Soạn bài Nói và nghe: Trình bày kết quả đánh giá so sánh hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức>
Trình bày kết quả đánh giá, so sánh hai tác phẩm truyện
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh
Đề bài
Trả lời Câu hỏi trang 34 SGK Văn 12 Kết nối tri thức
Trình bày kết quả đánh giá, so sánh hai tác phẩm truyện.
Phương pháp giải - Xem chi tiết
Dựa vào bài viết
Lời giải chi tiết
Bài tham khảo 1:
Xin chào thầy cô và các bạn, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận và so sánh hai tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng của văn học Việt Nam: "Nỗi Buồn Chiến Tranh" của Bảo Ninh và "Xuân Tóc Đỏ Cứu Quốc" trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Hai tác phẩm này đã làm nổi bật những góc khuất của lịch sử và những góc nhìn đa chiều về con người.
Trước hết chúng ta sẽ cùng nhau tóm tắt lại nội dung của hai tác phẩm này. "Nỗi Buồn Chiến Tranh" của Bảo Ninh là tác phẩm kể về cuộc sống của một nhân vật sau khi chiến tranh kết thúc, anh ta đã phải chịu đựng những bi kịch và khó khăn của cuộc sống hàng ngày khi những kí ức về chiến tranh, những kỉ niệm đau thương cứ ùa về. Bằng cách tập trung vào nhân vật chính là Kiên, tác giả đã khắc họa một cách chân thực những tác động của chiến tranh lên tâm hồn con người. Với "Xuân Tóc Đỏ Cứu Quốc" - Vũ Trọng Phụng, tác phẩm lại mô tả câu chuyện của xã hội trong thời kì âu hóa tân tiến, con người muốn hòa nhập vào lối sống thời thượng nên khiến cho xã hội trở nên kệch cỡm, dởm đời giữa thời kì “Á-Âu lẫn lộn”. Đó chính là nguyên nhân cũng như là môi trường lí tưởng để bọn lưu manh khôn lỏi, thất học như Xuân Tóc Đỏ có thể một bước lên tiên, hắn bước vào thế giới thượng lưu và thay đổi thân phận. Từ một thằng đi nhặt bóng ở sân quần biến thành một ông đốc-tờ Xuân, một anh hùng cứu quốc được người đời ca tụng, tán dương.
Dù khác đề tài tuy nhiên hai tác phẩm này đã tái hiện được những giá trị khác nhau. "Nỗi Buồn Chiến Tranh" tập trung vào việc tìm hiểu tác động của chiến tranh lên cuộc sống hàng ngày và tâm hồn con người, trong khi "Xuân Tóc Đỏ Cứu Quốc" đặt vào trọng tâm vào cuộc cứu quốc kệch cỡm của bọn dởm đời, trở thành tiếng cười trào phúng xuyên suốt tác phẩm. Trong “Nỗi buồn chiến tranh” Bảo Ninh đã xây dựng cốt truyện xoay quanh nhân vật Kiên và các sự kiện hiện lên không mấy rõ ràng nhưng người đọc cũng có thể hiểu rõ bởi cách xây dựng nhân vật ở đây là một nhân vật trở lại từ chiến trường. Anh ấy sống trong cảm giác và kí ức chỉ mình anh ta thấu hiểu để rồi câu chuyện sẽ từ hiện tại ngược về quá khứ rồi lại quay về hiện tại. Đó chính là nét đặc sắc của tác phẩm này. Ngoài ra, tác giả thường sử dụng ngôn ngữ sâu sắc và tinh tế để tái hiện môi trường chiến tranh và tâm trạng của nhân vật. Còn với Vũ Trọng phụng, ông xây dựng một cốt truyện bất ngờ, kịch tính trong cuộc đấu quần vợt căng thẳng của hai nước Việt Nam và Xiêm La, cách xây dựng cốt truyện ấy càng khiến người đọc thấy rằng sự lố bịch trong thời kì đó. Nhà văn đã dùng những từ ngữ mỉa mai nhất để kể và tả lại các sự kiện. "Nỗi Buồn Chiến Tranh" thường nhấn mạnh vào sự mất mát và đau buồn trong cuộc sống thông qua diễn biến tâm lí của nhân vật Kiên trong khi "Xuân Tóc Đỏ Cứu Quốc" lại nhấn mạnh vào những tình tiết vô lí để gây cười và mỉa mai.
