nhưng điều khiến ngọn lửa trở nên có hồn là những gì xuất hiện sau nó:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

Nếu cánh én và cơn gió đưa “em” ra với thế giới, thì ngọn lửa đưa “em” trở về. Từ “tổ” đến “bữa cơm chiều quê”, tất cả đều quy tụ vào một điểm: mái ấm.

Đây có lẽ là nơi bài thơ chạm vào vùng cảm xúc sâu nhất. Bởi con người dù đi bao xa, sau cùng vẫn mong có một nơi để trở về. Đàn chim bay về tổ sau một ngày dài; con người trở về với bữa cơm gia đình sau những nhọc nhằn. Cái “ấm” của bữa cơm không nằm ở món ăn, mà nằm ở sự hiện diện của những người thương yêu.

Và cũng từ nơi trở về ấy, ước mơ lại cất bước:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây là sự vận động rất đẹp của bài thơ. Tình yêu bắt đầu từ thiên nhiên, đi qua con người, neo lại nơi mái ấm rồi mở rộng đến đất nước. “Từng dặm dài đất nước” là cách diễn đạt vừa cụ thể vừa giàu chất thơ. Đất nước không phải một hình ảnh trừu tượng mà là từng miền đất, từng con đường, từng khoảng trời.

“Con đường xa” vì thế cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là con đường mà tuổi trẻ sẽ bước đi. Có thể là con đường học tập, lao động, khám phá; cũng có thể là con đường đi tìm chính mình. Điều quan trọng là phía trước vẫn còn rộng mở.

Bởi vậy, hai câu kết:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

giống như một cánh cửa mở ra sau khi bài thơ tưởng đã khép lại. “Chân trời” là nơi xa xôi nhưng luôn thôi thúc ánh nhìn. Cũng như ước mơ: càng tiến gần, ta càng nhìn thấy những điều mới ở phía trước.

Đặc sắc của bài thơ nằm ở chỗ Nguyễn Lãm Thắng đã biến bốn mùa thành bốn trạng thái của tâm hồn. Xuân là khát vọng gieo niềm vui; hạ là mong muốn sẻ chia; thu là niềm vui hòa hợp; đông là khát vọng sưởi ấm. Bốn hình ảnh én – gió – trăng – lửa cũng tạo thành một chuỗi biểu tượng đẹp. Chúng không chỉ đại diện cho thiên nhiên mà còn đại diện cho những gì con người muốn trao gửi.

Thể thơ bốn chữ tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, trong sáng. Điệp cấu trúc “Em mơ” khiến bài thơ giống một lời tự sự pha màu cổ tích. Những từ láy giàu sức gợi làm cảnh vật trở nên có hồn. Ngôn ngữ không cầu kỳ, nhưng chính sự giản dị ấy lại phù hợp với thế giới trẻ thơ và giúp thông điệp nhân văn đến với người đọc một cách tự nhiên.

Đọc bài thơ, ta nhận ra một điều tưởng đơn giản mà không dễ thực hiện: ước mơ đẹp nhất là ước mơ có người khác ở trong đó. “Em” mơ không phải để trở thành người đặc biệt, mà để đem nắng, mưa, ánh sáng, hơi ấm cho muôn nơi. Đó là lúc giấc mơ cá nhân nâng mình lên thành một cách sống.

Có lẽ vì thế, “Bốn mùa mơ ước” không chỉ dành cho trẻ em. Nó còn dành cho những người đã đi qua tuổi thơ và đôi khi quên mất cách nhìn thế giới bằng một trái tim trong trẻo. Bài thơ nhắc ta hãy giữ lại một cánh én trong tâm hồn để biết gọi mùa xuân, một cơn gió để biết sẻ chia, một vầng trăng để biết soi sáng và một ngọn lửa để biết sưởi ấm. Bởi cuộc đời có thể rộng đến đâu cũng không đáng sợ nếu phía trước vẫn còn một chân trời để hướng tới và trong tim vẫn còn một điều đẹp đẽ để mơ.

