200+ đề đọc hiểu Văn 8 | Luyện đề đọc hiểu lớp 8 80+ Đề đọc hiểu Truyện ngắn - Luyện đề đọc hiểu Văn 8

Đọc hiểu Giàn bầu trước ngõ (Nguyễn Ngọc Tư) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8


Tôi không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy. Chị và mẹ tôi lại ngại tóc rối. Cha tôi khó chịu khi phải dắt quan khách len lỏi bên mấy trái bầu để vào căn nhà sang trọng. Nhưng không ai dám chặt phá giàn bầu bởi nó của bà nội tôi.

Câu hỏi

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

GIÀN BẦU TRƯỚC NGÕ – Nguyễn Ngọc Tư

Tôi không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy. Chị và mẹ tôi lại ngại tóc rối. Cha tôi khó chịu khi phải dắt quan khách len lỏi bên mấy trái bầu để vào căn nhà sang trọng. Nhưng không ai dám chặt phá giàn bầu bởi nó của bà nội tôi. Bà trông nó từ hồi trong quê ra. Thoạt đầu, chị em chúng tôi thích lắm, chiều chiều lon ton xách thùng ra tưới. Chúng tôi tưới như tưới hoa. Nội cười- “Bay tưới như thằn lằn đái”. Rồi bà đổ nước soàn soạt, chúng tôi nghe theo, đổ nước soàn soạt. Dây bầu lớn. Trong cái nách mập mạp lú ra mấy trái con xanh xanh. Trái bằng đầu đũa, bằng ngón tay, cườm tay rồi to to mãi. Bữa canh đầu tiên cả nhà háo hức, nuốt tuồn tuột từng miếng bầu trong veo, ngọt lịm. Ba gật gật khen ngon, day sang trách mẹ “sao trước giờ không mua bầu mà nấu ăn bà ta?”

Một lần, hai lần rồi ba lần, chúng tôi ngán tận cổ. Mà, chết thật, nội tôi cứ trồng mãi, trồng mãi, giàn bầu ngày càng rộng ra choán hết khoảng sân kiểng của cha xanh rầm rì. Trái già đến vàng khô, không ai ăn, bà mang cho hàng xóm. Hàng xóm chúng tôi cũng giàu có, họ chê nhưng cũng nhận bởi họ nể cha tôi. Nhiều quá, sớm sớm, chiều chiều, nội mang ra ngõ, này cho chị xôi chè một quả: “ăn lấy thảo”, này cho bác xích lo trái bầu “về nấu cho sắp nhỏ”. Rồi bà lại trồng. Chị Lan nhăn nhó:

– Nội ơi, trồng chi nhiều vậy?

Bà nội cười, buồn buồn.

– Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê.

Ôi cái quê của nội. Cái quê heo hút muốn về phải đỉ mấy chặng xe, tàu. Cái quê mà mỗi lần về, vào cuối mùa mưa, đất bùn quến vào móng chân tôi, ém chặt thối đen. Cái quê đèn cầy, đèn cóc, đêm nhóc nhen kêu buồn nẫu ruột, mùa lũ, lơ phơ chỉ thấy mấy nóc nhà. Ba tôi nói “làm người đừng suy nghĩ hẹp hòi, đừng tưởng nơi mình sinh ra, nơi có mồ mả ông cha là quê hương, khắp đất nước này chỗ nào cũng là quê cả”. Cha tôi nói đúng và ông rước bà nội lên thành phố. Trước, ông chủ tịch đến nhà chơi, uống bia khà khà rồi nhắc: “- Lâu quá không gặp má, hôm nào chú mầy rước má lên, tội nghiệp bà già…” Cha bưng bát hương ông đi trước, bà nội lúi húi bưng bát hương chú Út theo sau. Ở nhà tôi, công việc nhàn đến mức bà thơ thẩn vào rồi lại thơ thẩn ra. Nhà cao cửa rộng, khéo đi, cả ngày chẳng ai gặp mặt ai. Chị tôi đi học cả ngày, mẹ tôi đến sở. Bà ra cửa trước, tôi vào cửa sau, bà lên lầu, cha đi xuống, gặp nhau ở lối ngõ cầu thang, nội ngó cha, nhắc “Lúc này bay bận rộn, đến không không ăn cơm ở nhà, khéo ngã bệnh nghen con”. Cha cười “má khỏi lo”. Rồi mỗi người mỗi ngả. Bà năng xuống bếp, quấn quít ở đấy. Chị bếp khoe:

– Bác ơi, con làm bánh tổ nè, bác cháu mình cùng ăn nghen.