Dù là hai tác phẩm khác nhau về nội dung và phong cách, "Nỗi Buồn Chiến Tranh" và "Xuân Tóc Đỏ Cứu Quốc" đều là những tác phẩm văn học đặc sắc của văn học Việt Nam. Chúng không chỉ làm rõ sự đau khổ và mất mát trong cuộc chiến, mà còn tôn vinh tình yêu quê hương và sự hy sinh của con người Việt Nam. Thông qua việc so sánh hai tác phẩm này, chúng ta có thể nhận thấy sự đa dạng và phong phú và cách nhìn thế giới đa chiều của các nhà văn cũng như những giá trị nhân văn và lịch sử mà chúng mang lại.
Trên đây là phần trình bày so sánh đánh giá hai tác phẩm truyện của em, rất mong nhận được sự nhận xét góp ý của các thầy cô và các bạn.
Nhà văn Nga Sê-khốp từng khẳng định: “Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả… Nếu anh không có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ”. Quả thật, trong văn học, điều làm nên sức sống lâu bền cho một tác phẩm không chỉ nằm ở giá trị nội dung mà còn ở phong cách riêng của người sáng tạo. Với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân, người đọc đã được chứng kiến sự gặp gỡ và đồng vọng trong cảm hứng nhân đạo, đồng thời nhận ra những khác biệt trong cách tiếp cận, cách nhìn số phận và vẻ đẹp con người. Bằng những giọng điệu độc đáo, hai nhà văn đã khẳng định vị trí riêng của mình trong nền văn học hiện đại Việt Nam, đem đến cho độc giả những trải nghiệm nghệ thuật phong phú và sâu sắc.
Tô Hoài là một trong những cây đại thụ lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Với sự nghiệp đồ sộ cả về số lượng lẫn chất lượng, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm bằng vốn hiểu biết phong phú, khả năng quan sát tinh tế và ngòi bút giàu chất tạo hình. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, sáng tác trong chuyến đi thực tế dài ngày ở Tây Bắc, là kết tinh cho sự gắn bó máu thịt của ông với thiên nhiên, con người miền núi. Tác phẩm xoay quanh số phận bi kịch của Mị và A Phủ dưới ách thống trị của cường quyền, thần quyền ở Hồng Ngài. Nhưng từ đó, Tô Hoài đã khẳng định sức sống tiềm tàng, khả năng phản kháng mạnh mẽ và con đường đến với cách mạng của những con người nghèo khổ. Vợ chồng A Phủ trở thành một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông và của văn học hiện đại Việt Nam.
Kim Lân, khác với Tô Hoài, là “người một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn” (Nguyên Hồng). Ông chuyên viết truyện ngắn, gắn bó sâu sắc với cuộc sống lam lũ của người nông dân. Vợ nhặt vốn được viết dở dang từ trước Cách mạng tháng Tám, nhưng đến sau Cách mạng mới hoàn thành. Lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, tác phẩm kể lại câu chuyện anh cu Tràng nhặt được vợ giữa khi đói khát vây quanh, qua đó tái hiện thảm cảnh ghê rợn của dân tộc và khẳng định sức mạnh tình thương, khát vọng sống, niềm tin vào một tương lai đổi đời. Nếu chọn mười cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam sau 1945 thì có thể không có tên Kim Lân, nhưng nếu chọn mười truyện ngắn xuất sắc nhất thì chắc chắn Vợ nhặt có một chỗ đứng xứng đáng.