Bài tham khảo Mẫu 14

Có lẽ điều khiến tuổi trẻ đẹp nhất không phải là tuổi trẻ chưa từng biết buồn, mà bởi trong những ngày tháng còn nhiều bỡ ngỡ ấy, con người vẫn có đủ can đảm để tin vào những điều tốt đẹp ở phía trước. Một giấc mơ có thể rất xa, một con đường có thể rất dài, một chân trời có thể mãi nằm ngoài tầm với, nhưng chỉ cần con người còn hướng mắt về đó, cuộc sống vẫn còn lý do để bước tiếp. “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng là một bài thơ mang tinh thần như vậy. Bài thơ bắt đầu bằng một tiếng “mơ” rất trẻ thơ, đi qua bốn mùa của đất trời, chạm vào mái ấm quê hương rồi kết thúc ở “chân trời bao la”. Đằng sau những hình ảnh tưởng chừng nhẹ nhàng ấy là một lời nhắn gửi sâu sắc về cách nuôi dưỡng tâm hồn và cách biến ước mơ thành một hướng đi của đời người.

Bài thơ không bắt đầu bằng một lời tuyên ngôn mà bằng một giấc mơ:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi”

Có một vẻ đẹp rất riêng trong cách nhà thơ lựa chọn cánh én làm hình ảnh đầu tiên. Én là loài chim của mùa xuân, nhưng cũng là loài chim của hành trình. Nó không đứng yên; nó bay. Vì thế, ngay từ đầu, ước mơ đã gắn với chuyển động. “Em” muốn trở thành cánh én để gọi mùa xuân, nghĩa là muốn góp phần đánh thức những gì tươi đẹp đang ngủ quên.

Động từ “gọi” đặc biệt giàu sức gợi. Một cánh én nhỏ bé mà có thể “gọi nắng”. Hình ảnh ấy mang vẻ hồn nhiên của trẻ thơ nhưng lại ẩn chứa một niềm tin rất lớn: mỗi cá thể, dù nhỏ bé, vẫn có thể góp một phần vào việc làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn.

Và nắng xuân được gọi về “muôn nơi”. Không gian ấy không có ranh giới. Cánh én không bay về một mái nhà riêng mà bay giữa một thế giới rộng lớn. Điều này làm cho ước mơ của “em” ngay từ đầu đã mang tính cộng đồng.

Hai câu thơ:

“Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

lại khiến người đọc nhìn thấy phần sâu kín nhất của giấc mơ. Cội nguồn của nó là “thương mến”. Tình thương ấy “trong veo” – một cách diễn đạt vừa giản dị vừa giàu chất thơ. Đó là tình cảm không bị vẩn đục bởi toan tính. Và khi hòa vào “tiếng cười”, nó trở thành niềm vui được chia sẻ.

Mùa xuân vì thế không chỉ là mùa của đất trời. Đó là mùa của một trái tim đang biết mở ra.

Mùa hạ tiếp tục câu chuyện bằng một giấc mơ khác:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi”

Nếu cánh én mang mùa xuân đến thì cơn gió xuất hiện để chống lại cái nóng. “Nồng oi” là cảm giác của một ngày hè bức bối. Trong cái nóng ấy, cơn gió trở thành một hình ảnh của sự giải tỏa.

Nhưng gió trong bài thơ không chỉ thổi quanh “em”. Nó:

“Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Nhịp thơ như cũng bay theo gió và mây. Không gian mở rộng từ “giữa ngày nắng hạ” đến “đây đó”, rồi đến “muôn nơi”. Như vậy, giấc mơ ngày càng đi xa hơn. Nó không còn là một hình ảnh đứng yên mà trở thành một hành trình.

Điều ấy rất gần với bản chất của tuổi trẻ. Tuổi trẻ luôn muốn đi, muốn khám phá, muốn tìm kiếm một nơi mà mình có thể đóng góp. Nhưng bài thơ không nói về những chuyến đi bằng sự háo hức ích kỷ. Cơn gió đi để “đem mưa dịu mát”. Đi xa, trong quan niệm của nhà thơ, không phải chỉ để nhận thêm cho mình mà còn để có thể trao đi nhiều hơn.

