Soạn văn 12 kết nối tri thức, Soạn văn lớp 12 hay nhất Bài 1. Khả năng lớn lao của tiểu thuyết

Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức


Nêu cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm: viết cùng đề tài, tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Trong khi đọc 1

Trả lời Câu hỏi 1 Trong khi đọc trang 28 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Nêu cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm: viết về cùng đề tài, tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể.

Phương pháp giải:

Tìm điểm giống và tương đồng của hai tác phẩm cần so sánh, đó chính là cơ sở để so sánh, đánh giá.

Lời giải chi tiết:

- Cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện:

+ Viết cùng một đề tài (chiến tranh, người lính,...)

+ Tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể (Kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mĩ)

+ Triết lí nhân sinh gửi gắm tương đồng: Ca ngợi vẻ đẹp của những chiến sĩ trong thời chiến, từ đó muốn nhắn nhủ tới độc giả phải biết ơn những chiến sĩ đã hết mình vì Tổ quốc.

+ Có sự đặc sắc về phong cách văn học và nghệ thuật sử dụng: (cách xây dựng cốt truyện, ngôn từ sử dụng, cách xây dựng nhân vật,..)

Trong khi đọc 2

Trả lời Câu hỏi 2 Trong khi đọc trang 28 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Nêu mục đích của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần kiến thức ở trên

Lời giải chi tiết:

- Làm rõ sự thống nhất trong cảm hứng sáng tác của nhà văn cách mạng khi viết về cùng một đề tài.

- Bên cạnh đó là cách họ thể hiện phong cách cá nhân độc đáo ở các tác phẩm cụ thể.

Trong khi đọc 3

Trả lời Câu hỏi 3 Trong khi đọc trang 28 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Trình bày luận điểm khái quát của về nét chung hai tác phẩm

Phương pháp giải:

Chỉ ra luận điểm thể hiện điểm tương đồng của hai tác phẩm

Lời giải chi tiết:

- Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Hai truyện ngắn được viết ra trong khoảng nửa cuối thập niên sáu mươi của thế kỉ XX, lúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt.

- Phong cách viết: Không dừng ở việc miêu tả những biểu hiện bên ngoài của đời sống mà luôn tìm cách cắt nghĩa bề sâu của nó, tập trung soi tỏ những điều bí ẩn kì diệu đã làm nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam

Trong khi đọc 4

Trả lời Câu hỏi 4 Trong khi đọc trang 29 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Trình bày những thông tin cần thiết về từng tác phẩm được so sánh: xuất xứ, bối cảnh câu chuyện, cốt truyện, nhân vật,...

Phương pháp giải:

Tìm thêm những thông tin cần thiết về từng tác phẩm được so sánh (dựa vào đặc trưng thể loại truyện ngắn).

Lời giải chi tiết:

Ngôi kể, điểm nhìn, cách xây dựng tình huống truyện, phương thức kể chuyện, các chi tiết tiêu biểu,...

Trong khi đọc 5

Trả lời Câu hỏi 5 Trong khi đọc trang 29 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Thông tin khái quát về Mảnh trăng cuối rừng

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn và chọn lọc những thông tin khái quát về tác phẩm

Lời giải chi tiết:

- Xuất xứ: Mảnh trăng cuối rừng được in vào sách lần đầu năm 1970, trong tập Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu. 

- Hoàn cảnh sáng tác: Diễn ra trong bối cảnh đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc một cách ác liệt.

- Nội dung câu chuyện: Câu chuyện xoay quanh nhân vật Lãm và Nguyệt. Lãm dự định sẽ đến thăm Nguyệt, người anh chưa biết mặt nhưng đã thấy cảm mến nhờ sự giới thiệu đảm bảo của người chị gái làm việc ở cầu Đá Xanh. Tình cờ người đi nhờ xe trong đêm lại chính là người anh đang mong gặp. Lãm ngờ ngợ cô gái ấy chính là Nguyệt của mình nhưng họ chia tay không hỏi han gì về nhau cho đến khi Lãm đến thăm đơn vị Nguyệt, đúng thời điểm đó nguyệt lại về đơn vị công tác nên cả hai không gặp nhau.

Trong khi đọc 6

Trả lời Câu hỏi 6 Trong khi đọc trang 29 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Thông tin khái quát về những đứa con trong gia đình.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn và chọn lọc những thông tin khái quát về tác phẩm

Lời giải chi tiết:

- Xuất xứ: In lần đầu trong tập Truyện và kí, xuất bản năm 1969.