Cả hai tác phẩm đều viết về số phận người lao động nghèo khổ trong giai đoạn lịch sử đặc biệt (1945 – 1954), đều phơi bày sự tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến và nạn đói. Song điều quan trọng hơn, cả hai đều ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người: trong khổ đau, bất hạnh, con người vẫn nuôi dưỡng tình thương, khát vọng sống và ý chí vươn lên. Hai tác phẩm đều thấm đẫm tinh thần nhân đạo và là minh chứng cho sự tinh tế của ngòi bút phân tích tâm lý nhân vật.
Vợ chồng A Phủ tái hiện số phận đau khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của thần quyền, cường quyền. Mị – con dâu gạt nợ – sống kiếp đời tăm tối, quần quật như trâu ngựa, đến mức “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. A Phủ – chàng trai mồ côi, dám đứng lên chống lại bất công – cũng bị phạt vạ vô lý, biến thành kẻ làm công trả nợ, tính mạng bị rẻ rúng đến mức có thể chết trói vì mất một con bò.
Vợ nhặt lại phản ánh số phận con người rẻ mạt trong nạn đói 1945. Người dân ngụ cư chết như ngả rạ, người sống vật vờ như những bóng ma. Tràng – nghèo, xấu xí, dân ngụ cư – bỗng “nhặt” được vợ chỉ bằng mấy câu nói đùa. Người vợ nhặt – đói khát, tả tơi – chấp nhận theo không về làm vợ chỉ để có miếng ăn. Bà cụ Tứ – người mẹ già nghèo khổ – sống trong dáng vẻ lọng khọng, ám ảnh bởi cái đói.
Khác biệt trong cách cảm nhận vẻ đẹp con người:
Ở Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài tập trung khắc họa sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do cháy bỏng của người dân miền núi. Mị, từ chỗ sống tê liệt, nhờ tiếng sáo gọi bạn tình và men rượu ngày xuân đã bừng tỉnh sức sống, khao khát đi chơi, muốn được sống như xưa. Đỉnh điểm là khi Mị cắt dây trói cứu A Phủ, đồng thời tự giải thoát cho chính mình. A Phủ hiện lên khỏe mạnh, cương trực, dũng cảm chống lại bất công, và khi được giải thoát đã cùng Mị đến với cách mạng.
Ở Vợ nhặt, Kim Lân lại khẳng định tình thương và niềm tin của con người. Tràng cưu mang người vợ xa lạ, bà cụ Tứ mở lòng đón nhận con dâu trong cảnh đói khát, người vợ nhặt cũng sẵn sàng chia sẻ nghèo khó. Tình thương ấy giúp họ nuôi dưỡng khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương lai. Hình ảnh đoàn người đói đi trong lá cờ đỏ phấp phới như ánh sáng cuối tác phẩm đã dự báo về sự đổi đời của họ.
Khác biệt trong phương thức nghệ thuật:
Vợ chồng A Phủ: Giọng kể nhập vào dòng tâm tư nhân vật, nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, ngôn ngữ giàu chất thơ, đậm đà màu sắc miền núi. Những chi tiết đặc sắc như tiếng sáo, căn buồng của Mị, giọt nước mắt A Phủ… tạo nên ám ảnh nghệ thuật.
Vợ nhặt: Tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính; nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc; ngôn ngữ đời thường, tự nhiên, gần gũi; kết cấu giàu ý nghĩa biểu tượng.
Sự khác biệt này bắt nguồn từ chính hoàn cảnh sáng tác và đối tượng phản ánh: Vợ chồng A Phủ phản ánh cuộc sống người dân miền núi dưới ách cường quyền, thần quyền, nên nổi bật là sức sống, khát vọng tự do. Vợ nhặt lấy bối cảnh nạn đói, nên tập trung vào số phận rẻ rúng vì nghèo đói và khát vọng hạnh phúc. Song, điểm chung là cả hai tác phẩm đều phơi bày sự thật bi thảm của xã hội đương thời, tố cáo tội ác áp bức, đồng thời khẳng định vẻ đẹp và niềm tin vào con người.
Cùng một cảm hứng nhân đạo, Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt lại đem đến cho người đọc những dư âm khác nhau. Vợ chồng A Phủ khiến ta day dứt, ám ảnh trước số phận bi kịch của Mị, để rồi vỡ òa ngưỡng mộ khi cô vùng dậy phản kháng. Vợ nhặt khiến ta bật cười nghẹn ngào trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, để rồi cảm phục tình thương của bà cụ Tứ, sự dịu dàng của người vợ nhặt, và niềm tin lạc quan vào tương lai. Đó chính là tài năng, tâm huyết và nhân cách nghệ sĩ của Tô Hoài và Kim Lân. Như T.Sêkhốp từng nói: “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”.
So sánh Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt, ta nhận ra rằng mỗi tác phẩm là một khám phá riêng về nội dung và nghệ thuật, nhưng đều neo đậu sâu đậm trong tâm hồn người đọc. Vợ chồng A Phủ làm ta tin vào sức mạnh tiềm tàng và con đường giải phóng dân tộc, còn Vợ nhặt khiến ta thấm thía tình thương và hi vọng trong nghịch cảnh. Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, ta thêm hiểu giá trị của văn học: không chỉ ghi lại sự thật, mà còn nâng đỡ con người, hướng họ đến ánh sáng và niềm tin.
Xin chào thầy cô và các bạn, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và so sánh hai truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại: Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Mỗi tác phẩm đều khắc họa những con người trong hoàn cảnh sống cực đoan – một bên là nạn đói năm 1945, một bên là sự áp bức tàn khốc của chế độ phong kiến miền núi – nhưng đều toát lên khát vọng sống, tinh thần kiên cường và những giá trị nhân văn sâu sắc của con người Việt Nam.
Thời đại nào số phận người phụ nữ cũng là điều khiến người cầm bút trăn trở nhiều nhất. Những trang văn viết về họ bao giờ cũng là những trang viết ám ảnh, để lại trong lòng người đọc nhiều trăn trở hơn cả đã. Qua rất lâu thời của những cô Mị, thời của những người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Nhưng câu chuyện về mỗi thân phận mỗi cảnh đời của người xưa vẫn làm ta khôn nguôi.
Mị, người vợ nhặt hai con người ấy là hai số phận có thể nói là cùng khổ trong xã hội cũ. Mỗi người một cảnh ngộ riêng nhưng số phận của họ đều chung một màu đen.
Là một cô gái lao động miền núi ở Mị hội tụ tất cả những nét đẹp của một thiếu nữ xinh đẹp, tài giỏi, đảm đang, hiếu thảo.Chỉ bằng vài chi tiết nhỏ Tô Hoài đã khiến chúng ta phải say mê vẻ đẹp của bông hoa núi rừng, huống gì những thanh niên trai bản đã bị bị hút hồn ngày đêm thổi sáo cho Mị. nhưng điều cay đắng nhất là đóa hoa bản Mèo lại không được ném pao chọn người yêu, không được tìm người yêu trong phiên chợ tình. Mị sớm chịu cảnh làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Món nợ truyền kiếp từ đời cha mẹ. Nay đứa con gái phải gánh trả bằng cả hạnh phúc, tuổi trẻ của mình. Mị về làm dâu nhưng thực chất là làm người ở cho nhà Thống Lý, lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi gánh nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Câu văn của Tô Hoài vừa giúp chúng ta hình dung sự vất vả, vừa cho thấy được những tâm trạng của nhân vật. Công việc cực nhọc không làm Mị nguôi đi những cay đắng. Trong cuộc đời Mị nín nặng, mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Bao nhiêu ngày ở nhà thống lý là bấy nhiêu ngày Mị cam chịu sống trong địa ngục trần gian. Điều đáng thương nhất là sự áp bức của chế độ phong kiến và thần quyền miền núi đã làm Mị tê liệt đi sức phản kháng, sự tồn tại của Mị được đánh dấu bằng các công việc lặp đi lặp lại. Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi, lúc bưng ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi.
Người vợ nhặt trong câu chuyện của Kim Lân không phải chịu cảnh áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và thần quyền miền núi nhưng kiếp sống ấy bị chính bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật chà đạp. Trong chuyện không thể xuất hiện bóng dáng của những tên đế quốc đó, nhưng sự hoành hành của nạn đói là bằng chứng tố cáo đanh thép nhất về tội ác của chúng. Cái đói làm người chết như ngả rạ, người sống xanh xám như những bóng ma. Cái đói làm chị vợ nhặt gầy đét. Trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn đôi mắt trũng hoáy. Cái đói làm chị tối mắt trước cái ăn, chấp nhận bỏ lại thể diện khi ăn một chặp bốn bát bánh đúc. Khủng khiếp hơn cái đói khiến chị liều lĩnh chấp nhận theo không anh cu Tràng, chẳng biết anh Tràng là người như thế nào. Thân phận con người tưởng chừng như không thể lẻ rúng hơn được nữa. Có lẽ Thị là hình ảnh thê thảm nhất của người phụ nữ trong văn học Việt Nam hiện đại.
Hai nhân vật với hai số phận, hai hoàn cảnh, hai thời đại khác nhau nhưng ở họ luôn hiện lên là những người phụ nữ cam chịu, khổ cực, chịu thương, chịu khó. Người Vợ Nhặt dù cái đói đã làm mờ nhạt đi những vẻ đẹp trong tâm hồn chị nhưng ẩn sâu trong đó vẫn là những nét đẹp, những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đối với Mị, dù sống trong hoàn cảnh cùng cực, bị chà đạp bởi thể xác và tâm hồn tưởng chừng như mất hết ý thức làm người, không còn thiết tha với cuộc sống. Nhưng ẩn sâu trong tâm hồn cô gái ấy chính là sức sống tiềm tàng luôn được khơi dậy lên bất kỳ lúc nào.
Qua hai tác phẩm, ta thấy được số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ hiện lên trong các trang văn luôn khổ cực, cam chịu, nhẫn nhục. Nhưng ẩn sâu trong họ vẫn là những nét đẹp mang đậm đà bản sắc người phụ nữ Việt Nam, chịu thương, chịu khó, hiền hậu, thủy chung, chăm chỉ, những ước mơ, khát vọng luôn hiện hữu trong họ.
Xin chào thầy cô và các bạn, hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu và so sánh hai tác phẩm cổ tích dân gian tiêu biểu của văn học Việt Nam: “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” và “Thạch Sanh”. Cả hai câu chuyện đều phản ánh tư tưởng nhân văn, những quan niệm đạo đức truyền thống và lý tưởng về cái thiện thắng cái ác. Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại thể hiện theo những cách khác nhau, qua đó giúp người đọc cảm nhận được giá trị văn hóa, giáo dục và nghệ thuật của truyện cổ tích Việt Nam.
Việc sử dụng yếu tố kì ảo của hai tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” và “Thạch Sanh” có nhiều điểm tương đồng. Trước hết, trong cả hai tác phẩm Chuyện chức phán sự Đền Tản Viên và truyện cổ tích Thạch Sanh đều xuất hiện những nhân vật kì ảo, không có thật. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, hình ảnh các nhân vật kì ảo được miêu tả vô cùng chi tiết, ẩn giấu những ý nghĩa như hồn ma tướng giặc Bách hộ họ Thôi là tên tướng bại trận của Bắc Triều, cái hồn bơ vơ ở Nam Triều, tranh miếu chiếm đền Thổ Công. Đây là hiện thân của cái ác, lừa lọc, giả dối. Hay hình ảnh nhân vật Thổ Công giữ chức Ngực sự đại phu từ thời Lý Nam Đế, chết vì cần vương.. Diêm Vương là người đứng đầu Minh ti, trực tiếp phán xử vụ án giữa Tử Văn và hồn ma tướng giặc. Đây đều là những nhân vật kì ảo, không có thực, góp phần thể hiện cốt truyện. Còn trong truyện cổ tích Thạch Sanh, cũng có những nhân vật không có thực, chỉ tồn tại trong thế giới cổ tích như: Ngọc Hoàng, thái tử, chằn tinh.. , đồ vật thần kì như niêu cơm thần ăn mãi không hết, tiếng đàn giúp cho Thạch Sanh được giải oan. Tiếp đó, sự tương đồng còn được thể hiện trong mô típ của cả hai tác phẩm: vong hồn vẫn còn tồn tại sau khi chết, trong thế giới thần linh có sự phân chia Thiện- Ác… Đây là mô típ với những tình tiết khá quen thuộc xuất hiện trong nền văn học Việt Nam từ thể loại truyện cổ tích thần kì tới truyện truyền kì.
Mặc dù vậy, yếu tố kì ảo được sử dụng có những điểm khác biệt nhất định. Đầu tiên, sự xuất hiện của nhân vật chính trong cả hai tác phẩm: Truyện Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên với nhân vật chính là Ngô Tử Văn, được tác giả giới thiệu vô cùng cụ thể: tên, nơi sinh gắn với những địa điểm có thật “huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang”. Truyện cổ tích Thạch Sanh, nhân vật chính Thạch Sanh có nguồn gốc xuất thân kì ảo: Là thái tử do Ngọc hoàng cử xuống đầu thai làm con của hai vợ chồng già nghèo khó nhưng tốt bụng luôn giúp đỡ mọi người…Tiếp đó, sự khác nhau được thể hiện trong kết thúc truyện: Nếu như trong Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên, Tử Văn trở về, nhận chức phán sự đền Tản Viên thì ở truyện cổ tích Thạch Sanh, Thạch Sanh được kết duyên với công chúa và được truyền lại ngôn vua. Hơn thế nữa, về giá trị của tác phẩm được thể hiện qua mô típ chuyện cũng có nhiều điểm riêng biệt: Truyện cổ tích Thạch Sanh đã đề cao triết lý sống: “ ở hiền gặp lành”, kẻ ác phải chịu báo ứng còn trong Chức phán sự đền Tản Viên đề cao sự cứng cỏi, can đảm của kẻ sĩ, đấu tranh tìm sự công bằng không phải cho mình mà cho người yếu thế.
Qua sự phân tích, đánh giá giữa những điểm tương đồng và khác biệt, ta có thể thấy yếu tố kì ảo trong thể loại truyền kì là sự kế tục của thể loại văn học dân gian: Sự xuất hiện của những nhân vật kì ảo không có thực hay là mô típ truyện có những chi tiết hoang đường, huyền ảo như: người chết sống lại, thế giới thần linh cũng phân chia thiện ác… Dòng truyện kì ảo trung đại, dù vẫn còn mang bóng dáng của văn học dân gian, nhưng đây là những sáng tác đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, gắn liền với sự bừng ngộ, sự ý thức của con người đối với hiện thực. Cảm hứng của Nguyễn Dữ khi sáng tác Truyền kì mạn lục là lấy cái “ kì” để nói cái “ thực”.. Vì lẽ đó, yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức kể chuyện khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn, sinh động. Ngoài ra, yếu tố kì ảo và yếu tố hiện thực đan xen vào nhau, cùng tồn tại để bộ lộ tư tưởng của tác giả. Điều này khác với truyền cổ tích Thạch Sanh khi mà yếu tố kì ảo có vai trò to lớn, không thể thiếu trong sự phát triển tình tiết, giải quyết xung đột: chiếc đàn thần, niêu cơm của Thạch Sanh...
- Soạn bài Củng cố mở rộng trang 36 SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức
- Soạn bài Thực hành đọc: Trên xuồng cứu nạn SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức
- Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức
- Soạn bài Thực hành Tiếng Việt Biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ: Đặc điểm và tác dụng SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức
- Soạn bài Nỗi buồn chiến tranh SGK Ngữ văn 12 tập 1 Kết nối tri thức
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 12 - Kết nối tri thức - Xem ngay





Danh sách bình luận