Đến mùa thu, bước chân của bài thơ chậm lại:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh”

Mùa thu hiện ra bằng những gam màu nhẹ. “Trời thu xanh” mở một khoảng không cao rộng; “vầng trăng tỏ” đứng giữa ấy như một nguồn sáng dịu dàng. Nhưng trăng không cô đơn:

“Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Câu thơ có vẻ đẹp của một bức tranh cổ tích. Những ngôi sao trở thành những đôi mắt. Bầu trời như một khuôn mặt khổng lồ, nơi vô số ánh nhìn đang lấp lánh. Cách nhìn ấy cho thấy trí tưởng tượng rất giàu có của trẻ thơ: thế giới không phải một tập hợp của những vật vô tri, mà là một nơi mọi sự vật đều có thể làm bạn với nhau.

Nếu cánh én biểu hiện cho sức sống, cơn gió cho sự sẻ chia thì vầng trăng lại gợi một vẻ đẹp khác: khả năng sống trong hòa hợp. “Em” không chỉ muốn tỏa sáng mà còn muốn “vui cùng” những ánh sáng khác. Đó là một quan niệm rất đẹp về hạnh phúc: hạnh phúc không phải ánh sáng của riêng mình, mà là niềm vui khi được hòa vào ánh sáng chung.

Mùa đông khép lại vòng tuần hoàn của thiên nhiên:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông”

Ngọn lửa ở đây là sự đối lập trực tiếp với cái lạnh. Nhưng chiều sâu của hình tượng nằm ở những gì ngọn lửa đánh thức:

“Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

“Bay về tổ” là một trong những bản năng đẹp nhất của sự sống: sau hành trình, trở về. Và “bữa cơm chiều quê” chính là hình ảnh con người của bài thơ trở về sau những ngày dài.

Có thể nói, đây là lúc thiên nhiên và con người hòa làm một. Chim có tổ, người có nhà. Chim tìm về nơi trú ngụ, người tìm về nơi yêu thương. Vì thế, “ấm nồng” không chỉ là nhiệt độ. Nó là nhiệt độ của tình thân.

Dấu ba chấm ở cuối câu làm câu thơ như còn bỏ ngỏ. Người đọc có thể tự mình điền vào khoảng lặng ấy bằng những gì thân thuộc nhất: ánh chiều quê, khói bếp, tiếng gọi nhau, tiếng bát đũa, những khuôn mặt quây quần. Đôi khi, một nhà thơ tài tình không cần kể hết; chỉ cần mở một cánh cửa, ký ức của người đọc sẽ tự bước vào.

Và rồi, từ bữa cơm quê, bài thơ lại hướng mắt ra xa:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

Đây là điểm chuyển có ý nghĩa đặc biệt. “Em” không còn chỉ mơ hóa thành những hình ảnh của thiên nhiên. Giấc mơ đã gắn với đất nước. Nhưng tình yêu đất nước được diễn đạt rất tự nhiên: “từng dặm dài”. Đất nước hiện ra qua chiều dài của những con đường, qua những miền đất mà “em” muốn bước tới.

“Con đường xa” vì thế vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là con đường của tương lai, nơi tuổi trẻ sẽ phải tự mình bước đi. Bài thơ không nói tương lai sẽ dễ dàng. Nó chỉ nói phía trước có một con đường, và ở cuối con đường ấy là một chân trời.

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

Câu kết có lẽ là nơi tinh thần của toàn bài được cô đọng nhất. “Còn” là một từ rất đẹp. Nó khẳng định rằng ước mơ chưa kết thúc. Bốn mùa đã đi qua nhưng phía trước vẫn còn vô vàn điều để mơ. Con người không bị giới hạn bởi những gì đã có; con người luôn có thể hướng tới những gì chưa tới.

“Chân trời” trong thơ ca thường là biểu tượng của khát vọng. Nó ở phía trước, xa xôi, đôi khi tưởng như không thể chạm tới. Nhưng chính vì không thể chạm tới hoàn toàn nên nó luôn thúc giục con người bước tiếp. Chân trời càng rộng, giấc mơ càng lớn.