- Bối cảnh: Không gian sông nước miền Tây Nam Bộ.

- Nội dung: Nói về chuyện những đứa con trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước, cách mạng, phải chịu nỗi đau cha mẹ bị kẻ thù giết. Họ luôn cháy bỏng với nguyện vọng đi bộ đội để trả thù nhà, đền nợ nước.

Trong khi đọc 7

Trả lời Câu hỏi 7 Trong khi đọc trang 29 SGK Văn 12 Kết nối tri thức

Phân tích cụ thể điểm tương đồng giữa hai tác phẩm: tính chất của sự miêu tả và cảm hứng sáng tác.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ 2 tác phẩm và chú ý về tính chất của sự miêu tả và cảm hứng sáng tác

Lời giải chi tiết:

- Cảm hứng sáng tác: Đều cố gắng làm sáng tỏ chủ nghĩa anh hùng bao trùm đời sống tinh thần của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến

- Ngòi bút miêu tả:

+ Nhân vật: Nhân vật nào cũng tràn đầy tinh thần cách mạng, dám đương đầu mọi thử thách bằng sự kiên cường, dẻo dai, khâm phục. Ở các nhân vật không hề thấy dấu vết của sự ưu tú, lựa chọn.

+ Hành động: Đều diễn ra có vẻ dễ dàng, tự nhiên, thể hiện sự chi phối triệt để của một đạo lí sống mà mọi thành viên

Thực hành viết

So sánh Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân

Phương pháp giải:

Dựa vào phần hướng dẫn thực hành viết

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

Kết truyện không chỉ là những tình tiết khép lại câu chuyện mà còn là nơi mà các nhà văn thể hiện những quan niệm, tư tưởng và mở ra những con đường cho nhân vật của mình. Nếu kết thúc truyện Chí Phèo là sự giải thoát cho một kiếp người bị tha hoá bởi xã hội thì cái kết của "Vợ nhặt" và "Vợ chồng A Phủ" lại được nhà văn Kim Lân, Tô Hoài mở ra bằng một hướng đi mới cho những số phận đau khổ cho những con người trong hai tác phẩm đó.

Kim Lân và Tô Hoài đều là những nhà văn hiện thực vô cùng xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Hai tác phẩm "Vợ nhặt" và "Vợ chồng A Phủ" là hai tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của hai tác giả. Nếu như Kim Lân viết về tình cảnh thê thảm, tang thương của những người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945 thì Tô Hoài lại viết về cuộc sống tủi nhục, tối tăm của những người nông dân nghèo vùng núi Tây Bắc. Tuy khác nhau về chủ đề và cách thức thể hiện nhưng cả hai tác phẩm đều có những nét tương đồng, cả hai truyện ngắn đều viết về cuộc sống và số phận của những người nông dân nghèo; đều thể hiện sự đồng cảm, trân trọng của nhà văn với số phận và vẻ đẹp của các nhân vật, điều này được thể hiện rõ nét qua phần kết của hai tác phẩm.

Truyện ngắn "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân được viết năm 1954 về cuộc sống của những người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhân vật chính của câu chuyện là Tràng - một người đàn ông nghèo khổ, xấu xí sống trong xóm Ngụ Cư. Trước sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của mọi người, Tràng bất ngờ có vợ ngay khi nạn đói đang hoành hành dữ dội nhất. Truyện kết thúc trong trong chi tiết bữa cơm thảm hại ngày đói của gia đình Tràng: "có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo" và tiếng tiếng trống thúc thuế dồn dập. Trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh những dòng người "ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm".