Bà tôi gật gù khen ngon. Tôi tò mò nhón lấy một miếng ăn thử, nó ngòn ngọt dai dai. Thứ bánh nhà quê này xem ra có khác với Sandwich, chocolate. Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết được, nào là bánh ngọt, bánh ú….toàn là bánh nhà quê, mà hình như chỉ tôi ăn, ba mẹ, chị Lan đều tránh xa xa hỏi ” Bánh đó ăn ra làm sao? ” Tôi khoe “Sáng này nội làm bánh khọt ngọt ngon lắm.”Chị Lan tròn mắt” bánh gì tên ngộ vậy?

Ừ, ngộ, ngộ chứ. Nội mua về cái lò đất khói tù mù. Cha tôi chê. Nội mang ra ngoài hè để đỡ ám khói tường nhà. Bà bảo: “Làm bánh khọt thì phải đốt bằng lò đất, nó mới ngon”. Bà đốt lửa, mắt già tèm nhem nước mắt mùi khói thơm thơm, cay nồng. Mùa này nhiều trái bầu khô, nội hái vào móc ruột ra, lấy cái vỏ mằn mì gọt. Lâu lâu nội đưa lên nhìn, nheo nheo mắt. Tôi hỏi, nội gọt gì. Nội cười, đưa cho tôi mảnh vỏ dầy hình trái tim nỏ xíu.

– Mặt dây chuyền cho tụi nhỏ đeo.

Tôi không nén được xuỳ một tiếng.

– Thời này ai đeo mấy thứ này, nội làm chỉ mất công.

Trong đôi mắt đùng đục của bà, tôi thấy có một nỗi buồn sâu kín. Con chị bếp dưới quê lên, bà gói dúi vào tay nó mấy mảnh bầu. Con nhỏ hớn hở, vui thiệt là vui. Cũng niềm vui ấy, con bé bán vé số lỏn lẻn cười “Bà đẽo đẹp ghê ha”. Hôm sau tôi thấy nó xúng xính xỏ cọng chỉ vào, đeo tòn ten trước cổ lạ lắm. Hình như tôi ngắm vàng ròng, cẩm thạch quen rồi. Tôi xin, bà móm mém cười “Bà để dành cho bay cái đẹp nhất nè”.

Tôi gói trái tim xíu xíu kia bỏ vào ngăn tủ, chị Lan trông thấy giành “cho chị đi”. Tôi lắc đầu. Chị giận bảo “chị cóc cần, ở chợ bán hàng khối”. Nhưng rồi chị quay về nài nỉ tôi . Lần đầu tiền, tôi thấy món quà của nội dễ thường đến thế.

Giàn bầu vẫn trước ngõ. Cha tôi đã thôi khó chịu, hay bực dọc riết rồi chai đi, chẳng biết bực là gì nữa. Nhưng khách đến nhà, ai cũng khen “anh ba có giàn bầu đẹp thiệt”. Họ săm soi, từng mảng lá cuống hoa. Khách nước ngoài còn kề má bên trái bầu xanh lún phún lông tơ mà chụp hình kỷ niệm. Mấy anh chị sinh viên đạp xe ngang dừng lại nhìn đau dấu qua rào rồi kháo nhau “Nhớ nhà quá, tụi mày ơi”. Chiều chiều, tôi ra giàn bầu xanh rượi, mơ màng nghe con ong vò vẽ trên từng phiến lá, chớp mắt nhìn chim sâu lích rích chuyển cành, chuồn chuồn rồi bướm rồi hoa thi nhau nở chấp chới. Bà nội tôi yếu hơn trước, mùa mưa bắt đầu lướt sướt đi qua. Ông chủ tịch đến chơi nhà, ôm chầm lấy nội, lắc lắc “lúc này má khoẻ không?” Nội cười xoà mà nghe nghẹn nghẹn “khoẻ, má khỏe”. Cha tôi sai chị bếp mang rượu thịt ra ông chủ tịch khóa tay:

– Thôi, chú bảo chị ấy nấu canh bầu ăn.