Thành công của bài thơ trước hết nằm ở sự hòa quyện giữa hình thức giản dị và ý nghĩa sâu xa. Thể thơ bốn chữ khiến lời thơ nhẹ như lời hát. Điệp ngữ “Em mơ” tạo thành một điệp khúc, khiến những giấc mơ nối tiếp nhau. Bốn mùa được khắc họa bằng bốn hình ảnh trung tâm: én, gió, trăng, lửa. Mỗi hình ảnh mang một sắc thái riêng nhưng đều có khả năng đem đến một điều tốt đẹp. Những từ láy giàu nhạc tính như “trong veo”, “rộn rã”, “lung linh”, “long lanh”, “ấm nồng” giúp bài thơ vừa có hình vừa có nhạc, vừa có màu sắc vừa có cảm xúc.

Nhưng vượt lên trên tất cả những giá trị nghệ thuật ấy là một thông điệp nhân văn rất đẹp. Nhà thơ dường như muốn nói rằng: đừng ngại mơ ước, bởi ước mơ chính là cách tâm hồn mở rộng về phía tương lai. Nhưng hãy mơ những điều khiến mình trở nên hữu ích hơn cho cuộc sống. Đừng chỉ mơ mình có được ánh sáng; hãy mơ mình có thể trở thành ánh sáng. Đừng chỉ mong được yêu thương; hãy mong mình có thể đem yêu thương đến cho người khác.

Bốn mùa trong bài thơ vì thế cũng có thể được đọc như bốn mùa của một đời người. Xuân là lúc bắt đầu biết mơ. Hạ là lúc bước đi và cho đi. Thu là lúc biết hòa mình vào thế giới. Đông là lúc hiểu giá trị của mái ấm và sự trở về. Nhưng hành trình ấy chưa kết thúc, bởi phía trước vẫn là một chân trời.

Có lẽ đó là lý do “Bốn mùa mơ ước” mang đến một dư âm rất dịu. Đọc xong, ta không chỉ thấy thiên nhiên đẹp hơn mà còn muốn sống đẹp hơn. Ta muốn giữ trong mình một chút trong veo của mùa xuân, một chút rộng rãi của cơn gió, một chút dịu dàng của ánh trăng và một chút ấm áp của ngọn lửa. Để rồi dù đi qua bao nhiêu mùa của cuộc đời, ta vẫn có thể ngẩng lên nhìn phía trước và tin rằng: ở nơi chân trời bao la kia, vẫn còn những ước mơ đang đợi ta gọi tên.

Bài tham khảo Mẫu 15

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có lẽ tuổi thơ là khoảng trời mà ở đó những ước mơ luôn bắt đầu từ những điều giản dị nhất. Một đứa trẻ có thể mơ thành cánh chim để bay thật xa, thành cơn gió để đem mát lành đến mọi nơi, thành ánh trăng để soi sáng màn đêm hay thành ngọn lửa để sưởi ấm những người mình yêu thương. Những ước mơ tưởng như hồn nhiên ấy lại chứa đựng một thế giới tâm hồn giàu yêu thương và khát vọng sống đẹp. Bài thơ “Bốn mùa mơ ước” của Nguyễn Lãm Thắng là một khúc hát như thế. Qua hình tượng “em” với những giấc mơ trải dài theo bốn mùa, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, đồng thời gửi gắm vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ thơ biết yêu cuộc đời, yêu con người và hướng tới những chân trời rộng lớn.

Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã đưa người đọc bước vào thế giới của những ước mơ:

“Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi
Trong veo nỗi niềm thương mến
Hoà trong rộn rã tiếng cười.”

Mùa xuân hiện lên trước hết qua hình ảnh “cánh én” – biểu tượng quen thuộc của mùa xuân và sức sống. “Em” không mơ thành một điều gì lớn lao, mà chỉ mong được hóa thành cánh én nhỏ bé để “gọi nắng xuân về muôn nơi”. Động từ “gọi” khiến hình ảnh cánh én trở nên sinh động, như thể đôi cánh nhỏ có thể đánh thức cả đất trời sau những ngày lạnh giá. Nhưng điều đáng quý hơn nằm ở mục đích của giấc mơ ấy: “muôn nơi”. Ước mơ không chỉ dành cho riêng mình mà hướng đến mọi người, mọi miền. Câu thơ “Trong veo nỗi niềm thương mến” gợi một tâm hồn tinh khiết, không vẩn đục bởi toan tính. Tình yêu trong em trong trẻo như ánh nắng đầu xuân và hòa cùng “rộn rã tiếng cười” của cuộc sống. Xuân vì thế không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của tình yêu thương và niềm vui.

Nếu mùa xuân được đánh thức bằng đôi cánh én thì mùa hạ lại được xoa dịu bởi một cơn gió:

“Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi
Cùng mây bay đi đây đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.”

Mùa hạ thường gắn với cái nắng gay gắt, oi nồng. Trong hoàn cảnh ấy, “em” lại ước mình là “cơn gió”. Cơn gió không có hình dáng cụ thể, không thể nắm bắt, nhưng lại có thể len qua mọi khoảng không để mang đến sự dễ chịu. Hình ảnh “cùng mây bay đi đây đó” mở ra một không gian rộng lớn, tự do. Đặc biệt, câu thơ “Đem mưa dịu mát muôn nơi” tiếp tục khẳng định vẻ đẹp của một ước mơ luôn hướng về cộng đồng. Nếu cánh én mang nắng xuân, thì cơn gió mang mưa lành. Những hóa thân của “em” đều có chung một điểm: đem đến sự sống, niềm vui và bình yên cho cuộc đời. Qua đó, người đọc nhận ra một quan niệm thật đẹp: ước mơ đáng quý không phải là ước mơ chỉ làm cho bản thân trở nên nổi bật, mà là ước mơ có thể đem điều tốt lành đến cho người khác.

Đến mùa thu, giấc mơ trở nên lung linh và giàu chất thơ hơn:

“Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh
Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh.”

Không còn chuyển động mạnh mẽ như cánh én hay cơn gió, hình tượng “vầng trăng tỏ” đem đến một vẻ đẹp dịu dàng, thanh khiết. “Trời thu xanh” mở ra một khoảng không cao rộng, trong trẻo, nơi vầng trăng có thể “lung linh” giữa vô vàn ánh sao. Cách nhân hóa “vui cùng những ngôi sao nhỏ” khiến bầu trời trở thành một thế giới có tâm hồn. Đặc biệt, phép so sánh “Như ngàn đôi mắt long lanh” khiến những ngôi sao không còn là những chấm sáng vô tri mà trở thành những đôi mắt bé nhỏ đang nhìn ngắm, đang sẻ chia niềm vui với vầng trăng. Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh, Nguyễn Lãm Thắng đã biến thiên nhiên thành người bạn của tuổi thơ. Ở đó, con người không đứng ngoài cảnh vật mà hòa mình vào đất trời, tìm thấy niềm vui trong sự giao cảm với vũ trụ.

Nếu mùa thu mang ánh sáng dịu dàng thì mùa đông lại cần hơi ấm của yêu thương:

“Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông
Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng...”

Hình ảnh “ngọn lửa” là một điểm nhấn giàu ý nghĩa. Lửa có thể xua tan cái lạnh của mùa đông, nhưng trong bài thơ, ngọn lửa còn là biểu tượng của tình yêu thương và sự sống. “Em” mong mình có thể “xua tan giá lạnh”, nghĩa là đem hơi ấm đến cho cuộc đời. Sau đó, những hình ảnh “đàn chim”, “bay về tổ”, “bữa cơm chiều quê” xuất hiện, tạo nên một không gian gia đình và quê hương vô cùng gần gũi. Đặc biệt, dấu ba chấm ở cuối câu thơ “Bữa cơm chiều quê ấm nồng...” như kéo dài dư vị của sự sum họp. Cái ấm ở đây không chỉ là hơi ấm của lửa mà còn là hơi ấm của mái nhà, của tình thân, của quê hương. Ước mơ của “em” vì thế đã đi từ thiên nhiên đến con người, từ ánh sáng của đất trời đến ánh sáng trong tâm hồn.

Bốn mùa đi qua, bốn hình ảnh hóa thân cũng lần lượt xuất hiện: cánh én – cơn gió – vầng trăng – ngọn lửa. Đó là một hệ thống hình ảnh vừa đẹp vừa có tính biểu tượng. Cánh én gọi mùa xuân, cơn gió làm dịu mùa hạ, vầng trăng soi mùa thu, ngọn lửa sưởi ấm mùa đông. Mỗi hình ảnh mang một vẻ đẹp riêng nhưng đều cùng hướng đến một mục đích: làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Có thể nói, nhà thơ đã dùng bốn mùa như bốn chương của một bản nhạc, trong đó mỗi mùa là một cung bậc của ước mơ.