Kết thúc của Vợ nhặt được Kim Lân lấy cơ sở từ chính hiện thực cuộc sống của đất nước ta lúc bấy giờ. Bởi sau nạn đói năm 1945, cả đất nước ta đang chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền và tiên phong chính là phong trào đi phá kho thóc Nhật để chia cho dân nghèo. Những người nông dân cả đời chân lấm tay bùn, họ ít học, ít hiểu, thế những cái đói khát cùng cực đã giúp họ nhận rõ kẻ thù của mình, đó chính là thực dân Pháp và Phát xít Nhật. Trong khi thực dân Pháp thực hiện chính sách vơ vét của cải thì bọn phát xít Nhật lại bắt dân ta "nhổ cỏ trồng đay", đây cũng chính là nguyên nhân chính gây ra thảm hoạ nạn đói khủng khiếp 1945 cho dân tộc Việt Nam. Sống trong đói khát, trong cái chết rình rập nên những người nông dân đã ý thức được và tìm cách đấu tranh giành lấy sự sống. Và họ đến với cách mạng như một điều tất yếu, một lẽ đương nhiên. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không thể hiện rõ ràng rằng Tràng có đi theo "lá cờ đỏ" ấy không, nó chỉ mở ra một hướng liên tưởng cho người đọc. Thế nhưng phải chăng qua cái "kết thúc mở" ấy, nhà văn Kim Lân muốn cho người đọc hiểu rằng cuộc đời của các nhân vật trong câu chuyện của mình rồi sẽ thay đổi nếu như họ bắt gặp được ánh sáng Cách mạng? Cuộc đời của Tràng mở ra bằng ánh chiều tà chập choạng với những cảnh "đói sầm vì đói khát", thế nhưng khi kết thúc lại là ánh bình minh của người mới với hình ảnh của "lá cờ đỏ" kia. Tuy là một kết thúc mở nhưng nó đã gieo vào lòng chúng ta niềm tin mãnh liệt vào sự đổi đổi của Tràng, của gia đình Tràng, của hàng ngàn người dân nghèo khác.

Với "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài lại dẫn người đọc đến với cuộc sống của những người nông dân nghèo vùng Tây Bắc. Nhân vật chính trong truyện là Mị và A Phủ. Nếu như Mị là cô "con dâu gạt nợ" nhà thống lý Pá Tra, phải sống kiếp "con trâu, con ngựa", bị đày đọa cả thể xác lẫn tinh thần thì A Phủ trở thành người ở không công cho nhà thống lí chỉ vì đánh nhau với con quan. Hai con người đau khổ ấy gặp nhau, cảm thông, thấu hiểu cho nhau từ những giọt nước mắt và họ đã quyết định giải thoát cho nhau khỏi thân phận nô lệ.

Truyện kết thúc ở chi tiết Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và vụt chạy theo A Phủ để giải phóng chính mình. Sau đêm tình mùa xuân, Mị trở về với cuộc sống lầm lũi, cam chịu như trước kia. Trong một lần "thổi lửa hơ tay", Mị đã bắt gặp "một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A Phủ. Chính dòng nước mắt ấy đã làm cho Mị bừng tình, nhận thức được quyền sống của mỗi con người, nhận thức được sự độc ác của giai cấp thống trị. Vậy nên Mị đã "rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây" cắt đứt sợi dây trói cho A Phủ và thả A Phủ chạy thoát. Thế nhưng chỉ vài phút "đứng lặng trong bóng tối", Mị cũng "vụt chạy ra" theo A Phủ. Và rồi hai con người khốn khổ ấy "lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi". Sau này, hai người trở thành vợ chồng và dưới ánh sáng của cách mạng, họ cùng nhau chiến đấu bảo vệ quê hương.

Cái kết của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã cho chúng ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc giữa những con người khốn khổ, cho ta thấy được sức sống tiềm tàng của họ, nhận thực sâu sắc của họ về quyền sống, quyền được tự do và hạnh phúc cùng với đó là tinh thần đấu tranh với bọn địa chủ phong kiến. Nếu như trước đây, Mị sống "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", sống vô cảm, vô hồn thì giọt nước mắt của A Phủ đã đánh thức trong tâm hồn Mị ý thức về sự sống. Hành động cắt đứt dây trói giải thoát cho A Phủ của Mị cũng là sự giải thoát cho chính bản thân mình. Giọt nước mắt ấy đã đánh thức khao khát sống tự do, hạnh phúc của cô. Và rồi hai con người đau khổ của đất Hồng Ngài đã dẫn nhau "lẳng lặng" "lao chạy xuống dốc núi" trốn thoát khỏi những hủ tục phong kiến, những sự thống trị tàn bạo và dã man, đó là sự tự ý thức của họ về quyền sống, tự do của một con người.

Tuy hai nhà văn Kim Lân và Tô Hoài viết về hai đề tài khác nhau nhưng cách kết thúc trong hai truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" và "Vợ nhặt" lại có những điểm tương đồng. Đầu tiên đó là hai cái kết đều mở ra một tương lai mới tươi sáng và tự do cho người nông dân nghèo khổ. Cả hai nhà văn đều hướng những nhân vật của mình đến với ánh sáng của cách mạng với hy vọng chắc chắn rằng cách mạng sẽ giúp họ đổi đời.

Tuy có nhiều điểm giống nhau nhưng Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ cũng có những điểm khác biệt rất rõ ràng. Nếu như Vợ nhặt là hình ảnh của những người nông dân phải sống trong đói nghèo, trong cái chết rình rập, họ thấy được tội ác của bọn phát xít thực dân để từ đó hình ảnh "lá cờ đỏ" cùng đoàn người đi "phá kho thóc Nhật" in đậm trong tâm trí họ, cho họ thấy được con đường thoát khỏi đói nghèo thì Vợ chồng A Phủ lại cho ta thấy sức sống tiềm tàng của những người nông dân, họ tự vùng lên để giải thoát cho chính mình.

Hai chi tiết, hai cái kết trong Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt là khác nhau nhưng ta thấy rõ được những tâm tư, những tình cảm, những giá trị nhân đạo mà cả Kim Lân và Tô Hoài đều hướng tới. Đó là lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc trước những số phận đau khổ bị đày đọa bởi đói nghèo, bởi giai cấp thống trị. Để từ đó hướng họ tới một tương lai tươi sáng hơn khi họ vùng lên dưới ánh sáng cách mạng.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Nhà văn Nga Sê-khốp từng khẳng định: “Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả… Nếu anh không có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ”. Quả thật, trong văn học, điều làm nên sức sống lâu bền cho một tác phẩm không chỉ nằm ở giá trị nội dung mà còn ở phong cách riêng của người sáng tạo. Với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân, người đọc đã được chứng kiến sự gặp gỡ và đồng vọng trong cảm hứng nhân đạo, đồng thời nhận ra những khác biệt trong cách tiếp cận, cách nhìn số phận và vẻ đẹp con người. Bằng những giọng điệu độc đáo, hai nhà văn đã khẳng định vị trí riêng của mình trong nền văn học hiện đại Việt Nam, đem đến cho độc giả những trải nghiệm nghệ thuật phong phú và sâu sắc.

Tô Hoài là một trong những cây đại thụ lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Với sự nghiệp đồ sộ cả về số lượng lẫn chất lượng, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm bằng vốn hiểu biết phong phú, khả năng quan sát tinh tế và ngòi bút giàu chất tạo hình. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, sáng tác trong chuyến đi thực tế dài ngày ở Tây Bắc, là kết tinh cho sự gắn bó máu thịt của ông với thiên nhiên, con người miền núi. Tác phẩm xoay quanh số phận bi kịch của Mị và A Phủ dưới ách thống trị của cường quyền, thần quyền ở Hồng Ngài. Nhưng từ đó, Tô Hoài đã khẳng định sức sống tiềm tàng, khả năng phản kháng mạnh mẽ và con đường đến với cách mạng của những con người nghèo khổ. Vợ chồng A Phủ trở thành một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông và của văn học hiện đại Việt Nam.

Kim Lân, khác với Tô Hoài, là “người một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn” (Nguyên Hồng). Ông chuyên viết truyện ngắn, gắn bó sâu sắc với cuộc sống lam lũ của người nông dân. Vợ nhặt vốn được viết dở dang từ trước Cách mạng tháng Tám, nhưng đến sau Cách mạng mới hoàn thành. Lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, tác phẩm kể lại câu chuyện anh cu Tràng nhặt được vợ giữa khi đói khát vây quanh, qua đó tái hiện thảm cảnh ghê rợn của dân tộc và khẳng định sức mạnh tình thương, khát vọng sống, niềm tin vào một tương lai đổi đời. Nếu chọn mười cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam sau 1945 thì có thể không có tên Kim Lân, nhưng nếu chọn mười truyện ngắn xuất sắc nhất thì chắc chắn Vợ nhặt có một chỗ đứng xứng đáng.

Cả hai tác phẩm đều viết về số phận người lao động nghèo khổ trong giai đoạn lịch sử đặc biệt (1945 – 1954), đều phơi bày sự tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến và nạn đói. Song điều quan trọng hơn, cả hai đều ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người: trong khổ đau, bất hạnh, con người vẫn nuôi dưỡng tình thương, khát vọng sống và ý chí vươn lên. Hai tác phẩm đều thấm đẫm tinh thần nhân đạo và là minh chứng cho sự tinh tế của ngòi bút phân tích tâm lý nhân vật.

Vợ chồng A Phủ tái hiện số phận đau khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của thần quyền, cường quyền. Mị – con dâu gạt nợ – sống kiếp đời tăm tối, quần quật như trâu ngựa, đến mức “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. A Phủ – chàng trai mồ côi, dám đứng lên chống lại bất công – cũng bị phạt vạ vô lý, biến thành kẻ làm công trả nợ, tính mạng bị rẻ rúng đến mức có thể chết trói vì mất một con bò.

Vợ nhặt lại phản ánh số phận con người rẻ mạt trong nạn đói 1945. Người dân ngụ cư chết như ngả rạ, người sống vật vờ như những bóng ma. Tràng – nghèo, xấu xí, dân ngụ cư – bỗng “nhặt” được vợ chỉ bằng mấy câu nói đùa. Người vợ nhặt – đói khát, tả tơi – chấp nhận theo không về làm vợ chỉ để có miếng ăn. Bà cụ Tứ – người mẹ già nghèo khổ – sống trong dáng vẻ lọng khọng, ám ảnh bởi cái đói.

Khác biệt trong cách cảm nhận vẻ đẹp con người:

Ở Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài tập trung khắc họa sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do cháy bỏng của người dân miền núi. Mị, từ chỗ sống tê liệt, nhờ tiếng sáo gọi bạn tình và men rượu ngày xuân đã bừng tỉnh sức sống, khao khát đi chơi, muốn được sống như xưa. Đỉnh điểm là khi Mị cắt dây trói cứu A Phủ, đồng thời tự giải thoát cho chính mình. A Phủ hiện lên khỏe mạnh, cương trực, dũng cảm chống lại bất công, và khi được giải thoát đã cùng Mị đến với cách mạng.

Ở Vợ nhặt, Kim Lân lại khẳng định tình thương và niềm tin của con người. Tràng cưu mang người vợ xa lạ, bà cụ Tứ mở lòng đón nhận con dâu trong cảnh đói khát, người vợ nhặt cũng sẵn sàng chia sẻ nghèo khó. Tình thương ấy giúp họ nuôi dưỡng khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương lai. Hình ảnh đoàn người đói đi trong lá cờ đỏ phấp phới như ánh sáng cuối tác phẩm đã dự báo về sự đổi đời của họ.
Khác biệt trong phương thức nghệ thuật:

Vợ chồng A Phủ: Giọng kể nhập vào dòng tâm tư nhân vật, nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, ngôn ngữ giàu chất thơ, đậm đà màu sắc miền núi. Những chi tiết đặc sắc như tiếng sáo, căn buồng của Mị, giọt nước mắt A Phủ… tạo nên ám ảnh nghệ thuật.
Vợ nhặt: Tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính; nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc; ngôn ngữ đời thường, tự nhiên, gần gũi; kết cấu giàu ý nghĩa biểu tượng.

Sự khác biệt này bắt nguồn từ chính hoàn cảnh sáng tác và đối tượng phản ánh: Vợ chồng A Phủ phản ánh cuộc sống người dân miền núi dưới ách cường quyền, thần quyền, nên nổi bật là sức sống, khát vọng tự do. Vợ nhặt lấy bối cảnh nạn đói, nên tập trung vào số phận rẻ rúng vì nghèo đói và khát vọng hạnh phúc. Song, điểm chung là cả hai tác phẩm đều phơi bày sự thật bi thảm của xã hội đương thời, tố cáo tội ác áp bức, đồng thời khẳng định vẻ đẹp và niềm tin vào con người.

Cùng một cảm hứng nhân đạo, Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt lại đem đến cho người đọc những dư âm khác nhau. Vợ chồng A Phủ khiến ta day dứt, ám ảnh trước số phận bi kịch của Mị, để rồi vỡ òa ngưỡng mộ khi cô vùng dậy phản kháng. Vợ nhặt khiến ta bật cười nghẹn ngào trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, để rồi cảm phục tình thương của bà cụ Tứ, sự dịu dàng của người vợ nhặt, và niềm tin lạc quan vào tương lai. Đó chính là tài năng, tâm huyết và nhân cách nghệ sĩ của Tô Hoài và Kim Lân. Như T.Sêkhốp từng nói: “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”.

So sánh Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt, ta nhận ra rằng mỗi tác phẩm là một khám phá riêng về nội dung và nghệ thuật, nhưng đều neo đậu sâu đậm trong tâm hồn người đọc. Vợ chồng A Phủ làm ta tin vào sức mạnh tiềm tàng và con đường giải phóng dân tộc, còn Vợ nhặt khiến ta thấm thía tình thương và hi vọng trong nghịch cảnh. Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, ta thêm hiểu giá trị của văn học: không chỉ ghi lại sự thật, mà còn nâng đỡ con người, hướng họ đến ánh sáng và niềm tin.

Thời đại nào số phận người phụ nữ cũng là điều khiến người cầm bút trăn trở nhiều nhất. Những trang văn viết về họ bao giờ cũng là những trang viết ám ảnh, để lại trong lòng người đọc nhiều trăn trở hơn cả đã. Qua rất lâu thời của những cô Mị, thời của những người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Nhưng câu chuyện về mỗi thân phận mỗi cảnh đời của người xưa vẫn làm ta khôn nguôi.

Mị, người vợ nhặt hai con người ấy là hai số phận có thể nói là cùng khổ trong xã hội cũ. Mỗi người một cảnh ngộ riêng nhưng số phận của họ đều chung một màu đen.

Là một cô gái lao động miền núi ở Mị hội tụ tất cả những nét đẹp của một thiếu nữ xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang, hiếu thảo.Chỉ bằng vài chi tiết nhỏ Tô Hoài đã khiến chúng ta phải say mê vẻ đẹp của bông hoa núi rừng, huống gì những thanh niên trai bản đã bị bị hút hồn ngày đêm thổi sáo cho Mị. nhưng điều cay đắng nhất là đóa hoa bản Mèo lại không được ném pao chọn người yêu, không được tìm người yêu trong phiên chợ tình. Mị sớm chịu cảnh làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Món nợ truyền kiếp từ đời cha mẹ. Nay đứa con gái phải gánh trả bằng cả hạnh phúc, tuổi trẻ của mình. Mị về làm dâu nhưng thực chất là làm người ở cho nhà Thống Lý, lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi gánh nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Câu văn của Tô Hoài vừa giúp chúng ta hình dung sự vất vả, vừa cho thấy được những tâm trạng của nhân vật. Công việc cực nhọc không làm Mị nguôi đi những cay đắng. Trong cuộc đời Mị nín nặng, mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Bao nhiêu ngày ở nhà thống lý là bấy nhiêu ngày Mị cam chịu sống trong địa ngục trần gian. Điều đáng thương nhất là sự áp bức của chế độ phong kiến và thần quyền miền núi đã làm Mị tê liệt đi sức phản kháng, sự tồn tại của Mị được đánh dấu bằng các công việc lặp đi lặp lại. Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi, lúc bưng ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi.

Người vợ nhặt trong câu chuyện của Kim Lân không phải chịu cảnh áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và thần quyền miền núi nhưng kiếp sống ấy bị chính bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật chà đạp. Trong chuyện không thể xuất hiện bóng dáng của những tên đế quốc đó, nhưng sự hoành hành của nạn đói là bằng chứng tố cáo đanh thép nhất về tội ác của chúng. Cái đói làm người chết như ngả rạ, người sống xanh xám như những bóng ma. Cái đói làm chị vợ nhặt gầy đét. Trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn đôi mắt trũng hoáy. Cái đói làm chị tối mắt trước cái ăn, chấp nhận bỏ lại thể diện khi ăn một chặp bốn bát bánh đúc. Khủng khiếp hơn cái đói khiến chị liều lĩnh chấp nhận theo không anh cu Tràng, chẳng biết anh Tràng là người như thế nào. Thân phận con người tưởng chừng như không thể lẻ rúng hơn được nữa. Có lẽ Thị là hình ảnh thê thảm nhất của người phụ nữ trong văn học Việt Nam hiện đại.

Hai nhân vật với hai số phận, hai hoàn cảnh, hai thời đại khác nhau nhưng ở họ luôn hiện lên là những người phụ nữ cam chịu, khổ cực, chịu thương, chịu khó. Người Vợ Nhặt dù cái đói đã làm mờ nhạt đi những vẻ đẹp trong tâm hồn chị nhưng ẩn sâu trong đó vẫn là những nét đẹp, những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đối với Mị, dù sống trong hoàn cảnh cùng cực, bị chà đạp bởi thể xác và tâm hồn tưởng chừng như mất hết ý thức làm người, không còn thiết tha với cuộc sống. Nhưng ẩn sâu trong tâm hồn cô gái ấy chính là sức sống tiềm tàng luôn được khơi dậy lên bất kỳ lúc nào.

Qua hai tác phẩm, ta thấy được số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ hiện lên trong các trang văn luôn khổ cực, cam chịu, nhẫn nhục. Nhưng ẩn sâu trong họ vẫn là những nét đẹp mang đậm đà bản sắc người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, hiền hậu, thủy chung, chăm chỉ, những ước mơ, khát vọng luôn hiện hữu trong họ.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Bình chọn:
3.8 trên 6 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 12 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Group 2K8 ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...