Cha hẩng mặt. Chị bếp lúi húi gọt bầu, mùi nước canh xông vào mũi thơm lừng. Ông chủ tịch day qua bà nội khoe “lâu quá không ăn canh bầu rồi, má!” nội cười: “má nhớ bay thích nhất là ăn bầu nấu tép bạc”. Cha dôi dợm mình “để con đi mua tôm”. Ông chủ tịch ấn vai, bảo “thôi, chú cứ ngồì xuống, anh thèm lắm rồi, không chờ chú được đâu”. Hôm ấy cả nhà tôi ăn lại bát canh ngày xưa, nghe ngọt lìm lịm lưỡi. Chị bếp ngó nội, khoái chí cười đầy hàm ý. Hình như nội tôi vui.

Giàn bầu thưa hẳn đi. Cái giống lạ thật. Nắng bao lâu vẫn xanh tốt, mới mưa dầm lại héo dây. Tôi đập vỡ trái bầu khô, lấy hạt ra ươm. Mùa mưa dữ dội, nội tôi bệnh, bà bị chứng tai biến não. Nội lơ ngơ, đã cười đã khóc thì không sao dừng được, tay run rẩy cầm ca nước, bát cơm cũng khó. Trời đổ mưa, sấm giật ầm ầm, nội thều thào nhắc:

– Sắp nhỏ đừng hứng nước mưa đầu mùa, hổng tốt. Chà, mưa vầy ngập đồng rồi, ngâm giống gieo mạ đi thôi.

Bà nội lẩn thơ lẩn thẩn rồi, mà hình như bà chỉ nhớ về quá khứ. Nội hay ra ngoài hiên, chăm chăm nhìn giàn bầu đang run rẩy trong gió. Bà ngồi đấy lặng lẽ, thẫn thờ, như chờ một tiếng vạc sành, một tiếng ếch kêu. Tay bà lạnh ngắt, tôi chạy vào phòng lấy lọ dầu thoa, vẫn thấy mảnh bầu trái tim màu vàng trong ngăn kéo, cái màu vàng như của rạ, của lúa, như của mái nhà lá nhỏ lơ phơ dưới nắng chiều. Giàn bầu vẫn trước ngõ, có kẻ đi qua kêu lên, “tôi nhớ nhà”. Cha tôi bảo: “có thể bứt người ta ra khỏi quê hương nhưng không thể tách quê hương ra khỏi chúng trái tim con người.” Và cha tôi lại nói đúng.

Câu 1

Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Dấu hiệu để nhận biết ngôi kể đó?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào lời của người kể chuyện

Lời giải chi tiết

- Ngôi kể: Thứ nhất.

- Dấu hiệu: Người kể xưng tôi.

Giải thích:

Trong đoạn trích, người kể trực tiếp tham gia vào câu chuyện và xưng "tôi". Vì vậy, văn bản được kể theo ngôi thứ nhất. 

Câu 2

Nhân vật trung tâm của truyên Giàn bầu trước ngõ là ai?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định nhân vật xuất hiện nhiều nhất và giữ vai trò trung tâm trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm.

Lời giải chi tiết

Nhân vật trung tâm là người bà

Giải thích:

Mọi sự việc trong truyện đều xoay quanh bà nội: từ việc trồng giàn bầu, làm bánh, đẽo mặt dây chuyền từ vỏ bầu cho đến nỗi nhớ quê da diết của bà. Hình ảnh bà nội góp phần làm nổi bật chủ đề về tình yêu quê hương và sự gắn bó với cội nguồn.

Câu 3

Xác định lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau và chuyển lời dẫn trực tiếp ấy thành gián tiếp. Trời đổ mưa, sấm giật ầm ầm, nội thều thào nhắc:

- Sắp nhỏ đừng hứng nước mưa đầu mùa, hỏng tốt. Chà, mưa vầy ngập đồng rồi, ngâm giống gieo mạ đi thôi.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Nhận biết lời dẫn trực tiếp qua dấu hai chấm và gạch đầu dòng.

Lời giải chi tiết

- Lời dẫn trực tiếp: "Sắp nhỏ đừng hứng nước mưa đầu mùa, hỏng tốt. Chà, mưa vầy ngập đồng rồi, ngâm giống gieo mạ đi thôi."

- Chuyển sang gián tiếp: Trời đổ mưa, sấm giật ầm ầm, nội thều thào nhắc sắp nhỏ rằng đừng hứng nước mưa đầu mùa, hỏng tốt. Nội bảo mưa vầy sẽ ngập đồng, ngâm giống gieo mạ đi thôi.

Giải thích:

Đây là lời dẫn trực tiếp vì tác giả ghi lại nguyên văn lời nói của bà nội sau dấu hai chấm và gạch đầu dòng. Khi chuyển sang lời dẫn gián tiếp, lời nói được thuật lại bằng lời của người kể chuyện, không giữ nguyên hình thức ban đầu.

Câu 4

Giàn bầu được nói đến trong đoạn trích trên có ý nghĩa tượng trưng cho điều gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Chú ý các chi tiết, hình ảnh giàn bầu

Lời giải chi tiết

Giàn bầu được nói đến trong đoạn trích trên có ý nghĩa tượng trưng cho: Quê hương với những điều gần gũi, giản dị, thân thương, mộc mạc, chân tình..

Giải thích:

Bà nội trồng giàn bầu để vơi đi nỗi nhớ quê. Giàn bầu gắn liền với những món ăn dân dã, những kỷ niệm quê nhà và trở thành biểu tượng của quê hương trong tâm hồn bà.

Câu 5

Theo em, vì sao cả nhà "ăn lại bát canh ngày xưa, nghe ngọt lìm lịm lưỡi. Chị Bếp ngó nội, khoái chí cười đầy hàm ý"?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Dựa vào hoàn cảnh và diễn biến tâm lí của các nhân vật.

Lời giải chi tiết

Vì đây là món ăn mà ngày trước mọi người đều rất yêu thích, nay mới được thưởng thức lại nên cảm xúc đẹp đẽ, vẹn nguyên của quá khứ ùa về, sống dậy trong lòng mỗi người.

Giải thích:

Vị "ngọt lìm lịm" không chỉ là vị ngọt của trái bầu mà còn là vị ngọt của tình thân, của sự thấu hiểu và yêu thương. Chị bếp cười đầy hàm ý vì chị nhận ra cuối cùng cả gia đình đã hiểu được tấm lòng của bà nội và biết trân trọng những điều giản dị bà mang đến.

Câu 6

Vì sao mọi người lại có thái độ khác nhau với giàn bầu? Qua đó, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Phân tích thái độ, cảm xúc của các nhân vật đối với giàn bầu và rút ra ý nghĩa tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm. 

Lời giải chi tiết

- Thái độ của gia đình người con với giàn bầu:

+ Mọi người trong nhà: Lúc đầu chăm bầu, ăn canh bầu thấy thích, nhưng rồi người cha thấy giàn bầu che mất khoảng sân kiểng xanh rì, che mất ngôi nhà sang trọng, dẫn khách len lỏi, khó đi; chị gái và mẹ ngại tóc rối, nhân vật “tôi” “không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy.

+ Khách: Ông chủ tịch, khách Tây, mấy anh chị sinh viên thấy giàn bầu dừng lại nhìn đau đáu rồi kháo nhau: “Nhớ nhà quá”... vì thấy giàn bầu gần gũi, thân thương, gợi cảnh quê hương.

+ Chị bếp thích giàn bầu, con chị bếp hớn hở, vui thiệt là vui, con bé bán vé số lỏn lẻn cười: “Bà đẽo đẹp ghê ha” khi được bà cho dây chuyền tòn ten làm từ vỏ bầu.

+ Bà nội: trồng giàn bầu cho đỡ nhớ quê, làm các món quà từ bầu…, vui buồn gắn với giàn bầu, xem giàn bầu là nơi kết nối với quê hương.

- Thông điệp:

+ Mối quan hệ giữa con người và quê hương rất khăng khít, cụ thể, gần gũi.

+ Thể hiện mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, nhắc nhở về việc hiểu và tôn trọng giá trị truyền thống qua những vật gần gũi, quen thuộc trong thời hiện đại.

Giải thích:

Giàn bầu là biểu tượng của quê hương, ký ức và tình cảm gia đình. Qua sự thay đổi thái độ của các nhân vật đối với giàn bầu, tác giả khẳng định rằng có thể con người rời xa quê hương nhưng quê hương vẫn luôn sống trong trái tim họ. 


Bình chọn:
3.6 trên 5 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 8 - Xem ngay

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 8 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...