Nếu bốn khổ thơ đầu là những giấc mơ cụ thể thì hai câu thơ:

“Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa”

đã mở rộng biên độ của cảm xúc. Tình yêu không còn dừng lại ở một mùa, một cảnh vật hay một mái nhà mà lan tỏa thành tình yêu “từng dặm dài đất nước”. Cụm từ “từng dặm dài” gợi một không gian rộng lớn, nơi mỗi bước chân đều có thể in dấu tình yêu quê hương. “Con đường xa” vừa là con đường thực của những hành trình tương lai, vừa là hình ảnh ẩn dụ cho con đường trưởng thành của tuổi trẻ. Đó là con đường phía trước còn dài rộng, còn nhiều điều cần khám phá, cống hiến và mơ ước.

Hai câu kết khép lại bài thơ nhưng đồng thời mở ra một chân trời vô tận:

“Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.”

Từ “còn” đem đến một cảm giác thật đẹp: những ước mơ chưa bao giờ kết thúc. Bốn mùa không chỉ lặp lại theo quy luật của thời gian mà còn mở ra những cơ hội mới cho con người. “Chân trời bao la” là hình ảnh giàu tính biểu tượng, đại diện cho tương lai rộng lớn, cho những điều tốt đẹp vẫn đang chờ đợi ở phía trước. Câu thơ không đóng lại giấc mơ mà để giấc mơ tiếp tục bay xa. Bởi vậy, dư âm của bài thơ là dư âm của niềm tin, hy vọng và khát vọng sống.

Thành công của bài thơ còn đến từ nghệ thuật biểu đạt giàu sức gợi. Thể thơ bốn chữ tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, trong sáng, phù hợp với tâm hồn trẻ thơ. Điệp cấu trúc “Em mơ mình là...”, “Em mơ là...” được lặp lại nhiều lần như những nhịp sóng liên tiếp của trí tưởng tượng. Hệ thống hình ảnh gần gũi mà giàu ý nghĩa biểu tượng khiến bài thơ vừa dễ hiểu vừa có chiều sâu. Các biện pháp nhân hóa, so sánh được sử dụng tự nhiên, không cầu kỳ. Đặc biệt, sự vận động của không gian từ mùa xuân đến mùa đông rồi mở ra “chân trời bao la” đã tạo nên một cấu trúc nghệ thuật đẹp: ước mơ bắt đầu từ những điều nhỏ bé nhưng cuối cùng vươn tới những giá trị lớn lao.

Đọc “Bốn mùa mơ ước”, ta bắt gặp một thế giới tuổi thơ trong trẻo nhưng không hề nhỏ bé. Đằng sau những giấc mơ hóa thân thành cánh én, cơn gió, vầng trăng, ngọn lửa là một tâm hồn luôn muốn trao tặng ánh sáng, sự mát lành, niềm vui và hơi ấm cho cuộc đời. Đó cũng chính là thông điệp đẹp mà Nguyễn Lãm Thắng gửi đến người đọc: hãy biết ước mơ, nhưng hãy để những ước mơ ấy gắn với tình yêu thương, quê hương và những điều tốt đẹp dành cho cộng đồng.

Bài thơ khép lại, bốn mùa vẫn tuần hoàn, nhưng những giấc mơ thì còn bay mãi. Có thể hôm nay ta chỉ là một cánh én nhỏ, một cơn gió vô hình, một vầng trăng bé xinh hay một ngọn lửa âm thầm; nhưng nếu trong tim còn tình yêu thương và khát vọng cống hiến, mỗi người đều có thể làm cho một góc đời trở nên ấm áp hơn. Và có lẽ, ý nghĩa đẹp nhất của tuổi trẻ chính là như thế: mang trong mình một “chân trời bao la” để mơ, rồi từng bước biến những giấc mơ trong trẻo ấy thành những điều có ích cho cuộc đời.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải