content-pc content-tablet content-mobile
1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ lục bát

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Về quê (Vũ Xuân Quảng)


I. Mở bài - Dẫn dắt: Giới thiệu về đề tài quê hương – nguồn cảm hứng muôn thuở trong thơ ca, nơi lưu giữ những giá trị bình yên, trong trẻo và hồn hậu trong tâm hồn mỗi người.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Dẫn dắt: Giới thiệu về đề tài quê hương – nguồn cảm hứng muôn thuở trong thơ ca, nơi lưu giữ những giá trị bình yên, trong trẻo và hồn hậu trong tâm hồn mỗi người.

- Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ "Về quê" của Vũ Xuân Quảng là một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống thôn quê vô cùng sinh động, chân thực qua góc nhìn đầy háo hức, yêu mến của đứa cháu nhỏ.

- Nêu vấn đề nghị luận: Phân tích vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, không gian sống thanh bình và tình cảm sâu nặng, niềm vui sướng hân hoan của nhân vật "cháu" trong kì nghỉ hè ở quê.

II. Thân bài

1. Khái quát chung

- Hoàn cảnh/Cảm xúc bao trùm: Niềm vui tột cùng, sự háo hức và ngỡ ngàng của đứa cháu khi được rời xa thành phố để trở về với không gian yên bình của làng quê.

- Thể thơ: Thể thơ 7 chữ nhịp nhàng, giọng điệu vui tươi, trong sáng, gợi cảm giác rộn ràng, tha thiết.

2. Phân tích chi tiết

a. Bức tranh thiên nhiên làng quê rộng lớn, khoáng đạt

- Không gian mở đầu:

+ "Theo ông, cháu được về quê / Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang"

+ Không gian mở ra vô tận với cánh đồng lúa xanh ngút ngàn, mùa hè rộng mở, mang lại cảm giác tự do, khoáng đạt.

- Bầu trời và âm thanh quen thuộc:

+ "Trời cho lồng lộng gió mây / Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi"

+ Hình ảnh thiên nhiên đậm chất làng quê Bắc Bộ: tiếng tre kẽo kẹt trong gió, bầu trời lồng lộng mây trời, ánh nắng vàng rực rỡ khắp sân phơi.

b. Cuộc sống bình dị, gần gũi và đầy ắp niềm vui tuổi thơ

- Những trải nghiệm thú vị của tuổi thơ:

+ Được tự tay làm những điều giản dị mà ở phố thị không có được: "tắm giếng làng", "bắc thang bẻ ổi chín vàng".

+ Các hoạt động vui chơi dân dã: Buổi trưa "đi câu", buổi chiều "tranh nhau thả diều".

- Bức tranh sinh hoạt của loài vật gần gũi, sống động:

+ "Chó mèo cứ quẩn chân người / Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền / Vườn sau, gà bới giun lên / Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau"

+ Sử dụng nghệ thuật nhân hóa và từ láy sinh động (thảnh thơi, chiêm chiếp), miêu tả nhịp sống chậm rãi, thanh bình, chan hòa giữa con người và muôn loài.

c. Cảm xúc tiếc nuối và tình yêu sâu đậm với quê hương

Hai câu thơ kết:

- "Ở quê, ngày ngắn tí teo / Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không."

- Sử dụng thành ngữ phóng đại nghệ thuật ("ngày ngắn tí teo", "trôi vèo như không") để diễn tả quy luật tâm lý: thời gian vui vẻ thường trôi qua rất nhanh.

- Qua đó, bộc lộ tình yêu thiết tha, sự lưu luyến, gắn bó sâu nặng của đứa cháu đối với thiên nhiên, con người và nhịp sống nơi thôn quê.

3. Đánh giá nghệ thuật

- Thể thơ 7 chữ gần gũi, nhịp thơ linh hoạt, uyển chuyển.

- Ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất dân gian, hình ảnh thơ gần gũi, giàu sức gợi hình, gợi cảm.

- Biện pháp tu từ (nhân hóa, liệt kê) được sử dụng tài tình, làm sống dậy cả một thế giới tuổi thơ tươi đẹp.

III. Kết bài

- Khẳng định giá trị: Bài thơ "Về quê" không chỉ là bức tranh phong cảnh làng quê thanh bình mà còn là tiếng lòng trong trẻo, hồn nhiên của tuổi thơ, khơi gợi trong lòng người đọc tình yêu quê hương đất nước.

- Liên hệ bản thân: Bài học rút ra cho mỗi người về ý nghĩa của những ký ức tuổi thơ, sự trân trọng những giá trị bình dị của cội nguồn, quê hương.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Quê hương luôn là chốn bình yên để tâm hồn ta nương náu sau những bộn bề của cuộc sống. Điều đó được thể hiện vô cùng sinh động và trong trẻo qua bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng. Tác phẩm đã mở ra trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên làng quê rộng lớn, khoáng đạt cùng không gian sống thanh bình, chan chứa yêu thương.

Ngay từ những câu thơ đầu, khung cảnh làng quê hiện lên đầy sức sống qua cái nhìn háo hức của đứa cháu nhỏ:

"Theo ông, cháu được về quê Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang"

Không gian được mở rộng đến vô tận với cánh đồng lúa xanh ngút ngàn và khoảng trời mùa hè thênh thang, lộng gió. Bức tranh ấy càng trở nên gần gũi, thân thuộc hơn qua những hình ảnh rất đỗi bình dị của làng quê Bắc Bộ:

"Trời cho lồng lộng gió mây Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi"

Âm thanh kẽo kẹt của rặng tre làng hòa cùng ánh nắng vàng rực rỡ trải dài khắp sân phơi tạo nên một nhịp sống chậm rãi, thanh thản. Thiên nhiên nơi đây không chỉ đẹp bởi cảnh sắc mà còn rất đỗi ấm áp bởi sự giao hòa giữa đất trời và con người, xua tan đi mọi ồn ào, ngột ngạt của phố thị.

Khép lại đoạn thơ là sự cảm nhận tinh tế về thiên nhiên qua lăng kính hồn nhiên. Bài thơ thực sự là khúc ca tuyệt đẹp về tình yêu quê hương, khơi gợi trong lòng mỗi người sự trân trọng những giá trị bình dị, mộc mạc của cội nguồn.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Đến với bài thơ "Về quê" của Vũ Xuân Quảng, người đọc không chỉ được đắm mình trong không gian thiên nhiên khoáng đạt mà còn được trải nghiệm một thế giới tuổi thơ vô cùng rộn rã, tươi vui. Qua ngòi bút miêu tả tinh tế, tác giả đã tái hiện lại những sinh hoạt đời thường vô cùng sinh động, đậm chất trữ tình của làng quê.

Cuộc sống ở quê hiện lên thật gần gũi qua những trò chơi dân dã và trải nghiệm thú vị của đứa cháu nhỏ:

"Về quê được tắm giếng làng Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây" [...] Buổi trưa cháu mải đi câu Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều."

Đó là những niềm vui bình dị mà đứa trẻ thành phố khó có được: được vùng vẫy trong làn nước giếng làng mát rượi, tự tay hái những quả ổi chín vàng hay vô tư câu cá, thả diều.

Không chỉ có con người, thế giới loài vật nơi đây cũng quấn quýt, sống động và chan chứa tình cảm:

"Chó mèo cứ quẩn chân người Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền Vườn sau, gà bới giun lên Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau"

Các từ láy gợi hình, gợi cảm kết hợp với biện pháp nhân hóa khéo léo đã làm cho bức tranh cuộc sống thêm phần trọn vẹn, yên ả. Con người và muôn loài sống hòa hợp trong một mái nhà chung bình yên, hạnh phúc.

Bài thơ đã lưu giữ những khoảnh khắc tuổi thơ đẹp đẽ nhất. Qua đó, tác giả ca ngợi vẻ đẹp mộc mạc của làng quê và bồi đắp thêm tình yêu thiên nhiên trong tâm hồn mỗi người.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc và nhịp sống thôn quê, mà còn chạm đến cảm xúc sâu lắng của người đọc qua nỗi niềm lưu luyến, gắn bó thiết tha của nhân vật trữ tình. Tình yêu quê hương được thắp lên từ những điều bình dị nhất và đọng lại ở hai câu kết đầy thổn thức.

Trải qua một tháng hè đong đầy những kỷ niệm tươi đẹp, đứa cháu cảm nhận thời gian trôi đi nhanh đến lạ thường:

"Ở quê, ngày ngắn tí teo Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không."

Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật phóng đại qua các cụm từ "ngày ngắn tí teo" và "trôi vèo như không". Đó không chỉ là sự đo đếm thời gian vật lý, mà là thước đo tâm lý của sự hạnh phúc. Khi con người được sống trọn vẹn trong niềm vui, sự hồn nhiên và tình yêu thương, thời gian dường như ngắn lại, trôi nhanh đi trong sự tiếc nuối ngập tràn.

Hai câu thơ cuối chính là tiếng lòng chân thành của đứa trẻ dành cho chốn bình yên này. Nơi ấy có ông, có thiên nhiên khoáng đạt và có cả một khoảng trời tuổi thơ không thể nào quên.

Tác phẩm khép lại nhưng dư âm của nó vẫn vang vọng mãi. Bài thơ nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của những ký ức tuổi thơ và tình cảm thiêng liêng với quê hương, xứ sở - nơi nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn khôn.

Bài tham khảo Mẫu 1

Khung trời tuổi thơ của mỗi người thường được dệt nên từ những mảnh ký ức bình dị nhất, nơi có bóng tre xanh, tiếng gió thổi qua hiên nhà và hương lúa mới ngọt ngào. Đọc bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng, ta như được đánh thức cả một vùng trời thương nhớ, một không gian thanh bình mà ở đó, thiên nhiên và con người hòa quyện vào nhau trong một nhịp điệu tĩnh tại, nên thơ. Tác phẩm không chỉ là bức tranh phong cảnh đồng quê khoáng đạt, mà còn là bản ca ngợi vẻ đẹp trong trẻo, an lành của cội nguồn, nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người sau những xô bồ, ngột ngạt của phố thị.

Ngay từ những câu thơ mở đầu, nhà thơ đã mở ra một không gian nghệ thuật rộng lớn, tràn ngập ánh sáng và tự do:

"Theo ông, cháu được về quê 

Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang"

Cụm từ "đồng xanh tít tắp" kết hợp với không gian "mùa hè thênh thang" gợi lên cảm giác ngút ngàn, vô tận của đất trời. Không còn bị giới hạn bởi những khối bê tông cốt thép hay bốn bức tường vô cảm, đứa cháu nhỏ bước vào thế giới của thiên nhiên với đôi mắt ngỡ ngàng, háo hức. Khung cảnh ấy càng trở nên linh hoạt và sống động hơn qua những nét vẽ đậm chất hồn quê Bắc Bộ:

"Trời cho lồng lộng gió mây 

Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi"

Bầu trời cao rộng "lồng lộng gió mây" kết hợp với âm thanh quen thuộc "tre đu kẽo kẹt" và ánh nắng vàng rực rỡ ngập tràn khắp sân phơi đã tạo nên một bức tranh động tĩnh đan xen vô cùng tinh tế. Tiếng tre kẽo kẹt trong gió không chỉ là âm thanh của cỏ cây, mà dường như là tiếng thở êm đềm của đất mẹ, ru hời cho những tâm hồn bé nhỏ tìm về sự bình yên.

Đi sâu vào không gian ấy, ta thấy thiên nhiên nơi đây không hề tĩnh lặng vô tri mà luôn tràn đầy sinh khí, gắn kết mật thiết với nhịp sống mộc mạc của con người. Đó là sự hiện diện của đất trời bao dung, chở che, ôm trọn vào lòng những đứa con xa xứ tìm về bản ngã. Qua ngòi bút tài hoa và giàu cảm xúc của Vũ Xuân Quảng, thiên nhiên hiện lên không chỉ bằng hình khối, màu sắc mà còn bằng cả âm thanh và nhịp đập của sự sống.

Khép lại bài thơ, dư vị ngọt ngào của thiên nhiên và tình cảm gia đình vẫn đọng lại sâu lắng trong tâm hồn người đọc. "Về quê" thực sự là một khoảng trời yên ả, một nhịp dừng chân cần thiết để mỗi chúng ta tìm lại sự cân bằng, nuôi dưỡng những cảm xúc nguyên sơ, trong trẻo nhất của lòng mình trước khi bước vào dòng chảy hối hả của cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 2

Giữa dòng chảy vội vã của thời gian hiện đại, con người ta đôi khi khao khát đến cháy lòng được bé lại, được trở về với những khoảng trời tuổi thơ mộc mạc, nơi có tiếng cười trong trẻo và tình yêu thương vô điều kiện của gia đình. Bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng chính là tấm vé khứ hồi đưa ta trở lại những năm tháng đẹp đẽ ấy. Bằng sự tinh tế trong quan sát và niềm hoài niệm thiết tha, tác giả đã tái hiện một thế giới thôn quê sinh động, tràn ngập niềm vui hồn nhiên và sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người với muôn loài.

Bước chân trở về quê hương của đứa cháu nhỏ không chỉ là sự dịch chuyển về mặt không gian, mà còn là hành trình đi tìm những trải nghiệm nguyên sơ, chân thực nhất của tuổi thơ:

"Về quê được tắm giếng làng 

Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây" 

[...] Buổi trưa cháu mải đi câu 

Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều."

Những hành động rất đỗi đời thường như "tắm giếng làng", "bẻ ổi chín vàng", hay những trò chơi dân dã như "đi câu", "thả diều" hiện lên thật sống động. Đó là thứ hạnh phúc giản dị mà những đứa trẻ lớn lên ở thành thị, vây quanh bởi công nghệ, khó lòng có được. Từng câu chữ như đượm lại cái vị ngọt ngào của trái cây vườn nhà, cái mát rượi của làn nước giếng trong veo và tiếng cười ròn tan vang vọng cả một vùng trời tuổi thơ.

Không dừng lại ở không gian sinh hoạt của con người, bức tranh thôn quê còn trở nên ấm áp, trọn vẹn hơn bội phần nhờ sự hiện diện đáng yêu của thế giới loài vật:

"Chó mèo cứ quẩn chân người 

Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền 

Vườn sau, gà bới giun lên

 Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau"

Bằng nghệ thuật nhân hóa tài tình kết hợp với hệ thống từ láy giàu sức gợi hình (thảnh thơi, chiêm chiếp), nhà thơ đã vẽ nên một hệ sinh thái làng quê thanh bình, nơi muôn loài sống trong sự gắn kết hòa hợp với con người. Chó mèo quấn quýt, vịt bầu thảnh thơi bơi lội, gà mẹ dắt đàn con kiếm ăn... tất cả tạo nên một nhịp sống chậm rãi, hiền hòa, không chút ưu tư, phiền muộn.

Tác phẩm "Về quê" vì thế không chỉ mang giá trị tả thực mà còn chứa đựng tầng ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nhà thơ đã khéo léo nhắc nhở chúng ta rằng: Hạnh phúc đích thực đôi khi chỉ là những điều vô cùng bé nhỏ, mộc mạc, hiện hữu ngay trong đời sống thường nhật nếu ta biết mở rộng tâm hồn để đón nhận và nâng niu.

Bài tham khảo Mẫu 3

Thơ ca đích thực luôn có khả năng chạm đến những góc khuất sâu kín nhất trong tâm hồn con người, đánh thức những rung cảm tinh tế tưởng chừng đã ngủ quên. Bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng không chỉ gây ấn tượng bởi bức tranh thiên nhiên tươi đẹp hay thế giới tuổi thơ rộn rã tiếng cười, mà còn đọng lại ở những chiêm nghiệm sâu sắc về quy luật của thời gian và tình cảm gắn bó thiêng liêng với quê hương, xứ sở qua hai câu thơ kết đầy thổn thức.

Trải qua một hành trình dài đong đầy những trải nghiệm thú vị, hồn nhiên nơi thôn quê, đứa cháu nhỏ bất chợt nhận ra sự nghịch lý đầy xót xa của thời gian khi sống trong niềm vui tột cùng:

"Ở quê, ngày ngắn tí teo 

Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không."

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật phóng đại vô cùng đắt giá qua các cụm từ "ngày ngắn tí teo" và "trôi vèo như không". Ở đây, thời gian không còn được đo đếm bằng những con số vật lý khô khan, mà được định lượng bằng biên độ của cảm xúc hạnh phúc. Khi con người được sống trọn vẹn trong sự tự do, trong tình yêu thương của ông bà và sự bao bọc của thiên nhiên, thời gian dường như co lại, trôi nhanh đến chóng mặt. Sự "ngắn ngủi" ấy thực chất là biểu hiện của một tâm hồn đang ngập tràn sự thỏa mãn, nuối tiếc vì cuộc vui chóng tàn.

Hai câu thơ cuối chính là tiếng lòng chân thành, là nhịp đập thổn thức của một đứa trẻ đang phải đối mặt với thực tại: kì nghỉ hè ngắn ngủi sắp khép lại để trở về với nhịp sống đô thị ồn ã. Qua lăng kính nghệ thuật ấy, Vũ Xuân Quảng đã gửi gắm một thông điệp triết lý sâu sắc về tình cảm quê hương. Quê hương không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà là chốn bến đỗ tinh thần, nơi thời gian dường như ngừng lại cho những yêu thương thăng hoa. Nỗi lưu luyến trong thơ ông cũng chính là nỗi niềm chung của bao người con xa xứ mỗi khi phải rời xa gốc rễ của mình.

Khép lại bài thơ "Về quê", dư âm của tiếng tre kẽo kẹt, của cánh đồng xanh thênh thang và cả sự tiếc nuối ngập tràn trong hai câu thơ cuối vẫn âm vang trong lòng người đọc. Tác phẩm là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía về giá trị của cội nguồn, đồng thời bồi đắp thêm trong mỗi chúng ta tình yêu thiết tha đối với những giá trị bình dị, nguyên sơ của cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 4

Có những nơi ta chỉ cần đi xa một chút đã thấy nhớ. Có những âm thanh tưởng như rất đỗi bình thường nhưng một ngày bỗng vang lên trong ký ức lại khiến lòng người chùng xuống. Đó có thể là tiếng gà gáy buổi sớm, tiếng tre xào xạc trong gió, tiếng gọi nhau của lũ trẻ ngoài đồng hay mùi nắng trên sân phơi. Quê hương thường không bước vào tâm hồn bằng những điều lớn lao. Quê hương lặng lẽ ở lại qua những gì giản dị nhất, để rồi đến một lúc nào đó, ta nhận ra mình đã mang theo cả một miền thương nhớ suốt cuộc đời. Bài thơ “Về quê” của Vũ Xuân Quảng là một khúc hát trong trẻo như thế. Qua lời kể hồn nhiên của người cháu trong những ngày được trở về quê, nhà thơ đã dựng lên một bức tranh làng quê mùa hè vừa khoáng đạt, rộn ràng sức sống, vừa ấm áp tình thân. Đằng sau những trò chơi bình dị của tuổi nhỏ là một tình yêu quê hương sâu sắc và niềm trân trọng đối với những tháng ngày tuổi thơ không thể trở lại.

Ngay từ hai câu thơ đầu, cảm xúc vui sướng đã được cất lên một cách tự nhiên:

“Theo ông, cháu được về quê
Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Cụm từ “được về quê” nghe giản dị mà chứa đựng cả một niềm mong chờ. “Về” chứ không phải “đến”, bởi quê hương luôn là nơi để trở về, nơi con người có một sợi dây gắn bó tự nhiên và sâu xa. Đặc biệt, sự xuất hiện của hình ảnh “ông” khiến hành trình trở về càng trở nên ấm áp. Người ông không chỉ là người đưa cháu về quê mà còn giống như một nhịp cầu nối đứa trẻ với cội nguồn gia đình. Trong ánh nhìn của người cháu, quê hương mở ra trước hết bằng một không gian rộng lớn: “đồng xanh tít tắp”, “mùa hè thênh thang”. Những từ “tít tắp”, “thênh thang” khiến không gian như được kéo dài đến vô tận. Cánh đồng không chỉ xanh mà còn xanh đến tận chân trời; mùa hè không chỉ dài mà còn mở ra cả một khoảng trời tự do. Quê hương vì thế hiện lên như một thế giới rộng lớn đang dang tay đón đứa trẻ trở về.

Đi sâu vào bức tranh ấy, nhà thơ không chọn những hình ảnh cầu kỳ mà tìm đến những nét vẽ rất quen thuộc của làng quê Việt Nam:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Một lần nữa, chữ “được” xuất hiện, như một tiếng reo vui. Tắm giếng làng, bẻ ổi trên cây vốn là những hoạt động bình thường, nhưng dưới con mắt trẻ thơ, chúng lại trở thành những trải nghiệm vô cùng thú vị. Hình ảnh “giếng làng” gợi một không gian văn hóa thân thuộc, nơi lưu giữ biết bao kỉ niệm của cộng đồng làng quê. Còn “ổi chín vàng” lại gợi vị ngọt của mùa hè, của vườn quê và của những buổi rong chơi. Động tác “bắc thang bẻ ổi” khiến câu thơ trở nên tinh nghịch, sống động, giúp người đọc như nhìn thấy một đứa trẻ đang háo hức trèo lên cây, tự tay hái lấy trái ngọt. Quê hương trong bài thơ không nằm ở những khái niệm trừu tượng mà hiện hữu trong từng điều nhỏ bé có thể chạm vào, nhìn thấy và nếm trải.

Nếu những câu thơ trên có màu xanh của đồng ruộng, màu vàng của trái chín thì những câu tiếp theo lại đem đến cả một thế giới âm thanh và ánh sáng:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

Tính từ “lồng lộng” mở ra bầu trời rộng lớn. Gió và mây dường như không còn bị giới hạn, còn ánh nắng thì tràn xuống “đầy sân phơi”. Đặc biệt, âm thanh “kẽo kẹt” của tre làm cho bức tranh quê trở nên có chiều sâu. Người đọc không chỉ nhìn thấy hàng tre mà còn nghe được tiếng tre trong gió. Cái tài của nhà thơ nằm ở chỗ chỉ bằng vài hình ảnh rất mộc mạc, ông đã đánh thức nhiều giác quan của người đọc, khiến làng quê hiện lên gần gũi như một miền ký ức đã từng tồn tại trong mỗi người.

Bức tranh ấy không đứng yên mà luôn chuyển động bởi sự xuất hiện của những con vật thân thuộc:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Những chú chó, chú mèo “quẩn chân người” tạo nên cảm giác gần gũi, quấn quýt. Đàn vịt lại “thảnh thơi” bơi trên mặt nước. Cách nói “bơi thuyền” mang màu sắc nhân hóa khiến hình ảnh đàn vịt trở nên ngộ nghĩnh, đáng yêu. Tất cả cùng tạo nên một nhịp sống thanh bình. Không có sự vội vã, không có tiếng động ồn ào của phố thị; chỉ có con người, cây cỏ và muông thú cùng tồn tại trong một nhịp điệu yên ả.

Đến khu vườn sau nhà, sự sống lại được thu nhỏ trong hình ảnh đàn gà:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Từ tượng thanh “chiêm chiếp” khiến câu thơ vang lên một âm thanh rất đặc trưng của làng quê. Hình ảnh gà mẹ bới giun, đàn gà con nối đuôi theo mẹ vừa chân thực vừa đáng yêu. Qua đôi mắt trẻ thơ, ngay cả một đàn gà cũng trở thành một thế giới đầy hấp dẫn. Điều đó cho thấy quê hương đẹp không phải vì những cảnh sắc xa lạ mà vì mọi vật ở đó đều thân thuộc, đều gắn với một cảm xúc riêng.

Nếu thiên nhiên tạo nên nền cảnh thì những trò chơi đã thổi linh hồn tuổi thơ vào bức tranh ấy:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Hai câu thơ là một lát cắt rất đẹp của tuổi thơ. “Đi câu”, “thả diều” đều là những trò chơi giản dị nhưng gắn với không gian đồng quê. Từ “mải” cho thấy đứa trẻ say mê đến quên cả thời gian. Còn “tranh nhau” lại gợi tiếng cười, sự náo nhiệt của một nhóm bạn nhỏ. Cánh diều bay lên trong buổi chiều cũng như mang theo ước mơ và niềm vui của tuổi thơ. Trong thế giới ấy, chỉ cần một cánh đồng, một con diều, vài người bạn là đủ tạo nên một ngày hè đáng nhớ.

Nhưng điều đặc biệt nhất của bài thơ nằm ở hai câu kết:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Sau hàng loạt hình ảnh vui tươi, hai câu thơ bất chợt để lại một dư vị man mác. “Ngày ngắn tí teo”, “trôi vèo như không” là cách nói hồn nhiên của trẻ nhỏ nhưng lại chứa đựng một quy luật sâu sắc của cảm xúc. Khi con người hạnh phúc, thời gian dường như trôi nhanh hơn. Một tháng ở quê tưởng dài mà phút chốc đã hết. Cái “vèo” ấy không chỉ diễn tả tốc độ của thời gian mà còn gợi sự tiếc nuối. Đứa cháu chưa kịp tận hưởng hết những ngày vui thì kỳ nghỉ đã qua. Chính vì thế, phía sau giọng thơ vui tươi thấp thoáng một nỗi lưu luyến rất đẹp.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ ngôn ngữ giản dị, trong sáng, giàu chất khẩu ngữ và đậm màu sắc trẻ thơ. Hệ thống hình ảnh gần gũi, nhiều động từ và từ láy khiến cảnh vật luôn có chuyển động. Các giác quan được đánh thức qua màu sắc của đồng xanh, ổi vàng, âm thanh kẽo kẹt của tre, tiếng chiêm chiếp của gà con và nhịp sống của con người, muông vật. Đặc biệt, cách lựa chọn điểm nhìn của người cháu giúp toàn bộ bài thơ giữ được vẻ hồn nhiên, tự nhiên mà không hề lên gân hay giáo huấn.

Có thể nói, “Về quê” không chỉ kể về một kỳ nghỉ hè mà còn kể về cách một đứa trẻ khám phá và yêu thương quê hương. Quê hương hiện ra từ những điều bình dị nhất: một giếng làng, một cây ổi, một hàng tre, một sân phơi, một đàn gà, một cánh diều. Những điều tưởng nhỏ bé ấy lại chính là những viên gạch đầu tiên xây nên ký ức và tình yêu quê hương trong tâm hồn mỗi con người. Đọc bài thơ, ta chợt hiểu rằng có những mùa hè rồi sẽ đi qua, những cánh diều rồi sẽ khuất khỏi bầu trời, nhưng miền quê của tuổi nhỏ vẫn có thể ở lại rất lâu trong trái tim. Và có lẽ, đó chính là món quà đẹp nhất mà quê hương trao tặng cho mỗi người.

Bài tham khảo Mẫu 5

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, tuổi thơ thường giống như một miền đất nằm phía sau thời gian: càng đi xa, người ta càng muốn ngoái nhìn; càng lớn, người ta càng thấm thía vẻ đẹp của những ngày tháng tưởng như bình thường. Đó là những buổi trưa nắng vàng, những chiều chạy trên đồng, những lần trèo cây hái quả, những tiếng gọi nhau vang lên giữa một không gian rộng lớn. Tuổi thơ không giàu có bởi vật chất, mà giàu có bởi tự do, bởi thiên nhiên và bởi tình yêu thương. Bài thơ “Về quê” của Vũ Xuân Quảng đã chạm vào miền ký ức ấy bằng một giọng thơ hồn nhiên, tươi sáng. Qua hành trình theo ông trở về quê, nhân vật người cháu không chỉ khám phá một không gian làng quê tràn đầy sức sống mà còn được sống lại những niềm vui nguyên sơ nhất của tuổi nhỏ. Càng đọc, ta càng nhận ra: bài thơ là một bức tranh quê, nhưng sâu xa hơn, đó là bức tranh của một tâm hồn đang lớn lên trong tình yêu đối với quê hương và gia đình.

Ấn tượng đầu tiên mà bài thơ mang đến là cảm giác rộng mở của không gian:

“Theo ông, cháu được về quê
Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Hai câu thơ giống như cánh cửa mở ra trước mắt người đọc một miền quê khoáng đạt. “Đồng xanh tít tắp” không chỉ có màu sắc mà còn có chiều sâu. Từ “tít tắp” kéo ánh nhìn của đứa trẻ ra xa, đến tận nơi bầu trời và cánh đồng dường như gặp nhau. Trong khi đó, “mùa hè thênh thang” lại khiến thời gian như có hình khối, có độ rộng. Mùa hè trở thành một khoảng trời tự do để trẻ nhỏ vui chơi và khám phá. Đáng chú ý hơn cả là hình ảnh “ông” xuất hiện ngay đầu bài. Nếu quê hương là cội nguồn của một con người thì ông chính là người dẫn đứa cháu trở về với cội nguồn ấy. Bởi vậy, hành trình về quê vừa là một chuyến đi trong không gian, vừa là một chuyến trở về trong tình thân.

Từ không gian rộng lớn, ánh nhìn của người cháu dần dừng lại ở những điều thân thuộc:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Câu thơ có một vẻ đẹp rất riêng bởi nhà thơ đã để nhân vật trữ tình cảm nhận quê hương bằng những trải nghiệm cụ thể. “Giếng làng” không chỉ là nơi tắm mát mà còn là biểu tượng quen thuộc của làng quê Việt Nam. Còn cây ổi với những quả “chín vàng” lại gợi mùi vị của vườn quê. Động tác “bắc thang bẻ ổi” khiến người đọc bắt gặp một đứa trẻ đang thực sự sống trong quê hương chứ không chỉ đứng ngắm quê hương từ xa. Cái thú vị của bài thơ chính là ở đó: nhà thơ không nói trực tiếp rằng quê hương “đẹp”, “đáng yêu” mà để người đọc tự cảm nhận vẻ đẹp ấy qua những hoạt động rất đỗi bình thường.

Thiên nhiên trong bài thơ được cảm nhận bằng tất cả sự say mê:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

Từ “lồng lộng” gợi một bầu trời rộng đến choáng ngợp. Gió, mây, tre, nắng cùng xuất hiện, tạo thành một không gian vừa có chiều cao vừa có chiều rộng, vừa có chuyển động vừa có âm thanh. Đặc biệt, “kẽo kẹt” là một từ tượng thanh giàu sức gợi. Người đọc có thể hình dung những thân tre đung đưa trong gió và nghe được âm thanh mộc mạc của làng quê. Còn hình ảnh “nắng đầy sân phơi” lại đem đến cảm giác ấm áp, no đủ. Nắng không còn chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà dường như trở thành một thứ tài sản được quê hương hào phóng ban tặng.

Bức tranh ấy càng trở nên sinh động khi muông vật xuất hiện:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Nhịp thơ lúc này trở nên nhẹ nhàng hơn. Chó mèo “quẩn chân người”, đàn vịt “thảnh thơi” bơi lội. Hai trạng thái ấy gợi một cuộc sống bình yên, gần gũi giữa người và vật. Cách nói “bơi thuyền” rất hóm hỉnh, biến đàn vịt thành những “người lái thuyền” tí hon trên mặt nước. Một chút nhân hóa đã làm cảnh vật trở nên có hồn, đồng thời bộc lộ rõ cách nhìn tinh nghịch của trẻ thơ.

Nhịp sống ấy tiếp tục được thu lại trong một góc vườn:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Hình ảnh gà mẹ và đàn gà con vốn quen thuộc đến mức có thể bắt gặp ở bất cứ làng quê nào. Thế nhưng dưới ngòi bút Vũ Xuân Quảng, nó lại trở thành một chi tiết có sức gợi. Từ “chiêm chiếp” vừa tạo âm thanh vừa gợi sự nhỏ bé, non nớt. Đàn gà con nối theo mẹ như một đoàn tàu nhỏ. Cảnh vật không hề tĩnh tại mà chuyển động liên tục, khiến quê hương giống như một cơ thể đang thở, đang sống. Đó là một thế giới bình dị nhưng giàu sức sống.

Đặc biệt, quê hương được nhìn qua những trò chơi của trẻ nhỏ:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Một ngày ở quê được mở ra theo trình tự thời gian: buổi trưa đi câu, buổi chiều thả diều. Cách tổ chức ấy khiến bài thơ giống như một cuốn phim ngắn ghi lại một ngày hè. Nhưng điều đáng quý nhất là từ “mải”. Đứa trẻ mải mê với niềm vui đến mức không để ý thời gian. Và khi chiều xuống, lũ trẻ lại “tranh nhau” thả diều. Cánh diều ở đây không chỉ là một món đồ chơi. Nó là biểu tượng của bầu trời tuổi thơ, của tự do và những ước mơ chưa bị cuộc sống giới hạn. Cánh diều bay lên cũng giống như niềm vui của trẻ nhỏ được thả vào khoảng trời rộng lớn của quê hương.

Thế nhưng, càng vui bao nhiêu, thời gian càng trôi nhanh bấy nhiêu:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Hai câu kết tạo nên một dư âm đặc biệt. Cách nói “ngắn tí teo” nghe rất trẻ con, còn “trôi vèo như không” lại chứa đựng một chút tiếc nuối. Một tháng vốn không phải khoảng thời gian ngắn, nhưng với một đứa trẻ đang sống trong niềm vui, nó bỗng trở nên ngắn ngủi. Ở đây, nhà thơ đã diễn tả rất tinh tế cảm nhận chủ quan về thời gian: thời gian không thay đổi, chỉ có cảm xúc của con người thay đổi. Khi vui, thời gian trôi nhanh; khi chia xa, những ngày đã qua mới càng trở nên quý giá.

Ẩn sau những hình ảnh vui chơi ấy là tình cảm gia đình và tình yêu quê hương. Hình ảnh người ông ở đầu bài tuy không xuất hiện xuyên suốt nhưng có ý nghĩa đặc biệt. Người ông đưa cháu về với quê, và chính quê hương lại đem đến cho cháu một tuổi thơ đầy ắp trải nghiệm. Có thể nói, tình thân và tình quê trong bài thơ hòa vào nhau một cách tự nhiên. Quê hương không chỉ là cảnh vật; quê hương còn là nơi có người thân, có tiếng gọi, có những ngày được sống thật chậm và thật vui.

Về nghệ thuật, Vũ Xuân Quảng đã lựa chọn một lối thơ giản dị nhưng giàu sức gợi. Hình ảnh thơ gần gũi, màu sắc tươi sáng, âm thanh phong phú. Các từ láy như “tít tắp”, “thênh thang”, “lồng lộng”, “kẽo kẹt”, “chiêm chiếp”, “tí teo”, “trôi vèo” vừa tạo nhạc điệu vừa góp phần thể hiện thế giới cảm xúc của trẻ thơ. Ngôn ngữ không cầu kỳ, nhưng chính sự tự nhiên ấy khiến bài thơ dễ đi vào lòng người. Đặc biệt, việc lựa chọn điểm nhìn của một đứa trẻ đã giúp những cảnh vật bình thường trở nên mới mẻ, đáng yêu.

“Về quê” vì thế giống như một lời thủ thỉ về những gì thân thương nhất. Bài thơ không ồn ào nói về tình yêu quê hương mà để tình cảm ấy lan ra từ màu xanh của đồng ruộng, tiếng tre, đàn gà, con vịt, quả ổi và cánh diều. Đọc xong bài thơ, ta hiểu rằng tuổi thơ đẹp không phải bởi nó có những điều lớn lao, mà bởi khi ấy con người biết vui với những điều rất nhỏ. Và quê hương đẹp cũng không phải vì quê hương hoàn hảo, mà vì nơi ấy có những ký ức không thể thay thế. Có lẽ bởi vậy, dù kỳ nghỉ chỉ “một tháng”, nhưng miền quê trong tâm hồn người cháu sẽ còn ở lại rất lâu – như một cánh diều đã khuất khỏi bầu trời mà sợi dây thương nhớ vẫn còn nối mãi với trái tim.

Bài tham khảo Mẫu 6

Nếu có ai hỏi quê hương bắt đầu từ đâu, có lẽ mỗi người sẽ có một câu trả lời khác nhau. Với người này, quê hương là dòng sông; với người khác, đó là mái nhà, con đường, cánh đồng hay tiếng gọi của người thân. Nhưng với trẻ thơ, quê hương đôi khi giản dị hơn rất nhiều: đó là một lần được trèo cây hái ổi, một buổi trưa đi câu, một chiều thả diều, một tiếng gà con chiêm chiếp hay một hàng tre nghiêng mình trong nắng. Những điều tưởng như vụn vặt ấy lại có khả năng neo giữ ký ức lâu bền nhất. Bởi thế, đọc “Về quê” của Vũ Xuân Quảng, ta không chỉ bắt gặp một bức tranh làng quê mùa hè mà còn bắt gặp cả một thế giới tuổi thơ đang ngân lên trong trẻo. Bài thơ không cầu kỳ về hình thức, không sử dụng những hình ảnh xa lạ, nhưng chính vẻ đẹp mộc mạc ấy lại tạo nên sức lay động sâu xa: quê hương hiện lên từ những gì gần gũi nhất, và tình yêu quê hương được hình thành từ những niềm vui bé nhỏ nhất.

Câu thơ mở đầu đã đặt người đọc vào một hành trình đầy háo hức:

“Theo ông, cháu được về quê
Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Hai chữ “về quê” vốn đã gợi một cảm giác đặc biệt. Người ta chỉ “về” nơi mình thuộc về. Vì thế, ngay cách lựa chọn động từ, nhà thơ đã khẳng định mối quan hệ sâu sắc giữa đứa trẻ và quê hương. Đáng chú ý, người cháu không trở về một mình mà “theo ông”. Hình ảnh ấy khiến câu thơ mang hơi ấm gia đình. Có lẽ tuổi thơ đẹp nhất khi bên cạnh những chuyến đi luôn có bóng dáng một người thân yêu. Người ông trở thành người dẫn đường, đưa cháu trở về không chỉ với một miền đất mà với cả nguồn cội của gia đình.

Trước mắt người cháu là “đồng xanh tít tắp”. Màu xanh của đồng quê vốn quen thuộc, nhưng từ “tít tắp” khiến cánh đồng như kéo dài đến vô tận. Sau cánh đồng là “mùa hè thênh thang” – một cách diễn đạt đầy chất thơ. “Thênh thang” vốn dùng để gợi không gian rộng rãi, nhưng ở đây lại được gắn với mùa hè, khiến thời gian cũng mang dáng dấp của không gian. Đó là một mùa hè rộng lớn, tự do, không bị bó hẹp. Có thể nói, ngay từ những câu đầu, nhà thơ đã dựng lên một quê hương vừa rộng mở vừa đầy sức sống, đúng với cảm nhận của một đứa trẻ đang bước vào những ngày nghỉ đáng mong chờ.

Sau cái nhìn bao quát, người cháu bắt đầu khám phá từng niềm vui cụ thể:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Điệp từ “được” khiến giọng thơ như một lời khoe đầy hạnh phúc. Quê hương có biết bao điều thú vị mà ở nơi khác không dễ tìm thấy. “Giếng làng” gợi một nét văn hóa quen thuộc của nông thôn Việt Nam; còn cây ổi với những quả “chín vàng” lại gợi hương vị của vườn quê. Nhưng điều khiến câu thơ trở nên đáng yêu nhất là động tác “bắc thang bẻ ổi”. Đứa trẻ không đứng ngoài quan sát mà chủ động hòa mình vào cảnh vật. Em chạm vào quê hương, chơi đùa với quê hương, thưởng thức thành quả từ khu vườn quê. Bởi vậy, tình yêu quê hương trong bài thơ không phải một lời tuyên bố mà là thứ tình cảm được hình thành từ trải nghiệm.

Thiên nhiên quê nhà tiếp tục hiện ra bằng sự kết hợp của trời, gió, mây, tre và nắng:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

Có thể xem đây là một trong những đoạn thơ giàu chất họa và chất nhạc nhất. “Lồng lộng” khiến bầu trời như mở rộng. “Kẽo kẹt” đưa âm thanh của tre vào câu thơ. “Nắng đầy sân phơi” lại đem đến một mảng ánh sáng ấm áp. Ba phương diện – không gian, âm thanh, ánh sáng – hòa vào nhau tạo nên một bức tranh quê có chiều sâu. Đặc biệt, hình ảnh “tre đu” khiến hàng tre như một sinh thể đang vui đùa trong gió. Quê hương không phải một bức tranh bất động mà là một thế giới đang rung động từng phút giây.

Nhịp sống ấy tiếp tục được nối dài bằng những con vật thân thuộc:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Những chú chó, chú mèo gần gũi đến mức “quẩn chân người”. Đàn vịt lại từng nhóm “thảnh thơi” trên mặt nước. Chỉ một từ “thảnh thơi”, nhà thơ đã gợi ra cả một trạng thái sống. Quê hương không có sự gấp gáp. Con người và muông vật đều được sống theo nhịp điệu tự nhiên của mình. Đáng yêu hơn, tác giả gọi hoạt động của đàn vịt là “bơi thuyền”, một cách nhân hóa hóm hỉnh khiến cảnh vật mang màu sắc trẻ thơ. Trong con mắt của đứa trẻ, mọi thứ đều có thể trở thành một trò chơi và mọi sự vật đều có câu chuyện riêng.

Ở góc vườn, một gia đình gà lại làm cho bức tranh thêm ấm áp:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Hình ảnh này gợi liên tưởng đến sự tiếp nối của sự sống. Gà mẹ chăm chỉ kiếm ăn, đàn gà con líu ríu theo sau. Từ tượng thanh “chiêm chiếp” làm câu thơ trở nên mềm mại, trong trẻo. Nếu tiếng tre tạo nên âm thanh của thiên nhiên thì tiếng gà con lại là âm thanh của sự sống. Quê hương trong bài thơ vì vậy không chỉ đẹp mà còn đầy sinh khí.

Tuy nhiên, tâm điểm của bức tranh vẫn là con người – những đứa trẻ đang tận hưởng kỳ nghỉ:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Một ngày hè được tái hiện qua hai hoạt động rất đỗi dân dã: câu cá và thả diều. Từ “mải” diễn tả trạng thái say mê đến quên cả thời gian. Còn “tranh nhau” gợi tiếng cười và sự náo nhiệt của những người bạn nhỏ. Đặc biệt, hình ảnh cánh diều gắn với buổi chiều có sức gợi rất lớn. Cánh diều bay lên không chỉ mang theo trò chơi mà còn mang theo khát vọng tự do của tuổi nhỏ. Trên cánh đồng quê, đứa trẻ được sống đúng với tuổi của mình: chạy nhảy, vui chơi, khám phá và mơ ước.

Và rồi, sau một ngày tưởng như dài vô tận, người cháu bất chợt nhận ra:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Đây là đoạn kết có vẻ nghịch ngợm nhưng lại chứa đựng một tầng cảm xúc sâu sắc. “Tí teo”, “trôi vèo” đều là những từ ngữ rất gần với lời nói trẻ thơ. Nhưng phía sau sự hồn nhiên ấy là một nỗi tiếc nuối. Một tháng – khoảng thời gian vốn không ngắn – lại vụt qua như chưa từng tồn tại. Vì sao? Bởi khi người ta thực sự hạnh phúc, thời gian thường trở nên ngắn ngủi. Câu thơ khiến người đọc chợt nhận ra sự quý giá của những ngày bình thường. Có những ngày khi đang sống ta không thấy đặc biệt, nhưng khi chúng đi qua, ta mới hiểu mình đã từng hạnh phúc biết bao.

Bài thơ còn đáng nhớ bởi nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình và âm thanh. Những từ láy như “tít tắp”, “thênh thang”, “lồng lộng”, “kẽo kẹt”, “thảnh thơi”, “chiêm chiếp”, “tí teo”, “trôi vèo” tạo nên nhịp điệu tự nhiên, vui tươi. Hình ảnh thơ được lựa chọn từ đời sống thường ngày nên không hề xa cách. Đặc biệt, việc sử dụng điểm nhìn trẻ thơ đã làm cho cảnh vật trở nên sinh động hơn. Nhà thơ không đứng ngoài để miêu tả quê hương mà dường như bước vào chính thế giới của đứa trẻ, cùng nhìn, cùng chơi và cùng vui với nhân vật.

Đọc “Về quê”, điều đọng lại sâu sắc nhất có lẽ không chỉ là một miền quê xanh mướt mà là quan niệm đẹp về hạnh phúc. Hạnh phúc đôi khi không nằm ở những điều lớn lao. Nó có thể là được trở về, được ở bên ông, được tắm giếng làng, hái quả trong vườn, nghe tiếng tre, nhìn đàn gà, đi câu và thả một cánh diều giữa trời xanh. Những điều ấy nhỏ bé nhưng khi kết hợp lại, chúng tạo nên một tuổi thơ không gì thay thế được.

Bởi vậy, “Về quê” giống như một lời nhắc nhở dịu dàng đối với mỗi người: hãy biết yêu những gì thân thuộc khi còn có thể. Bởi cánh đồng rồi sẽ thay đổi, cây ổi rồi sẽ già, những buổi chiều thả diều rồi sẽ trở thành ký ức, còn kỳ nghỉ “một tháng” cũng sẽ “trôi vèo như không”. Nhưng những gì quê hương gieo vào tâm hồn con người thì có thể ở lại mãi. Đó là tình yêu gia đình, tình yêu quê xứ và niềm thương nhớ đối với một thời tuổi nhỏ. Qua bài thơ, Vũ Xuân Quảng đã biến những điều bình dị thành thơ, biến một kỳ nghỉ hè thành ký ức, và biến quê hương thành một miền sáng trong tâm hồn mà mỗi khi nhớ về, lòng người lại thấy dịu dàng.

Bài tham khảo Mẫu 7

Giữa những xô bồ, tấp nập của dòng đời hối hả, tâm hồn con người ta đôi khi lại khao khát được tìm về một chốn bình yên, nơi có tiếng gió thì thầm qua rặng tre và hương lúa mới ngọt ngào ôm ấp. Bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng tựa như một nốt trầm trong trẻo, đưa ta bước vào một thế giới ngập tràn ánh sáng, màu sắc và sự thanh thản nguyên sơ. Tác phẩm là bức tranh thiên nhiên làng quê khoáng đạt, nên thơ, nơi mỗi ngọn cỏ,ành cây đều rung rinh nhịp đập của tình yêu thương và sự tự do.

Mở đầu bài thơ, không gian làng quê hiện lên thật rộng lớn, mở ra trước mắt đứa cháu nhỏ cả một chân trời ngút ngàn, khoáng đạt:

"Theo ông, cháu được về quê 

Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang"

Hai tiếng "thênh thang" kết hợp cùng hình ảnh "đồng xanh tít tắp" vẽ nên một bầu trời sum vầy và rộng mở. Đó không còn là không gian chật hẹp của phố thị với những khối bê tông lạnh giá, mà là thế giới của gió mây, của sự bao dung, nơi cánh cửa tâm hồn đứa trẻ được bung nở trong niềm háo hức diệu kỳ. Khung cảnh ấy càng trở nên đong đầy chất thơ qua những nét vẽ tinh tế của thiên nhiên:

"Trời cho lồng lộng gió mây

 Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi"

Bầu trời cao vời vợi "lồng lộng gió mây" giao hòa cùng tiếng tre reo "kẽo kẹt" như một khúc nhạc êm đềm của đất trời. Ánh nắng vàng rực rỡ trải dài khắp sân phơi, sưởi ấm từng ngóc ngách của làng quê nghèo mà tình nghĩa. Thiên nhiên trong thơ Vũ Xuân Quảng không vô tri, vô giác mà như có hồn, biết ôm ấp, chở che và vỗ về những bước chân lữ khách tìm về với cội nguồn.

Khép lại những vần thơ đượm buồn thương và dịu ngọt ấy, dư vị của thiên nhiên khoáng đạt vẫn vương vấn mãi trong tâm hồn người đọc. "Về quê" chính là chốn trú ẩn bình yên nhất của những tâm hồn khao khát được trở về với vẻ đẹp nguyên thủy, mộc mạc và thơ mộng của quê hương xứ sở.

Bài tham khảo Mẫu 8

Thơ ca chỉ thực sự chạm đến cõi sâu kín của trái tim khi nó ngân lên những âm thanh trong trẻo của ký ức và tình yêu. Với bài thơ "Về quê", nhà thơ Vũ Xuân Quảng đã khéo léo dệt nên một tấm thảm tuổi thơ rực rỡ sắc màu, nơi có tiếng cười ròn tan, có sự quấn quýt của muôn loài và trên hết là cái tình quê nồng hậu, thiết tha. Tác phẩm là một miền cổ tích giữa đời thực, đưa ta trôi về những năm tháng hồn nhiên, tươi đẹp nhất của cuộc đời.

Bước vào thế giới của tuổi thơ, từng trang thơ mở ra những trải nghiệm vô giá mà chỉ ở làng quê mới có được:

"Về quê được tắm giếng làng Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây" [...] Buổi trưa cháu mải đi câu Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều."

Được vùng vẫy trong làn nước giếng mát rượi, với tay hái những quả ổi chín vàng ngọt lịm, hay mải miết cùng bạn bè câu cá, thả diều... tất cả tạo nên một bức tranh sinh hoạt thanh bình đến lạ. Những trò chơi dân dã ấy không chỉ mang lại niềm vui sướng tột cùng cho đứa trẻ, mà còn lưu giữ hương vị ngọt ngào của một thời để nhớ.

Không chỉ rộn rã tiếng cười của con người, bức tranh thôn quê ấy còn trở nên sinh động và nên thơ bội phần nhờ sự hiện diện đáng yêu của thế giới loài vật:

"Chó mèo cứ quẩn chân người Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền Vườn sau, gà bới giun lên Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau"

Bằng sự quan sát tinh tế cùng ngòi bút nhân hóa đầy yêu thương, tác giả đã thổi hồn vào từng hình ảnh quen thuộc. Chó mèo quấn quýt, vịt bầu thảnh thơi bơi lội, đàn gà mẹ dắt con kiếm ăn dưới tán lá vườn sau... tất cả quyện hòa vào nhau tạo nên một nhịp sống hiền hòa, bình dị, nơi con người và thiên nhiên sống trong sự gắn kết bền chặt, yêu thương.

Bài thơ "Về quê" vì thế không chỉ là một bức tranh phong cảnh, mà còn là khúc ca tôn vinh vẻ đẹp của tình người, của cuộc sống thanh bình. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn giữ gìn và trân trọng những khoảng trời ký ức tuổi thơ tươi đẹp trong sâu thẳm tâm hồn.

Bài tham khảo Mẫu 9

Thơ ca hay nhất là khi nó chạm tới nỗi niềm tiếc nuối mong manh của con người trước sự hữu hạn của thời gian. Đọc bài thơ "Về quê" của nhà thơ Vũ Xuân Quảng, ta không chỉ đắm chìm trong cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng hay niềm vui hồn nhiên của tuổi thơ, mà còn phải lặng người trước hai câu thơ kết đầy thổn thức. Nơi ấy đọng lại một triết lý dung dị nhưng sâu sắc về tình yêu quê hương và quy luật nghiệt ngã mà ngọt ngào của thời gian.

Sau những ngày tháng thả hồn mình vào không gian khoáng đạt và tận hưởng trọn vẹn niềm vui tuổi thơ, đứa cháu nhỏ chợt nhận ra một sự thật đầy ngậm ngùi:

"Ở quê, ngày ngắn tí teo Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không."

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật phóng đại vô cùng đắt giá qua các hình ảnh "ngày ngắn tí teo" và "trôi vèo như không". Thời gian ở đây không còn được đo đếm bằng kim đồng hồ khô khan, mà được định lượng bằng biên độ của hạnh phúc. Khi tâm hồn con người được sống trong sự tự do, trong vòng tay yêu thương của ông và sự vỗ về của thiên nhiên, thời gian bỗng chốc co lại, bay đi vèo vạt trong sự tiếc nuối ngập tràn.

Sự ngắn ngủi ấy không làm cho bài thơ chùng xuống, trái lại, nó làm bật lên một cách cảm động tình yêu thiết tha của đứa trẻ đối với chốn bình yên này. Quê hương không chỉ là một không gian địa lý, mà đã hóa thành một chốn tâm linh, một nguồn cội nuôi dưỡng tâm hồn. Nỗi niềm tiếc nuối ấy cũng chính là nỗi lòng chung của bất kỳ ai khi phải rời xa chốn thanh bình để trở về với nhịp sống bận rộn, lo toan của cuộc đời.Khép lại bài thơ "Về quê", dư âm của tiếng tre kẽo kẹt, của cánh đồng xanh thênh thang và cả nỗi buồn man mác trong hai câu kết vẫn ngân vang trong lòng người đọc. Tác phẩm như một lời thì thầm dịu ngọt, nhắc nhở ta biết nâng niu những khoảnh khắc bình dị và luôn hướng về cội nguồn với tất cả tấm lòng thành kính, thiết tha.

Bài tham khảo Mẫu 10

Có những miền đất không cần gọi tên vẫn khiến lòng người rung động. Có những hình ảnh rất đỗi bình thường – một giếng làng, một cây ổi, hàng tre, đàn gà, cánh diều – nhưng chỉ cần bắt gặp lại trong ký ức, cả một khoảng trời tuổi nhỏ bỗng hiện về nguyên vẹn. Quê hương có lẽ không bắt đầu từ những điều lớn lao. Quê hương được tạo nên từ những gì ta từng chạm vào, từng nghe thấy, từng vui chơi và từng yêu thương. Bởi thế, thơ viết về quê hương thường có sức lay động đặc biệt: càng giản dị càng dễ chạm đến nơi sâu nhất của tâm hồn. Với bài thơ “Về quê”, Vũ Xuân Quảng đã không dựng lên một miền quê bằng những hình ảnh tráng lệ mà bằng những mảnh đời sống thân thuộc. Qua cái nhìn hồn nhiên của người cháu trong những ngày nghỉ hè, quê hương hiện ra khoáng đạt, trong lành, tràn đầy sức sống; đồng thời, bài thơ còn kín đáo nâng niu tình ông cháu, tình quê và vẻ đẹp không thể thay thế của tuổi thơ.

Hai câu thơ đầu tiên giống như một cánh cửa mở ra trước mắt người đọc:

“Theo ông, cháu được về quê
Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Câu thơ “Theo ông, cháu được về quê” có cách diễn đạt rất tự nhiên, gần với lời kể của một đứa trẻ. Nhưng phía sau sự hồn nhiên ấy là một ý nghĩa tình cảm sâu xa. Đứa cháu không chỉ “đến” quê mà là “về” quê. Chỉ một chữ “về” đã gợi cảm giác quê hương là nơi thuộc về, nơi có cội nguồn và những người thân yêu đang chờ đợi. Hình ảnh người ông xuất hiện ngay đầu bài như một điểm tựa ấm áp. Ông là người đưa cháu trở về với quê, với gia đình, với một không gian tuổi thơ rộng mở.

Trong cảm nhận của đứa trẻ, quê hương trước hết là một không gian rộng đến vô cùng. “Đồng xanh tít tắp” gợi sắc xanh trải dài tận chân trời, còn “mùa hè thênh thang” khiến thời gian như được mở rộng thành một khoảng trời tự do. Hai từ láy “tít tắp”, “thênh thang” không chỉ tạo hình mà còn biểu đạt tâm trạng. Một đứa trẻ được trở về quê luôn có cảm giác mọi thứ ở đó rộng hơn, đẹp hơn, tự do hơn. Cánh đồng không còn đơn thuần là ruộng lúa; nó trở thành nơi có thể chạy nhảy, khám phá và gửi vào đó những giấc mơ đầu đời.

Từ không gian lớn lao ấy, nhà thơ đưa người đọc trở về với những niềm vui nhỏ bé:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Điệp từ “được” khiến câu thơ như một tiếng reo. Người cháu dường như đang lần lượt kể ra những “đặc sản” của quê hương mà mình mong chờ. Đó không phải những món quà đắt giá, mà là “giếng làng”, là “ổi chín vàng”. Với người lớn, những điều ấy có thể rất bình thường; với trẻ thơ, chúng lại là cả một thế giới kỳ thú.

Đặc biệt, hình ảnh “bắc thang bẻ ổi” mang vẻ tinh nghịch rất đáng yêu. Đứa trẻ không đứng ngoài ngắm nhìn cây trái mà trực tiếp trèo lên, hái quả, hòa mình vào khu vườn. Chính sự chủ động ấy khiến tình yêu quê hương trở nên chân thực. Đứa trẻ yêu quê không phải vì được nghe người lớn giảng về quê hương mà vì nó đã thực sự sống trong quê hương, đã có những trải nghiệm của riêng mình.

Nếu những câu thơ trên nghiêng về cảm giác và màu sắc thì đến:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

quê hương được cảm nhận bằng cả không gian, âm thanh và ánh sáng. Từ “lồng lộng” mở ra một bầu trời khoáng đạt. “Gió mây” như được tự do chuyển động giữa khoảng trời rộng. Hàng tre lại “kẽo kẹt” trong gió, tạo nên một âm thanh đặc trưng của làng quê. Và rồi “nắng đầy sân phơi” – một hình ảnh rất đời thường nhưng gợi cảm giác ấm áp, sung túc.

Điều đáng quý là Vũ Xuân Quảng không cố làm cho quê hương trở nên đẹp bằng những mỹ từ cầu kỳ. Nhà thơ chỉ lựa chọn những gì vốn có trong đời sống. Chính vì thế, vẻ đẹp của quê hương trong bài thơ mang tính chân thực và gần gũi. Đó là vẻ đẹp mà người đọc có thể bắt gặp trong ký ức của chính mình.

Bức tranh quê tiếp tục chuyển động với sự xuất hiện của muông vật:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Chó mèo “quẩn chân người” gợi sự gần gũi, thân thuộc. Đàn vịt lại “thảnh thơi”, thong dong trên mặt nước. Cách nói “bơi thuyền” là một nét nhân hóa hóm hỉnh. Dưới con mắt trẻ thơ, đàn vịt như những chiếc thuyền nhỏ đang thong dong trên mặt nước. Nhịp sống quê vì vậy hiện lên thật bình yên: không chen lấn, không vội vã, mọi sự vật đều tồn tại trong một nhịp điệu tự nhiên.

Trong “vườn sau”, sự sống được thu nhỏ lại qua hình ảnh đàn gà:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Từ tượng thanh “chiêm chiếp” khiến câu thơ như vang lên một âm thanh trong trẻo. Gà mẹ kiếm ăn, đàn con nối bước theo sau – một cảnh tượng đơn sơ nhưng chứa đựng vẻ ấm áp của sự sống. Có thể nói, nhà thơ đã nhìn quê hương bằng một đôi mắt rất tinh. Ông không bỏ qua những điều nhỏ nhất. Bởi trong thế giới trẻ thơ, một đàn gà cũng có thể trở thành một niềm vui lớn.

Sau tất cả những cảnh vật ấy, con người xuất hiện trong những hoạt động vui chơi:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Nhịp sống một ngày hè được tái hiện theo trình tự thời gian. Buổi trưa đi câu, chiều đến thả diều. Hai trò chơi dân dã ấy đã gợi lại một tuổi thơ rất khác: một tuổi thơ được sống giữa thiên nhiên, được tự do chạy nhảy, được kết bạn và được khám phá thế giới bằng chính đôi chân của mình.

Từ “mải” đặc biệt có sức gợi. Đứa trẻ “mải” đi câu nghĩa là nó say mê đến quên cả thời gian. Còn “tranh nhau” lại gợi sự náo nhiệt, vui vẻ của đám trẻ. Không gian quê hương lúc này không còn chỉ có cảnh vật mà đã tràn ngập tiếng cười. Cánh diều bay lên giữa bầu trời cũng giống như niềm vui tuổi nhỏ đang được thả vào khoảng không vô tận.

Nhưng rồi, chính khi niềm vui đang đầy nhất, thời gian lại vụt qua:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Hai câu thơ kết tưởng như chỉ là lời nhận xét ngây thơ nhưng lại là nơi cảm xúc lắng sâu nhất. “Ngày ngắn tí teo” là cách nói mang đậm tâm hồn trẻ nhỏ. Còn “trôi vèo như không” chứa trong đó một chút tiếc nuối. Một tháng nghỉ hè vốn không ngắn, nhưng vì những ngày ở quê quá vui nên nó dường như chưa kịp bắt đầu đã kết thúc.

Ở đây, nhà thơ đã chạm đến một quy luật rất đẹp của tâm hồn: hạnh phúc thường khiến thời gian trôi nhanh. Khi ta đang sống trong một khoảnh khắc đẹp, ta không nhận ra giá trị của nó; chỉ đến khi khoảnh khắc ấy qua đi, ta mới muốn níu giữ. Bởi vậy, câu kết không chỉ khép lại bài thơ mà còn mở ra một khoảng lặng. Người đọc có thể hình dung sau kỳ nghỉ, đứa cháu sẽ trở lại nơi mình sống, còn cánh đồng, cây ổi, hàng tre, đàn gà và cánh diều sẽ trở thành ký ức.

Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật ở ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, giàu tính khẩu ngữ và phù hợp với điểm nhìn trẻ thơ. Hệ thống từ láy như “tít tắp”, “thênh thang”, “lồng lộng”, “kẽo kẹt”, “thảnh thơi”, “chiêm chiếp”, “tí teo”, “trôi vèo” tạo nên một nhạc điệu vui tươi, trong trẻo. Các hình ảnh được lựa chọn đều gần gũi với đời sống nông thôn. Đặc biệt, nhà thơ sử dụng nhiều động từ như “tắm”, “bắc”, “bẻ”, “đu”, “bới”, “đi câu”, “thả diều”, khiến bức tranh quê luôn vận động.

Điều sâu sắc nhất mà bài thơ đem lại có lẽ nằm ở cách Vũ Xuân Quảng nhìn quê hương từ tuổi thơ. Quê hương không phải một khái niệm trừu tượng. Nó được tạo nên bởi những điều rất cụ thể: một người ông, một giếng làng, một cây ổi, một hàng tre, một đàn gà, một cánh diều. Chính những điều nhỏ bé ấy đã âm thầm nuôi dưỡng tình yêu quê hương trong mỗi con người.

“Về quê” vì thế giống như một chiếc hộp ký ức được mở ra bằng tiếng cười trẻ nhỏ. Đọc bài thơ, ta không chỉ nhìn thấy một miền quê mùa hè mà còn nhìn thấy chính tuổi thơ của mình đâu đó trong màu xanh của đồng ruộng, trong tiếng tre kẽo kẹt và trong những cánh diều bay mãi. Có những kỳ nghỉ rồi sẽ kết thúc, có những đứa trẻ rồi sẽ lớn lên, nhưng những gì quê hương từng gieo vào trái tim sẽ không dễ mất đi. Bởi quê hương, sau cùng, không chỉ là nơi ta sinh ra hay trở về; đó còn là nơi cất giữ phần trong trẻo nhất của tâm hồn mỗi người.

Bài tham khảo Mẫu 11

Trong ký ức của mỗi người, có lẽ luôn tồn tại một mùa hè không thể gọi tên bằng năm tháng. Đó là mùa hè của những buổi trưa dài, những chiều đầy gió, những trò chơi không cần đến bất cứ thiết bị hiện đại nào. Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ những ngày ấy sẽ kéo dài mãi. Nhưng rồi một ngày, kỳ nghỉ kết thúc, ta trở lại với những con đường quen thuộc của cuộc sống thường nhật và bất chợt nhận ra: điều mình vừa đánh mất không phải chỉ là một kỳ nghỉ, mà là một phần của tuổi thơ. Bài thơ “Về quê” của Vũ Xuân Quảng đã nắm bắt được chính khoảnh khắc ấy. Bằng giọng thơ trong sáng, tự nhiên, tác giả kể về những ngày một người cháu được theo ông về quê, nhưng từ câu chuyện nhỏ ấy lại mở ra một thế giới lớn lao: thế giới của tình thân, của quê hương và của những năm tháng tuổi nhỏ vô tư.

Điểm đặc biệt của bài thơ là nhà thơ không bắt đầu bằng một lời ca ngợi quê hương. Ông bắt đầu bằng một hành động:

“Theo ông, cháu được về quê”

Câu thơ có vẻ như một lời kể đơn sơ, nhưng chữ “được” lại chứa đựng niềm vui rất rõ. Được về quê là một điều đáng mong đợi. Và việc đi cùng “ông” khiến chuyến về càng trở nên ý nghĩa. Đằng sau hình ảnh ngắn gọn ấy là tình cảm gia đình. Người ông như một người dẫn đường đưa đứa trẻ về với một thế giới vừa quen vừa lạ, nơi những điều giản dị bỗng trở nên hấp dẫn.

Ngay sau đó, không gian mở ra:

“Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Hai hình ảnh “đồng xanh” và “mùa hè” được đặt cạnh những từ láy giàu sức gợi. “Tít tắp” khiến cánh đồng kéo dài đến tận chân trời; “thênh thang” khiến mùa hè như không có giới hạn. Đó là cảm giác rất đặc trưng của trẻ thơ: khi được rời khỏi những không gian quen thuộc, thế giới dường như rộng hơn rất nhiều. Cánh đồng không chỉ là nơi trồng lúa, mà trở thành khoảng trời tự do. Mùa hè không chỉ là một mùa trong năm, mà là khoảng thời gian để sống hết mình với những điều mình yêu thích.

Và thế giới ấy nhanh chóng được lấp đầy bởi những trải nghiệm:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Nếu câu đầu tiên mở ra không gian thì hai câu này mở ra cảm giác. Có nước giếng mát, có quả ổi chín, có niềm vui được trèo cây hái quả. Nhà thơ không hề miêu tả dài dòng nhưng người đọc vẫn có thể hình dung được cả một buổi hè. Hình ảnh “giếng làng” gợi một nét văn hóa lâu đời của nông thôn. Còn “ổi chín vàng” đem đến sắc màu và hương vị. Cụm từ “bắc thang bẻ ổi” lại mang đến chuyển động và sự tinh nghịch.

Những điều ấy có ý nghĩa bởi chúng được nhìn qua đôi mắt trẻ thơ. Với trẻ nhỏ, quê hương không cần phải có những công trình kỳ vĩ. Một cây ổi cũng đủ hấp dẫn. Một giếng nước cũng đủ khiến mùa hè trở nên đáng nhớ. Một bầu trời rộng cũng đủ cho những giấc mơ bay xa.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục được mở rộng:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

Ở đây, cảnh quê được cảm nhận bằng nhiều giác quan. “Lồng lộng” là cảm giác về không gian; “kẽo kẹt” là âm thanh; “nắng đầy sân phơi” là ánh sáng. Cả ba hòa vào nhau khiến bức tranh trở nên sống động. Hàng tre không đứng yên mà “đu” trong gió. Sân phơi không chỉ có nắng mà như được nắng lấp đầy.

Cụm từ “Trời cho” cũng rất đáng chú ý. Thiên nhiên hiện lên như một món quà. Quê hương dường như hào phóng trao cho đứa trẻ bầu trời, gió, mây và nắng. Cảm giác ấy khiến bài thơ mang một sắc thái biết ơn dù tác giả không trực tiếp nói đến lòng biết ơn. Đứa trẻ chỉ vui chơi, nhưng người đọc trưởng thành lại nhận ra giá trị của một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên.

Quê hương không chỉ có cây cối mà còn có cả một cộng đồng sinh linh:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Hai câu thơ tạo nên một nhịp sống thật thanh bình. Chó mèo “quẩn chân người”, nghĩa là khoảng cách giữa con người và vật nuôi gần như không tồn tại. Đàn vịt lại thong thả trên mặt nước. Từ “thảnh thơi” như một nhịp thở chậm, đối lập với sự vội vàng của đời sống hiện đại. Cách nói “bơi thuyền” khiến đàn vịt trở thành những nhân vật nhỏ trong thế giới tưởng tượng của trẻ thơ. Nhờ vậy, cảnh quê không chỉ đẹp mà còn có nét ngộ nghĩnh, đáng yêu.

Sau đó, nhà thơ đưa người đọc vào “vườn sau”:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Một không gian nhỏ nhưng lại chứa đựng cả một câu chuyện. Gà mẹ kiếm ăn, gà con nối đuôi theo mẹ. Từ “chiêm chiếp” làm âm thanh của đàn gà con hiện lên rõ ràng. Cảnh vật quê hương vì thế có cả sự sống của một gia đình nhỏ. Đó cũng là điểm khiến bài thơ trở nên ấm áp: thiên nhiên và con người không tách rời nhau, tất cả cùng tồn tại trong một không gian thân thuộc.

Nhưng nếu chỉ có cảnh vật, bài thơ sẽ chưa thể trở thành một bức tranh tuổi thơ hoàn chỉnh. Chính những đứa trẻ mới là người làm cho quê hương thực sự cất tiếng cười:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Hai câu thơ như ghi lại nhịp vận động của một ngày. Trưa đi câu, chiều thả diều. Những trò chơi ấy đều mang dấu ấn của làng quê. Không gian chơi không bị giới hạn bởi bốn bức tường; nó trải dài ra đồng ruộng, mặt nước và bầu trời.

Từ “mải” cho thấy sự say mê. Đứa trẻ chìm vào trò chơi đến mức quên thời gian. Còn “tranh nhau” không mang ý nghĩa xung đột mà gợi một sự náo nhiệt hồn nhiên. Lũ trẻ cùng chạy, cùng cười, cùng giành lấy niềm vui. Và khi cánh diều bay lên, tuổi thơ dường như cũng được nâng lên theo. Cánh diều là một hình ảnh giàu tính biểu tượng: nó đại diện cho tự do, cho trí tưởng tượng và cho những ước mơ còn chưa bị cuộc đời làm cho chật hẹp.

Thế rồi bài thơ kết thúc bằng một nghịch lý về thời gian:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Đây là nơi giọng thơ bỗng chuyển từ vui tươi sang man mác. “Tí teo”, “trôi vèo” vẫn là cách nói hồn nhiên, nhưng cảm xúc bên trong đã khác. Người cháu tiếc kỳ nghỉ. Một tháng đã trôi qua nhanh đến mức gần như không cảm nhận được. Câu thơ khiến người đọc trưởng thành có thể bắt gặp một trải nghiệm rất quen: những điều khiến ta hạnh phúc thường qua đi quá nhanh.

Thời gian trong bài thơ vì thế không còn là thời gian khách quan mà là thời gian của cảm xúc. Một ngày ở quê có thể ngắn vì nó đầy ắp niềm vui. Một tháng có thể “trôi vèo” vì mỗi khoảnh khắc đều đáng nhớ. Càng hạnh phúc, con người càng muốn níu giữ thời gian; nhưng thời gian lại là thứ không thể níu giữ. Chính điều ấy khiến những ngày thơ bé trở nên quý giá.

Bài thơ thành công còn nhờ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ gần với lời nói đời thường. Những từ láy giàu âm thanh và hình ảnh tạo nên nhịp thơ tự nhiên. Các động từ được sử dụng liên tục khiến bức tranh luôn vận động. Nhà thơ không đứng ngoài quan sát mà lựa chọn điểm nhìn của một đứa trẻ, vì vậy cảnh vật được cảm nhận bằng sự tò mò, thích thú và hồn nhiên. Đó cũng là lý do những hình ảnh rất quen thuộc vẫn có thể khiến người đọc rung động.

Sâu xa hơn, “Về quê” là bài thơ về sự hình thành của tình yêu quê hương. Tình yêu ấy không xuất hiện bằng những lời tuyên ngôn. Nó được nuôi dưỡng từ một lần theo ông về quê, một lần tắm giếng làng, một lần hái ổi, một buổi đi câu, một chiều thả diều. Quê hương đi vào tâm hồn con người bằng những trải nghiệm nhỏ bé như thế.

Và có lẽ điều đẹp nhất của bài thơ chính là sự chân thành. Vũ Xuân Quảng không cố làm cho quê hương trở nên lý tưởng hóa. Quê hương chỉ có đồng xanh, cây ổi, hàng tre, sân phơi, chó mèo, đàn vịt, đàn gà và lũ trẻ. Nhưng chính những điều ấy đã tạo nên một thế giới đủ đầy đối với một đứa trẻ. Đọc bài thơ, ta hiểu rằng điều làm một miền đất trở thành quê hương không nằm ở vẻ hào nhoáng, mà nằm ở lượng ký ức ta đã gửi lại nơi đó.

“Về quê” vì thế không chỉ là câu chuyện của một đứa trẻ trong kỳ nghỉ hè. Đó còn là lời nhắc nhở đối với những người đã lớn: hãy biết trân trọng những ngày bình dị khi chúng còn ở bên ta. Bởi một ngày nào đó, ta sẽ không còn được trèo cây hái ổi, không còn chạy theo cánh diều, không còn nghe tiếng gà con chiêm chiếp sau vườn. Khi ấy, những điều từng rất bình thường sẽ trở thành báu vật của ký ức. Và quê hương sẽ hiện về, không ồn ào, không rực rỡ, chỉ bằng một tiếng gọi rất khẽ: về quê.

Bài tham khảo Mẫu 12

Có lẽ trong đời người, điều khó giữ nhất không phải là một món đồ quý, cũng không phải một khoảnh khắc đẹp, mà là thời gian của tuổi thơ. Những ngày tháng ấy đi qua nhẹ đến mức khi đang sống trong đó, ta không biết mình đang có một điều quý giá. Chỉ đến khi trưởng thành, ngoảnh lại, ta mới nhận ra những buổi chiều chạy trên đồng, những lần trèo cây hái quả, những tiếng gà con sau vườn hay những cánh diều cuối ngày đã trở thành một phần không thể xóa khỏi ký ức. Bài thơ “Về quê” của Vũ Xuân Quảng gợi lại miền ký ức ấy bằng một giọng thơ hồn nhiên, giàu hình ảnh và âm thanh. Từ câu chuyện một người cháu theo ông về quê, tác giả đã làm hiện lên một thế giới bình dị mà giàu sức sống, đồng thời gửi vào đó tình yêu quê hương, tình thân và một suy ngẫm rất đẹp: hạnh phúc nhiều khi nằm ngay trong những điều bình thường mà ta dễ vô tình bỏ quên.

Câu mở đầu của bài thơ mang vẻ đẹp của một lời kể:

“Theo ông, cháu được về quê”

Không có những từ ngữ cầu kỳ, nhưng câu thơ vẫn gợi được niềm vui. Từ “được” thể hiện rõ tâm trạng háo hức của đứa cháu. Đó là một sự chờ đợi được đáp lại. Đặc biệt, hình ảnh “ông” xuất hiện ngay từ đầu khiến chuyến về quê mang thêm chiều sâu tình cảm. Người cháu trở về không đơn độc mà có ông bên cạnh. Có thể nói, quê hương trong bài thơ được mở ra từ tình thân. Đứa trẻ đến với quê trước hết bằng bàn tay và bước chân của người ông.

Ngay sau đó là một không gian rộng mở:

“Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Hai từ “tít tắp” và “thênh thang” khiến quê hương hiện ra như một miền không có giới hạn. Cánh đồng trải dài đến tận chân trời, mùa hè mở rộng như một khoảng trời tự do. Đây không chỉ là cách miêu tả cảnh vật mà còn là cách diễn tả tâm trạng. Khi lòng người vui, cảnh vật trước mắt cũng trở nên rộng hơn, trong hơn, đẹp hơn. Với đứa trẻ, quê hương chính là nơi thế giới được mở rộng và mọi điều đều có thể trở thành một cuộc khám phá.

Nhưng điều thú vị là nhà thơ không để cái rộng lớn ấy làm mất đi sự gần gũi. Từ cánh đồng, ánh nhìn lập tức dừng ở một giếng nước và một cây ổi:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Quê hương ở đây được cảm nhận bằng cơ thể. Đứa trẻ được tắm nước giếng, được trèo cây, được hái quả. Đó là những trải nghiệm trực tiếp chứ không phải những hình ảnh chỉ để ngắm nhìn. Cụm từ “giếng làng” gợi không gian văn hóa cộng đồng, nơi những con người trong làng từng gặp gỡ và gắn bó. Còn “ổi chín vàng” đem đến một sắc màu và vị ngọt rất riêng của vườn quê.

Động tác “bắc thang bẻ ổi” còn khiến nhân vật người cháu hiện lên rất rõ: một đứa trẻ hiếu động, tò mò, thích khám phá. Chính những hoạt động ấy làm cho quê hương trở thành một phần của tuổi thơ. Người cháu không chỉ nhìn quê mà đang sống trong quê.

Sau những trải nghiệm gần gũi là sự mở rộng của thiên nhiên:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

Câu thơ “Trời cho lồng lộng gió mây” đem lại cảm giác quê hương như một món quà của tự nhiên. Bầu trời rộng, gió nhiều, mây trôi, không gian không bị chia cắt. Hình ảnh ấy đặc biệt phù hợp với tâm hồn trẻ nhỏ: tự do, phóng khoáng, luôn muốn chạy thật xa và nhìn thật rộng.

Nếu “lồng lộng” gợi không gian thì “kẽo kẹt” lại đem đến âm thanh. Hàng tre không chỉ được nhìn thấy mà còn được nghe thấy. Đó là thứ âm thanh bình dị nhưng có sức đánh thức ký ức. Sau âm thanh ấy là “nắng đầy sân phơi” – một hình ảnh rất Việt Nam, gợi sự cần cù, đời sống gia đình và hơi ấm của quê nhà. Chỉ bằng vài chi tiết, tác giả đã làm hiện lên cả một nhịp sống.

Nhịp sống ấy tiếp tục được thể hiện qua những con vật:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Câu thơ có nét dí dỏm. Chó mèo “quẩn chân người” khiến không gian gia đình trở nên thân mật. Đàn vịt “thảnh thơi” lại tạo nên một nhịp điệu chậm rãi. Cách gọi “bơi thuyền” là một nét nhân hóa giàu chất trẻ thơ. Đàn vịt như những chiếc thuyền nhỏ trôi trên mặt nước. Qua đó, nhà thơ không chỉ miêu tả cảnh mà còn cho thấy cách nhìn thế giới của trẻ nhỏ: mọi sự vật đều có thể trở thành nhân vật trong một câu chuyện tưởng tượng.

Đến khu vườn, một âm thanh khác xuất hiện:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Từ tượng thanh “chiêm chiếp” làm câu thơ trở nên mềm và trong. Hình ảnh đàn gà con nối đuôi theo mẹ mang đến cảm giác yên bình, ấm áp. Nếu cánh đồng là không gian rộng lớn thì khu vườn là thế giới nhỏ bé của sự sống. Tác giả đã quan sát rất kỹ để đưa vào thơ những chi tiết tưởng chừng vụn vặt. Chính những chi tiết ấy lại làm cho bức tranh quê có chiều sâu.

Sau cảnh vật và muông thú, những đứa trẻ bước vào trung tâm của bức tranh:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Đây là những câu thơ đẹp bởi chúng chứa đựng nhịp sống của tuổi thơ. “Mải đi câu” là trạng thái quên mình trong niềm vui. “Tranh nhau thả diều” lại là tiếng cười của một nhóm bạn. Một ngày ở quê không có những chương trình giải trí cầu kỳ. Niềm vui đến từ những điều rất nhỏ: con cá, sợi dây, cánh diều và những người bạn cùng chạy trên đồng.

Cánh diều ở đây có thể được xem như hình ảnh kết tinh của tuổi thơ. Nó cần một bầu trời rộng, một khoảng đất trống và một đôi tay biết thả. Khi cánh diều bay lên, đứa trẻ cũng như được giải phóng khỏi mọi giới hạn. Nó có thể chạy, có thể cười, có thể ngước nhìn bầu trời và tưởng tượng về những điều xa xôi. Đó là thứ tự do trong trẻo mà chỉ tuổi thơ mới có.

Nhưng càng nhiều niềm vui, cảm giác thời gian trôi càng rõ:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Nếu những câu thơ trên là tiếng cười thì hai câu kết là một tiếng thở dài rất khẽ. “Tí teo” nghe thật hồn nhiên, còn “trôi vèo như không” lại gợi một chút tiếc nuối. Một tháng nghỉ hè đã vụt qua. Cái hay của câu thơ nằm ở sự đối lập: thời gian trên đồng hồ vẫn là một tháng, nhưng trong cảm nhận của đứa trẻ, nó chỉ như một khoảnh khắc.

Qua đó, bài thơ chạm đến một chân lý giản dị: thời gian được đo không chỉ bằng đồng hồ mà còn bằng cảm xúc của con người. Một ngày buồn có thể dài vô tận, nhưng một ngày hạnh phúc lại trôi qua trong chớp mắt. Vì vậy, câu kết tuy hóm hỉnh mà cũng khiến người đọc trưởng thành phải suy ngẫm. Có bao nhiêu “mùa hè” trong đời đã từng trôi qua nhanh như thế? Có bao nhiêu niềm vui ta từng xem là bình thường nhưng sau này mới hiểu rằng chúng quý giá đến nhường nào?

Đó cũng là giá trị sâu sắc của hình tượng quê hương trong bài thơ. Quê hương không chỉ là một địa danh. Quê hương là nơi gắn với thời gian của tuổi nhỏ. Những gì người cháu nhìn thấy, nghe thấy và trải nghiệm ở quê sẽ trở thành ký ức. Vì thế, khi lớn lên, điều khiến người ta nhớ quê có thể không phải là cánh đồng cụ thể hay cây ổi cụ thể, mà là cảm giác mình từng được sống vô tư ở đó.

Về nghệ thuật, bài thơ tạo ấn tượng bởi giọng điệu tự nhiên, trong sáng, phù hợp với tâm hồn trẻ thơ. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi; những từ láy được sử dụng khéo léo tạo nên cả hình ảnh lẫn âm thanh. Các động từ liên tiếp xuất hiện giúp cảnh vật luôn chuyển động: “tắm”, “bắc”, “bẻ”, “đu”, “bới”, “đi câu”, “thả diều”. Bên cạnh đó, phép nhân hóa trong hình ảnh “vịt bầu… bơi thuyền” khiến thế giới quê hương trở nên ngộ nghĩnh và sinh động. Đặc biệt, cách kết thúc bằng cảm nhận về thời gian khiến bài thơ vượt khỏi một bức tranh phong cảnh đơn thuần để trở thành một bài thơ về ký ức.

Có thể nói, điều đáng quý nhất trong “Về quê” là nhà thơ đã làm được một việc tưởng đơn giản nhưng không dễ: biến cái bình thường thành cái đáng nhớ. Một giếng làng, cây ổi, hàng tre, đàn gà, con vịt, cánh diều – tất cả vốn quá quen thuộc, nhưng khi đi qua tâm hồn trẻ thơ, chúng trở thành những viên ngọc của ký ức.

Bởi vậy, đọc bài thơ, ta không chỉ thấy một đứa cháu vui vì được về quê. Ta còn thấy bóng dáng của chính mình trong một thời đã xa. Có thể chúng ta đã lớn, đã đi qua nhiều thành phố, đã nhìn thấy nhiều cảnh đẹp, nhưng đâu đó trong tâm hồn vẫn có một cánh đồng xanh, một hàng tre kẽo kẹt, một tiếng gà con chiêm chiếp và một cánh diều bay cuối buổi chiều. Quê hương của Vũ Xuân Quảng vì thế không chỉ thuộc về nhân vật trong bài thơ. Nó thuộc về tất cả những ai từng có một tuổi thơ để nhớ. Và khi kỳ nghỉ “trôi vèo như không”, điều còn lại không phải là sự mất mát, mà là một miền ký ức đủ trong để mỗi lần trở về, lòng người lại thấy mình bé nhỏ, bình yên và hạnh phúc như ngày nào.

Bài tham khảo Mẫu 13

Giữa một thời đại mà con người ngày càng bị cuốn vào guồng quay bận rộn của công nghệ, bê tông và những toan tính thực dụng, nhu cầu được "trở về" chưa bao giờ trở nên bức thiết đến thế. Trở về không đơn thuần là sự dịch chuyển về mặt địa lý từ chốn đô thị ngột ngạt về miền thôn quê, mà sâu xa hơn, đó là hành trình thanh lọc tâm hồn, tìm lại bản ngã nguyên sơ đã bị vùi lấp. Bài thơ "Về quê" của Vũ Xuân Quảng chính là một bản hành khúc trầm lắng nhưng đầy sức gợi về cuộc hồi hương tinh thần ấy, nơi đứa cháu nhỏ theo bước chân người ông tìm về với suối nguồn bình yên của cội nguồn.

Mở đầu bài thơ, tác giả không miêu tả một địa điểm cụ thể mà mở ra một chiều kích không gian vô tận của thiên nhiên:

"Theo ông, cháu được về quê 

Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang"

Không gian nghệ thuật ở đây được mở rộng tối đa với "đồng xanh tít tắp" và "mùa hè thênh thang". Trong triết học phương Đông, sự thênh thang của đất trời chính là không gian tự do tuyệt đối để con người đối thoại với chính mình. Đứa cháu nhỏ rời bỏ cái hữu hạn, chật hẹp của không gian nhân tạo để bước vào cội nguồn của tự nhiên. Khung cảnh ấy không tĩnh lặng đến mức lạnh lẽo mà tràn đầy sinh khí qua những âm thanh và ánh sáng rất đỗi thân thương:

"Trời cho lồng lộng gió mây 

Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi"

Bầu trời "lồng lộng gió mây" kết hợp với tiếng tre "kẽo kẹt" và ánh nắng ngập tràn không chỉ vẽ nên bức tranh làng quê Bắc Bộ truyền thống, mà còn gợi lên cảm giác về sự chở che, bao dung của đất mẹ. Tiếng tre kẽo kẹt trong gió dường như là nhịp đập của thời gian ngàn đời, nhắc nhở con người về sự bền vững của những giá trị truyền thống giữa một thế giới đang đổi thay chóng mặt. Thiên nhiên trong thơ Vũ Xuân Quảng không chỉ là đối tượng để ngắm nhìn, mà là một thực thể sống, một người mẹ hiền ôm ấp và chữa lành mọi âu lo, mỏi mệt trong tâm hồn con người.

Khép lại bài thơ, tác phẩm để lại trong lòng người đọc một khoảng lặng suy ngẫm về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. "Về quê" không chỉ là một kỷ niệm đẹp về tuổi thơ, mà còn là lời nhắc nhở triết lý: Chỉ khi biết quay về với tự nhiên, hòa mình vào những giá trị mộc mạc, chân thực nhất, con người mới tìm lại được sự cân bằng và trọn vẹn trong nhân cách của chính mình.

Bài tham khảo Mẫu 14

Thơ ca đích thực thường bắt nguồn từ những rung cảm tinh tế trước những nghịch lý của đời sống. Một trong những nghịch lý lớn nhất của tâm lý con người chính là sự chênh lệch giữa thời gian . Đọc bài thơ "Về quê" của Vũ Xuân Quảng, ta không chỉ bị thu hút bởi bức tranh sinh hoạt thôn quê thanh bình, mà còn bị ám ảnh bởi một chiêm nghiệm sâu sắc ở hai câu thơ kết – nơi thời gian bỗng chốc trở nên mong manh và đong đầy xúc cảm:

"Ở quê, ngày ngắn tí teo 

Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không."

Trước khi chạm đến hai câu thơ kết mang tính triết lý ấy, nhà thơ đã dẫn dắt người đọc đi qua một thế giới tuổi thơ rộn rã, nơi con người và muôn loài sống trong sự gắn kết hòa hợp tuyệt đối:

"Về quê được tắm giếng làng Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây" [...] Chó mèo cứ quẩn chân người Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền Vườn sau, gà bới giun lên Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau"

Bằng ngòi bút quan sát tinh tế và tấm lòng đôn hậu, tác giả đã dựng lên một tiểu vũ trụ làng quê nơi mọi sinh linh đều tìm thấy sự thảnh thơi, tự tại. Ở đó không có sự tranh giành, lo âu, chỉ có tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, sự quấn quýt của chó mèo, sự thảnh thơi của vịt bầu và nhịp sống chậm rãi của cỏ cây, muôn loài. Đó chính là cõi thế nguyên sơ, là thiên đường có thật mà mỗi người khi trưởng thành đều khao khát được quay về tìm kiếm.

Chính vì được sống trọn vẹn trong niềm hạnh phúc thuần khiết ấy, đứa cháu nhỏ mới có sự chiêm nghiệm đầy bất ngờ về thời gian ở phần kết bài. Cụm từ "ngày ngắn tí teo" và "trôi vèo như không" không chỉ là một cách nói phóng đại dân gian, mà là sự phản chiếu của một tâm hồn đang ngập tràn hạnh phúc. Theo quy luật tâm lý học, khi con người đau khổ hoặc cô đơn, thời gian dài đằng đẵng như vô tận; nhưng khi được sống trong sự viên mãn, tự do và yêu thương, thời gian bỗng co lại, tuột đi nhanh chóng trong sự ngỡ ngàng, tiếc nuối. Sự "ngắn ngủi" của kỳ nghỉ một tháng thực chất là thước đo chính xác nhất cho mức độ gắn bó và sự thỏa mãn sâu sắc của tâm hồn đứa trẻ đối với chốn thôn quê.

Hai câu thơ cuối vì thế đã vượt lên trên một lời kể thông thường để trở thành một tiếng thở dài nhân thế. Nó đánh thức trong lòng mỗi người đọc nỗi hoài niệm khôn nguôi về những khoảng trời tuổi thơ đã qua, về những giá trị tinh thần thiêng liêng mà đôi khi vì mải miết mưu sinh, ta vô tình đánh mất.

 "Về quê" khép lại nhưng dư âm của nó vẫn là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng: Hãy biết trân trọng từng khoảnh khắc được sống chậm lại, được yêu thương và gắn bó với cội nguồn, bởi đó mới chính là điểm tựa vững chắc nhất cho tâm hồn con người trong giông bão cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 15

Có những miền quê không cần hiện lên bằng những danh thắng kỳ vĩ hay những câu chuyện lớn lao. Chỉ cần một giếng làng trong veo, một cây ổi chín vàng, tiếng tre kẽo kẹt trong gió, đàn vịt thảnh thơi trên mặt nước… cũng đủ khiến người ta nhớ thương đến nao lòng. Bởi quê hương, trước hết, là nơi cất giữ những niềm vui bình dị nhất của tuổi thơ. Với giọng thơ trong trẻo, hồn nhiên và giàu sức gợi, Vũ Xuân Quảng trong bài thơ “Về quê” đã vẽ nên một bức tranh quê mùa hè đầy sức sống qua cái nhìn say mê của một người cháu được trở về quê. Đằng sau những câu thơ tưởng như chỉ kể chuyện vui chơi là một tình yêu quê hương chân thành, ấm áp và một thế giới tuổi thơ đẹp đẽ đến mức khiến kỳ nghỉ “một tháng” cũng “trôi vèo như không”.

Ngay từ hai câu thơ mở đầu, cảm giác hạnh phúc của người cháu khi được về quê đã lan tỏa tự nhiên:

“Theo ông, cháu được về quê
Đồng xanh tít tắp, mùa hè thênh thang”

Cách mở đầu bằng cụm từ “Theo ông, cháu được về quê” tạo nên một điểm tựa tình cảm rất đẹp. Quê hương trong bài thơ không chỉ là một không gian địa lí mà còn là không gian của tình thân. Có người ông dẫn cháu trở về, có một đứa cháu háo hức bước vào thế giới tuổi thơ của mình. Từ “được” cho thấy niềm vui, sự mong đợi và háo hức của đứa trẻ. Trước mắt em là “đồng xanh tít tắp”, một không gian rộng lớn, khoáng đạt, trải dài đến tận chân trời. Nếu “tít tắp” mở ra chiều sâu vô tận của cánh đồng thì “thênh thang” lại mở rộng cả bầu trời mùa hè. Chỉ bằng vài nét chấm phá, nhà thơ đã khiến quê hương hiện ra vừa gần gũi vừa rộng lớn, như một thế giới riêng đang dang tay đón đứa cháu trở về.

Nếu cánh đồng là khoảng trời rộng lớn thì những điều bình dị quanh làng quê lại trở thành những niềm vui bé nhỏ mà quý giá:

“Về quê được tắm giếng làng
Bắc thang bẻ ổi chín vàng trên cây”

Điệp từ “được” được lặp lại như một tiếng reo vui. Với người lớn, tắm giếng làng hay bẻ vài quả ổi có thể là những việc hết sức bình thường, nhưng trong thế giới trẻ thơ, đó lại là những trải nghiệm đặc biệt. Hình ảnh “giếng làng”, “cây ổi chín vàng” mang đậm dấu ấn làng quê Việt Nam. Đặc biệt, động từ “bắc thang”, “bẻ” khiến câu thơ có nhịp điệu nghịch ngợm, tinh quái, đúng với tâm hồn trẻ nhỏ. Màu “chín vàng” của quả ổi khiến bức tranh quê thêm tươi tắn, đồng thời gợi cảm giác ngọt ngào, thơm thảo của một mùa hè no đủ.

Thiên nhiên quê hương tiếp tục mở ra trong những câu thơ giàu âm thanh, ánh sáng và chuyển động:

“Trời cho lồng lộng gió mây
Tre đu kẽo kẹt, nắng đầy sân phơi”

Không gian dường như được mở rộng đến vô cùng. Bầu trời “lồng lộng”, gió mây tự do, nắng tràn ngập sân phơi. Đặc biệt, từ láy “kẽo kẹt” đã đưa âm thanh của cây tre vào thơ. Nếu “nắng đầy sân” tạo nên một bức tranh rực rỡ thì tiếng tre lại khiến bức tranh ấy có hồn. Quê hương không chỉ được nhìn bằng mắt mà còn được cảm nhận bằng thính giác, bằng cả sự rung động của tâm hồn. Câu thơ vì thế mang một vẻ đẹp mộc mạc nhưng rất giàu sức gợi.

Bức tranh làng quê càng trở nên sinh động khi có sự xuất hiện của những con vật thân thuộc:

“Chó mèo cứ quẩn chân người
Vịt bầu từng nhóm thảnh thơi bơi thuyền”

Chỉ hai câu thơ nhưng cả một nhịp sống yên bình như hiện ra trước mắt. Những chú chó, chú mèo “quẩn chân người”, đàn vịt “thảnh thơi” trên mặt nước. Cách nhân hóa “bơi thuyền” khiến đàn vịt trở nên ngộ nghĩnh như những người dân quê đang thong dong chèo thuyền. Động từ “quẩn”, trạng thái “thảnh thơi” đều gợi một cuộc sống không vội vã, không bon chen. Nhịp sống ấy chính là vẻ đẹp đáng quý của làng quê: bình yên, thân thuộc và chan hòa với tự nhiên.

Không gian vườn quê lại được mở ra bằng hình ảnh đàn gà:

“Vườn sau, gà bới giun lên
Lũ con chiêm chiếp theo liền đằng sau”

Hai câu thơ chứa đựng cả một thế giới bé nhỏ. Chú gà mẹ cần mẫn bới đất tìm thức ăn, đàn gà con “chiêm chiếp” nối đuôi nhau theo mẹ. Từ tượng thanh “chiêm chiếp” khiến câu thơ như vang lên âm thanh trong trẻo của sự sống. Đó không phải vẻ đẹp được sắp đặt cầu kỳ mà là vẻ đẹp tự nhiên, bình dị của cuộc đời. Nhà thơ đã nhìn quê hương bằng đôi mắt của một đứa trẻ nên mọi sự vật đều có sức hấp dẫn: một đàn gà cũng có thể trở thành một niềm vui, một khoảnh khắc đáng nhớ.

Đặc biệt, hình ảnh người cháu hiện lên rõ nhất trong những hoạt động vui chơi:

“Buổi trưa cháu mải đi câu
Chiều về mấy đứa tranh nhau thả diều.”

Nếu những câu thơ trước chủ yếu miêu tả cảnh vật thì đến đây, con người trở thành trung tâm của bức tranh. Từ “mải” cho thấy sự say mê đến quên cả thời gian của đứa trẻ. Đến buổi chiều, lũ trẻ lại “tranh nhau thả diều”. Hai hoạt động “đi câu”, “thả diều” gợi một tuổi thơ tự do, trong trẻo và gần gũi với thiên nhiên. Không có những trò chơi hiện đại, không có màn hình điện thoại hay những thiết bị điện tử; chỉ có cần câu, cánh diều, cánh đồng và những người bạn nhỏ. Chính sự giản dị ấy lại làm nên vẻ đẹp rất riêng của tuổi thơ nơi làng quê.

Cái hay của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật xây dựng thời gian. Sau một ngày dài đầy ắp niềm vui, người cháu chợt nhận ra:

“Ở quê, ngày ngắn tí teo
Kì nghỉ một tháng trôi vèo như không.”

Cách nói “ngày ngắn tí teo”, “trôi vèo như không” mang đậm giọng điệu trẻ thơ. Thời gian thực tế không hề ngắn lại, nhưng vì niềm vui quá lớn nên người cháu cảm thấy thời gian trôi nhanh đến bất ngờ. Hai tiếng “trôi vèo” khiến câu thơ có nét tinh nghịch, tự nhiên, đồng thời thể hiện rất rõ quy luật của cảm xúc: khi hạnh phúc, con người luôn muốn thời gian dừng lại; nhưng thời gian lại vô tình trôi nhanh nhất vào những lúc ta đang vui.

Từ toàn bộ bài thơ, có thể thấy thành công của Vũ Xuân Quảng trước hết nằm ở cách lựa chọn hình ảnh đời thường. Nhà thơ không tìm kiếm những hình ảnh lớn lao mà gom nhặt những điều rất đỗi quen thuộc: đồng xanh, giếng làng, cây ổi, hàng tre, sân phơi, chó mèo, đàn vịt, đàn gà, cánh diều… Chính những chi tiết nhỏ bé ấy lại làm nên một quê hương có hình, có sắc, có âm thanh và có hơi thở. Ngôn ngữ thơ giản dị, nhiều từ láy, động từ giàu sức gợi; nhịp thơ linh hoạt, vui tươi; cách nói hồn nhiên, gần với lời kể của trẻ nhỏ đã tạo nên một giọng thơ trong sáng, đáng yêu.

Nhưng vượt lên trên một bài thơ kể về kỳ nghỉ hè, “Về quê” còn là bài thơ về tình yêu quê hương và tình cảm gia đình. Hình ảnh người ông ở đầu bài thơ tuy chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng lại giữ vai trò như chiếc cầu nối đưa người cháu về với quê hương. Quê nhà vì thế không chỉ có cánh đồng và cánh diều, mà còn có bóng dáng người thân, có những ngày tháng tuổi thơ được sống trong vòng tay yêu thương. Bài thơ nhắc người đọc rằng quê hương đôi khi chẳng phải điều gì xa xôi: quê hương có thể bắt đầu từ một tiếng gọi thân thương, một giếng nước, một cây ổi, một buổi trưa đi câu hay một chiều chạy theo cánh diều.

“Về quê” khép lại bằng một cảm giác vừa vui vừa man mác. Kỳ nghỉ chỉ có một tháng mà dường như “trôi vèo như không”. Có lẽ bởi quê hương quá đỗi thân thương nên khi phải rời xa, những ngày vui càng trở nên quý giá. Bài thơ vì thế giống như một cánh diều tuổi thơ: nhẹ nhàng bay lên từ cánh đồng xanh, mang theo tiếng cười trong trẻo của trẻ nhỏ và cả nỗi lưu luyến đối với quê nhà. Qua những câu thơ mộc mạc, Vũ Xuân Quảng đã nhắc mỗi chúng ta biết yêu những điều bình dị quanh mình, bởi đôi khi chính những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại trở thành những miền ký ức đẹp nhất, theo ta suốt cuộc đời.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải