Bài 9: Lập dàn ý cho bài văn kể lại một câu chuyện trang 43 SGK Tiếng Việt lớp 4 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống


Viết bài văn kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc, đã nghe. Chuẩn bị. Lập dàn ý. Góp ý và chỉnh sửa dàn ý. Tìm đọc thêm những câu chuyện về nguồn gốc hoặc phong tục, tập quán của các dân tộc Việt Nam.

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 4 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Tiếng Việt - Tiếng Anh

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề bài: Viết bài văn kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc, đã nghe.

Câu 1

Chuẩn bị.

- Chọn câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em yêu thích.

Gợi ý: Câu chuyện kể về Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Lê Lai, Nguyễn Trung Trực, Hồ Chí Minh, Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi,...

- Câu chuyện có mở đầu, diễn biến và kết thúc thế nào?

- Nhân vật lịch sử có những đóng góp gì cho đất nước? 

- Em có cảm nghĩ như thế nào về nhân vật và câu chuyện? 

Phương pháp giải:

Em tiến hành lựa chọn câu chuyện về một nhân vật lịch sử, kể lại diễn biến và nêu cảm nghĩ. 

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Câu chuyện kể về anh Kim Đồng.

- Mở đầu: Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng.

- Diễn biến:

+ Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết.

+ Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người.

+ Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo.

+ Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ.

+ Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”. Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo.

- Kết thúc: Anh Kim Đồng đã anh dũng hi sinh. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.

- Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin.

- Em rất ngưỡng mộ anh Kim Đồng. Anh đã nêu lên một tấm gương vì cách mạng quên mình, hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cách mạng. Sự hy sinh đó là tấm gương sáng chói mở đầu cho nhiều gương cao quí khác trong đội ngũ Đội viên Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Câu chuyện kể về anh Anh Ba (Bác Hồ).

- Mở đầu: Năm đó, anh Ba là một chàng thanh niên trẻ tuổi giàu lòng yêu nước, luôn có khát khao tìm đường giải phóng dân tộc. Sau thời gian dài tìm hiểu, anh Ba quyết định sẽ ra nước ngoài xem nước người ta làm như thế nào rồi về giúp dân mình.

- Diễn biến: 

+ Anh Ba rủ bạn của mình là anh Lê đi cùng, để chiếu cố nhau lúc khó khăn.

+ Anh Lê lăn tăn về kinh phí cho chuyến đi, nhưng anh Ba đã khẳng định rằng chính hai bàn tay của mình sẽ tạo ra kinh phí, anh ấy sẽ làm tất cả mọi việc để có thể đi.

+ Anh Lê được thuyết phục đã đồng ý đi cùng anh Ba, nhưng phút cuối anh Lê lại thay đổi ý định vì có nhiều lo lắng.

+ Anh Ba thì vẫn cương quyết với mục tiêu của mình, nên một mình lên thuyền ra nước ngoài.

- Kết thúc: Anh Ba lên tàu sang Pháp với cái tên Văn Ba, và làm phụ bếp ở trên tàu. Chính chuyến đi đó đã giúp anh tìm được con đường cứu nước đúng đắn, giúp đưa dân tộc ta đến bến bờ độc lập

- Nhân vật Anh Ba (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

- Em vô cùng khâm phục ý chí sắt đá, lòng dũng cảm của anh Ba khi đối mặt với muôn vàn khó khăn bằng đôi bàn tay trắng.

Câu chuyện về nhân vật lịch sử em yêu thích: Câu chuyện về ông Yết Kiêu.

- Mở đầu: Thời nhà Trần có ông Yết Kiêu sức khỏe phi thường, bơi lội rất tài. Khi giặc Nguyên sang xâm lược, ông đã tìm đến gặp vua để xin đi đánh giặc cứu nước.

- Diễn biến:

+ Yết Kiêu tâu với vua rằng ông không cần thuyền bè hay quân lính mà chỉ cần một cái dùi sắt và một chiếc búa.

Một mình ông lặn xuống biển, âm thầm đục thủng đáy tàu giặc khiến chúng đắm hết chiếc này đến chiếc khác.

+ Giặc dùng vó sắt bắt được ông và tra khảo, nhưng ông dũng cảm trả lời rằng nước Nam có rất nhiều người tài giỏi lặn được như ông.

+ Ông lừa quân giặc rồi nhanh chân nhảy xuống nước trốn thoát trong sự ngỡ ngàng của kẻ thù.

- Kết thúc: Quân giặc bị thiệt hại nặng nề, lại sợ tài nghệ của người nước Nam nên phải rút quân về nước, không dám quấy nhiễu nữa.

+ Đóng góp cho đất nước: Yết Kiêu đã dùng tài năng kỳ diệu và lòng dũng cảm của mình để phá tan đội tàu chiến mạnh nhất của quân giặc, bảo vệ bình yên cho đất nước.

+ Cảm nghĩ về nhân vật: Em vô cùng khâm phục ý chí kiên cường và tài năng xuất chúng của ông Yết Kiêu khi một mình đối đầu với cả đội quân giặc.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Câu 2

Lập dàn ý. 

Phương pháp giải:

Em dựa vào phần chuẩn bị ở bài tập 1 và tiến hành lập dàn ý. 

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Mở bài: Để có một đất nước không có chiến tranh, bộ đội và các chiến sĩ, các vị anh hùng của dân tộc đã phải đổ máu để dành lại tự do. Trong những người chiến sĩ dũng cảm đó, có trẻ nhỏ, có thiếu niên, có người trưởng thành. Và một trong những người anh hùng nhỏ tuổi mà em rất ngưỡng mộ, đó là anh Kim Đồng.

- Thân bài: 

+ Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”.

Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo. 

+ Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.

+ Em rất ngưỡng mộ anh Kim Đồng. Anh đã nêu lên một tấm gương vì cách mạng quên mình, hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cách mạng. Sự hy sinh đó là tấm gương sáng chói mở đầu cho nhiều gương cao quý khác trong đội ngũ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

- Kết bài: Anh Kim Đồng xứng đáng là một người anh hùng. Một người anh hùng đã hy sinh cho đân tộc, đã dâng cả đời mình để cứu lấy sự hoà bình, ấm no. Anh sẽ luôn sống mãi trong tâm trí của mỗi người theo năm tháng không bao giờ phai.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Mở bài: Có rất nhiều những câu chuyện kể về hành trình Bác dẫn dắt nhân dân ta chiến đấu dành độc lập. Nhưng em yêu thích nhất là câu chuyện Anh Ba - một câu chuyện kể về những ngày cuối cùng của Bác ở Việt Nam, trước khi ra đi tìm đường cứu nước.

- Thân bài:

+ Năm đó, anh Ba là một chàng thanh niên trẻ tuổi giàu lòng yêu nước, luôn có khát khao tìm đường giải phóng dân tộc.

+ Sau thời gian dài tìm hiểu, anh Ba quyết định sẽ ra nước ngoài xem nước người ta làm như thế nào rồi về giúp dân mình.

+ Anh Ba rủ bạn của mình là anh Lê đi cùng, để chiếu cố nhau lúc khó khăn.

+ Anh Lê lăn tăn về kinh phí cho chuyến đi, nhưng anh Ba đã khẳng định rằng chính hai bàn tay của mình sẽ tạo ra kinh phí, anh ấy sẽ làm tất cả mọi việc để có thể đi.

+ Anh Lê được thuyết phục đã đồng ý đi cùng anh Ba, nhưng phút cuối anh Lê lại thay đổi ý định vì có nhiều lo lắng.

+ Anh Ba thì vẫn cương quyết với mục tiêu của mình, nên một mình lên thuyền ra nước ngoài.

+ Lúc đó, anh Ba lên tàu sang Pháp với cái tên Văn Ba, và làm phụ bếp ở trên tàu.

+ Chính chuyến đi đó đã giúp anh tìm được con đường cứu nước đúng đắn, giúp đưa dân tộc ta đến bến bờ độc lập.

- Kết bài: Đọc câu chuyện Anh Ba, em hiểu hơn về sự dũng cảm, kiên định và tình yêu nước cao thượng của Bác Hồ. Thật tự hào biết bao khi đất nước ta được có một người anh hùng lịch sử như chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

- Mở bài: Trong kho tàng truyện lịch sử về các anh hùng hào kiệt thời nhà Trần, em yêu thích nhất là câu chuyện về ông Yết Kiêu. Đây là một câu chuyện cảm động đề cao tài năng bơi lội phi thường và lòng dũng cảm của một người con yêu nước.

- Thân bài:

+ Thời đó, ông Yết Kiêu là một người có sức khỏe phi thường, đặc biệt ông có tài bơi lặn tài tình như đi lại trên đất liền.

+ Khi giặc Nguyên đưa tàu chiến sang xâm lược, nhà vua lo lắng tìm người tài đánh giặc, Yết Kiêu đã tìm đến và quyết tâm xin vua cho mình đi tiêu diệt kẻ thù.

+ Khác với những người khác, ông tâu với vua rằng mình không cần thuyền bè hay quân lính mà chỉ cần một cái dùi và một chiếc búa sắt.

+ Một mình ông lặn xuống biển, tìm đáy tàu giặc để đục thủng, khiến tàu của chúng đắm hết chiếc này đến chiếc khác trong sự hoang mang cực độ.

+ Trong một lần mải làm nhiệm vụ, ông bị giặc dùng vó sắt bắt được và tra khảo về số lượng người có tài lặn ở nước Nam.

+ Ông đã mưu trí trả lời rằng những người như ông có rất nhiều, khiến quân giặc vô cùng khiếp sợ và lung lay ý chí.

+ Sau đó, ông giả vờ dẫn giặc đi bắt người khác rồi thừa lúc chúng sơ hở đã nhảy xuống nước trốn thoát về với quân ta.

+ Chính nhờ sự dũng cảm của ông đã khiến quân giặc bị thiệt hại nặng nề và phải hoảng sợ rút quân về nước, giữ vững bờ cõi.

Kết bài: Đọc câu chuyện về ông Yết Kiêu, em vô cùng khâm phục ý chí kiên cường và tài trí hơn người của ông. Em cảm thấy rất tự hào về những vị anh hùng dân tộc đã quên mình vì sự bình yên của Tổ quốc như ông Yết Kiêu.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Câu 3

Góp ý và chỉnh sửa dàn ý.

- Dàn ý có đủ 3 phần.

- Các chi tiết được lựa chọn hợp lí.

- Các sự việc được sắp xếp đúng diễn biến của câu chuyện.

Phương pháp giải:

Em tiến hành góp ý cho dàn ý của bạn và chỉnh sửa dàn ý nếu có. 

Lời giải chi tiết:

Em tiến hành góp ý cho dàn ý của bạn và chỉnh sửa dàn ý nếu có.

Vận dụng

Tìm đọc thêm những câu chuyện về nguồn gốc hoặc phong tục, tập quán của các dân tộc Việt Nam. 

Phương pháp giải:

Em tìm đọc thêm những câu chuyện về nguồn gốc hoặc phong tục, tập quán của các dân tộc Việt Nam qua sách báo, internet,...

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Sự tích cây nêu ngày Tết
Ngày xưa Quỷ làm chủ cả trái đất, người phải ở nhờ đất của Quỷ. Người phải đến xin làm ruộng cho Quỷ. Còn Quỷ vốn tham lam nên thường đặt ra những luật lệ khắt khe ác nghiệt.

Năm ấy, lúa do người trồng rất tốt. Quỷ muốn chiếm hết thóc nên ra lệnh: Quỷ ăn ngọn, cho người gốc. Thế là người làm lụng quần quật cả năm mà đến mùa chỉ được gốc rạ.

Người đói khổ quá, khấn Bụt, Bụt hiện lên bảo:

– Sang năm con hãy trồng khoai.

Người hiểu ý Bụt, làm theo. Đến mùa, Người cắt ngọn khoai nộp cho Quỷ, còn bao nhiêu củ, Người bới lên ăn cả.

Quỷ tức lắm, lại ra lệnh: Quỷ ăn cả ngọn lẫn gốc. Người lại khấn Bụt lên, và Bụt dặn:

– Con hãy trồng ngô.

Đến mùa ấy, Người cứ ung dung đem nộp ngọn và gốc cho Quỷ, còn bao nhiêu bắp ngô Người hưởng hết.

Quỷ hai lần mắc mưu, căm giận lắm, bèn đòi ruộng đất về, không cho Người trồng nữa. Người lại khấn Bụt và Bụt dặn:

– Con hãy tậu lấy một miếng đất đủ trồng một cây tre. Nhưng phải nhớ giao hẹn với Quỷ, bóng tre ngả đến đâu thì đất đấy thuộc về con.

Người nghe lời Bụt dặn, đến nhà Quỷ mua đất và trả giá rất cao. Người đem tre trồng trên miếng đất mới tậu. Bụt lại cho chiếc áo để vắt trên ngọn tre. Bóng tre lan đến đâu là đất của người tới đó. Người cứ theo bóng tre mà làm ăn, lấn dần đất của Quỷ. Cuối cùng, Người đuổi được Quỷ ra tận ngoài biển.

Từ đấy, đời sống của Người ấm no hẳn lên. Quỷ tiếc của, cứ đòi vào cướp lại đất đã bán cho Người. Người khấn Bụt, Bụt hiện lên bảo:

– Con cứ lấy cung mà bắn, lây vôi bột mà rắc, giã tỏi trộn nước mà phun, lấy lá dứa có gai nhọn mà vụt, thì Quỷ có hung hăng đến mấy cũng phải bỏ chạy.

Người làm theo. Quả nhiên Quỷ và thú dữ chạy tan tác, Quỷ xin mỗi năm được vào thăm mộ tổ tiên vài ngày…

Do đó mà dân ta có tục lệ trồng cây nêu ngày Tết. Cây nêu là cây tre cắm giữa sân. Trên ngọn cây nêu có treo chuông khánh leng leng nhắc Quỷ đây là đất của Người…

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sự tích tết trung thu 
Ngày xưa, lâu lắm rồi, khi đó giữa trời và đất mới chỉ có mặt trời mà chưa có mặt trăng, trên mặt đất muôn loài sống chung và cùng nói chung một thứ tiếng. Chẳng hạn buổi sớm, khi bác gà trống thức dậy và gọi các con “Cúc cù, cúc cù cu” thì mọi đều hiểu là “Sáng rồi, dậy đi thôi” và cả làng tục tục trở dậy cơm nước, chuẩn bị cho một ngày làm việc cần cù. Khi người lớn đã đi làm hết cả, lũ trẻ con – chó con, gà con, dê con, bê và nghé,…. í ới rủ nhau ra bãi cỏ đầu làng. Ở đó, cô giáo họa mi dạy chúng học bài và múa hát. Đến trưa, lũ trẻ lại líu ríu cùng nhau đem cơm ra đồng cho bố mẹ. Chúng chơi với nhau đến tận chiều, khi bố mẹ về mới chia tay nhau đứa nào về nhà nấy. Cuộc sống cứ thế êm ả trôi qua.

Nhưng có một hôm, vợ chồng bác gà to tiếng với nhau chỉ vì mỗi chuyện tẻo teo. Bác gà trống ngửi thấy mùi cơm khê, bảo vợ:

– Cơm lại khê rồi, bà này làm ăn chẳng bao giờ chú ý gì cả…

Bác gà mái cãi lại:

– Tôi vừa cơm nước, vừa tắm táp cho con, sao ông không đỡ tôi một tay?

Chỉ thế thôi, chưa ra là cãi nhau. Nhưng vừa lúc đó cô vịt bầu đi qua nghe thấy liền kể cho chó vàng nghe. Chó vàng mách lại với dê, dê nói với bò. Cứ thế cả làng rỉ tai nhau: vợ chồng nhà gà sắp bỏ nhau. Chuyện vòng vèo đến tai bác gà. Bác gà trống bực lắm. Bác đi đi lại lại, mào đỏ tía lên: “Hừm! Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay. Tất cả chỉ tại mọi loài có độc một thứ tiếng nói. Mình cứ nói điều gì lọt vách là chuyện đã như có cánh bay đi khắp làng!”. Bực tức, nóng nảy, bác gà trống quyết định lên kiện với Trời.

Hôm sau, từ sáng sớm, bác gà trống đeo một túi ngô nhằm hướng nhà Trời mà đi. Xế trưa thì tới nơi. Vừa gặp Trời bác liền tâu:

– Bẩm Trời. Trời đã cho dưới mặt đất chúng con một cuộc sống yên bình, có làm có ăn, chúng con chẳng dám phàn nàn gì. Nhưng sao Trời lại hà tiện mà chỉ cho muôn loài dưới đất một thứ tiếng nói. Một người nói cả làng đều nghe được, thành ra lắm chuyện rắc rối, lôi thôi…

Bác gà trống kể lể chuyện đã làm phiền gia đình bác, rồi xin tâu:

– Để khỏi xảy ra những chuyện lớn hơn, xin Trời hãy cho mỗi loài một thứ tiếng. Gà nói gà hiểu, chó nói chó hiểu, vịt nói vịt hiểu. Như thế tiện lợi biết bao…

Trời nghe bác gà trống nói có lý, bên bảo:

– Nhà ngươi về đi. Ta sẽ cho các ngươi điều các ngươi xin.

Bác gà trống mừng rỡ trở về. Đến cánh đồng đầu làng, bác gặp vợ chồng nhà bò đang cày ruộng. Bò cái nhanh nhảu chào: “Bác gà trống đi đâu về thế!”, nhưng tiếng bác phát ra “ò ..ò… ò…” nghe lạ hoắc. Bác gà trống hốt hoảng nhảy phắt sang lề đường, còn bò đực cứ nhe lợi ra mà cười. Vừa lúc đó cậu chó ở đâu chạy đến: “Ẳng ẳng ẳng”, cậu sủa lên một tràng dài, mặt mày hoan hỉ. Nhưng cả bò cái, bò đực lẫn gà trống ngơ ngác nhìn nhau chẳng hiểu gì cả. Thì ra bây giờ mỗi loài đã nói một thứ tiếng, con vật nào nói chỉ đồng loại chúng nghe được. Trời đã hóa phép ra như thế, đúng như lời xin của bác gà trống.


Từ hôm đó, tuy cùng một làng nhưng họ nhà gà, chó, mèo, ngan, vịt,… mỗi loài ở riêng một chòm; các con vật chỉ giao du với các đồng loại của mình. Kể ra thì cuộc sống cũng chẳng có gì thay đổi mấy đối với người lớn hình như còn có vẻ dễ chịu, đỡ những sự rắc rối hơn. Chỉ có bọn trẻ con là buồn. Buổi sớm lúc bố mẹ chúng đã đi làm, gà con, chó con, vịt con, v.v… chẳng biết làm gì. Chúng không thể đến lớp học vì không còn hiểu tiếng của nhau, không hiểu cả tiếng của cô giáo giảng bài. Buổi trưa, chúng lủi thủi mang cơm ra đồng cho bố mẹ, còn suốt buổi chiều chúng ru rú trong nhà. Bãi có đầu làng trở nên vắng teo, còn lũ trẻ con thì mặt đứa nào đứa nấy ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Thấy con cái như thế, các bà mẹ hốt hoảng. Rồi không thấy bò cái, dê cái, gà mái,… ra đồng nữa. Các bà mẹ ở nhà dỗ con chăm con. Cuối cùng, cả bò đực, đê đực, gà trống,… cũng ở nhà. Chúng lo lắng, nghĩ ngợi và ân hận. Chẳng lẽ vì một chút quyền lợi ích kỷ của người lớn mà có thể quên đi niềm vui và hạnh phúc của trẻ thơ sao? Ân hận nhất là bác gà trống. Bác quyết định lại lên tâu xin với Trời.

Lần này, bác đi lúc đúng ngọ. Vừa đến nơi, gặp Trời, bác cúi rạp cái đầu có chiếc mũ màu đỏ thắm:

– Bẩm Trời, Trời đã cho chúng con mỗi loài một thứ tiếng, như thế thật là tiện lợi. Song lũ trẻ dại dột của chúng con, lũ gà con, vịt con, chó con, bê và nghé,… không chơi được với nhau nữa, chúng sinh ủ ê, ốm đau. Trẻ con không vui thì người lớn cũng sinh buồn chán, chẳng thiết làm ăn. Bây giờ dưới mặt đất, trong làng vắng tiếng trẻ cười, ngoài đồng cỏ cao hơn lúa…

– Vậy nhà ngươi muốn gì? – Trời cau có hỏi lại.

– Xin Trời cứ quở phạt con. – Bác gà trống càng cúi thấp cái đầu vốn kiêu hãnh: – Nhưng xin Trời hãy cho chúng con trở lại nói cùng một thứ tiếng.

Trời nhìn bác gà trống ái ngại, nhưng lắc đầu :

– Phép Trời đã ban ra, ta không thể thu lại được.

– Vậy Trời có cách nào nữa không ạ? – Bác gà trống nắm vạt áo Trời năn nỉ.

– Thôi ngươi về đi. – Ông Trời ngẫm nghĩ, thở dài rồi với tay lấy quả bưởi vàng trên mâm ngũ quả – Ta sẽ đền cho lũ trẻ ngốc nghếch nhà các ngươi trái bưởi này. Ngươi cứ về đi!

Bác gà trống không hiểu ông Trời định đền quả bưởi làm gì, song cũng đành thấp thỏm ra về. Hôm ấy, giữa đường bác gặp mưa nên chưa về đến nhà trời đã sụp tối. Bác gà trống bối rối dừng lại bên đường, vào lúc xâm xẩm thế này bác không thể đi lại được. Đang lúc tần ngần như thế thì bác thấy như trời… sáng ra. Thứ ánh sáng xanh, trong như nước, rất lạ lùng, khác hẳn ánh nắng mặt trời chói chang nóng bức ban ngày. Bác gà trống ngẩng nhìn trời: giữa không trung bao la thăm thẳm, trái bưởi vàng của Trời đang lung linh tỏa sáng. Ngắm nhìn trái bưởi, tự nhiên bác gà trống thấy lòng tràn ngập một niềm vui khó tả. Và, may mắn làm sao, nhờ ánh sáng từ trái bưởi, bác không phải ngủ đỗ dọc đường.


Về tới đầu làng, bác gà trống sửng sốt vì bắt gặp một thứ tiếng động ồn ã rất lạ tai. Rồi cánh tượng bày ra trước mắt khiến bác phải dụi mắt mấy lần: trên bãi cỏ xanh rời rợi ánh sáng, lũ trẻ con, gà con, chó con, dê con, bê và nghé,… đang kề vai nhau mải mê nhảy múa. Chúng đập cánh, vỗ tay, giậm chân làm nhịp. Không cần nói chúng cũng hiểu nhau, và chúng giao hòa với nhau bằng ngôn ngữ của những tiếng vỗ tay, những bước chân nhịp nhàng. Trái bưởi vàng trên trời vẫn lặng lẽ tỏa ánh sáng xanh dịu, thơm mát, và nghịch ngợm làm thành những cái bóng quấn quýt dưới chân lũ trẻ.

Từ đó, mặt trời chiếu sáng ban ngày cho người lớn làm việc, còn ban đêm, trái bưởi vàng lại hiện ra cho trẻ con chơi đùa. Để phân biệt mặt trời, người ta gọi đó là mặt trăng. Và ngày rằm tháng Tám, ngày bác gà trống lên trời, xin về được trái bưởi vàng trở thành ngày Tết Trung thu của các em. Vào ngày đó, mặt trăng bao giờ cũng thật tròn, thật đầy, thật sáng.

Sự tích ông Táo về trời

Ngày xưa có 2 vợ chồng nghèo lấy nhau đã lâu mà không có con. Một hôm trong lúc phiền muộn, vợ chồng cãi nhau, chồng nóng nảy đánh vợ, vợ tủi thân bỏ nhà đi. Duyên số run rủi, chị ta kết bạn với một người đàn ông khác ở miền ngược làm nghề săn bắn. Anh chồng hối hận, ít ngày sau, đi tìm. Tìm mãi không thấy, hết tiền, lại sinh ốm đau, đành phải ăn xin lần hồi. Một hôm tình cờ anh ta đến xin ăn đúng nhà vợ chồng người đi săn. Chị vợ nhận ra chồng cũ, thấy đói rách tiều tụy, chị ta rất thương. Nhân chồng mới vắng nhà, chị dọn một bữa cơm rượu đãi chồng cũ. Anh ta ăn uống no say, rồi lăn ra ngủ thiếp đi, đánh thức mấy cũng không dậy. Thật là tai hại! Trời sắp mưa, chồng cũng sắp về. Hoảng quá, chị vội cõng anh kia ra đống rơm cuối sân, lấy rơm phủ lên người giấu đi để tránh điều tiếng không hay.

Vừa lúc đó người chồng mới mang về 1 con cầy, bảo chị vợ ra chợ sắm sửa các gia vị làm một bữa ra trò thết hàng xóm. Ở nhà, anh ta đốt đống rơm thui cầy. Bất đồ, lửa bùng lên, bén vào đống rơm, thui cả anh chồng cũ. Chị vợ về, thấy vậy, vô cùng đau xót, như chính mình mắc tội giết chồng cũ. Chị ta liền nhảy vào đống lửa chết theo. anh chồng mới thương vợ, cũng đâm đầu vào chết luôn. Hôm ấy là hai mươi ba tháng Chạp âm lịch. Thấy ba người ăn ở với nhau có tình nghĩa, Ngọc Hoàng cho họ hóa thành ba “ông” đầu rau để họ được ở bên nhau mãi mãi, đồng thời phong cho họ là Táo quân (còn gọi là Vua Bếp). Hàng năm, táo quân phải lên chầu Ngọc Hoàng tâu về việc làm ăn của các nhà ở hạ giới. Nhân dân ta từ xưa, mỗi lần năm tết đến có tục mua cá chép làm cỗ tiễn ông táo lên chầu Trời, chính là bắt nguồn từ câu chuyện này.

Phong tục tập quán phong phú , thể hiện đời sống tinh thần của dân tộc, đa số những phong tục này đều thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như tình nghĩa, uống nước nhớ nguồn, hướng về tổ tiên. Tuy không có giá trị nghệ thuật cao nhưng có giá trị nhân văn và giáo dục sâu sắc.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Bình chọn:
4.7 trên 44 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...