Phân tích đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán.

Bình chọn:
3.5 trên 4 phiếu

Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát cảnh đời ô nhục, có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình. Nàng đã gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”

Mười hai câu đầu đoạn trích tả cảnh Thúy Kiều báo ân.

Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát cảnh đời ô nhục, có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình. Nàng đã gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”. Nàng gọi Thúc Sinh là “người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi, rồi lại gọi là “cố nhân” mang sắc thái trang trọng. Với nàng dù có “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa dễ xứng với ơn nghĩa nặng của Thúc Sinh.

Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều cũng nhắc về  Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa.

Có sự khác nhau trong ngôn ngữ của Kiều khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ điển cố “Sâm Thương” cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều. Còn lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “Kẻ cắp bà già gặp nhau”, “Kiến bò miệng chén” với những từ Việt dễ hiểu; hành động trừng phạt kẻ ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Đoạn thơ còn lại miêu tả Thúy Kiểu báo oán.

Những lời đầu tiên của Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến. Giọng điệu ấy của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư trong quan niệm dân gian “mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.

Trước thái độ của Kiều, lúc đầu Hoạn Thư có sợ hải “hồn lạc, phách xiêu”, nhưng vẫn kịp ứng phó thông minh “liệu điều kêu ca”.

Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lý thường tình của phụ nữ để gỡ tội.

Rằng tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

Tiếp đến Hoạn Thư kể công không hành hạ Kiều và đã cho Kiều ra viết kinh ở gác Quan Âm rồi cũng không đuổi theo bắt giữ nàng khi nàng bỏ trốn. Cuốì cùng, Hoạn Thư nhận tội, xin Kiều mở lòng khoan dung độ lượng.

Cách lí sự của Hoạn Thư khiến Kiều phải thừa nhận đây là con người khôn ngoan, giảo hoạt. Người bị đưa tới chỗ khó xử, nàng có răn đe Hoạn Thư nhưng cuốì cùng thì đã khoan dung độ lượng tha cho.

Việc Kiều tha bổng Hoạn Thư là hợp lí là đúng. Vì cách gỡ tội khôn khéo của Hoạn Thư song chủ yếu là vì tấm lòng Kiều vốn vị tha nhân hậu.

 Trích: loigiaihay.com

Soạn bài Thúy kiều báo ân báo oán trang 106 SGK Văn 9 Soạn bài Thúy kiều báo ân báo oán trang 106 SGK Văn 9

1. Mười hai câu đầu là Thúy Kiều báo ân (trả ơn). 2. Những câu thơ còn lại là Thúy Kiều báo oán

Xem chi tiết
Phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán Phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán

Nguyễn Du đã sáng tạo ra những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện báo ân báo oán, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều.

Xem chi tiết
Phân tích hình tượng Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán. Phân tích hình tượng Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán.

Trước lời nói, thái độ của Kiều, lúc đầu Hoạn Thư cũng hồn lạc, phách xiêu nhưng vẫn kịp liệu điều kêu ca. Đây quả là con người khôn ngoan, giảo hoạt.

Xem chi tiết
Phân tích hình tượng nhân vật Thúc Sinh trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán. Phân tích hình tượng nhân vật Thúc Sinh trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán.

Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ mời rất trọng vọng. Trước cảnh gươm lớn giáo dài, chàng Thúc hoảng sợ đến mức mất cả thần sắc, mặt như chàm đổ, người run lên như đi không vững.

Xem chi tiết
Nói chuyện với học sinh, Hồ Chủ tịch đã dạy: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó . Em hãy bình luận lời dạy đó. Nói chuyện với học sinh, Hồ Chủ tịch đã dạy: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó . Em hãy bình luận lời dạy đó.

Lời dạy đó vừa có ý nghĩa lí luận, vừa có giá trị thực tiễn nên đã vạch ra được phương hướng tu dưỡng cho mỗi người là phải rèn luyện cả tài lẫn đức để trở thành một con người toàn diện.

Xem chi tiết
Cảnh nào …vui đâu bao giờ (Truyện Kiều - Nguyễn Du)  Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời củ Cảnh nào …vui đâu bao giờ (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời củ

Với việc vận dụng thành công thủ pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong việc diễn tả tâm trạng “Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nguyễn Du đã bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm, đa đoan và một tâm hồn nhân ái đến tuyệt vời.

Xem chi tiết
Chuyện người con gái Nam Xương Chuyện người con gái Nam Xương

Trích “Truyền kỳ mạn lục” – Nguyễn Dữ). A. KIẾN THỨC CƠ BẢN, I. Tác giả: - Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải.

Mùa xuân là đề tài truyền thống trong thơ ca dân tộc. Thanh Hải đã góp cho thơ ca dân tộc một bài thơ xuân đẹp, đậm đà tình nghĩa.Tình yêu mùa xuân gắn liền với tình yêu đất nước, quê hương được Thanh Hải diễn tả một cách sâu sắc, cảm động

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 9, luyện vào lớp 10, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa  cùng các Thầy, Cô giáo giỏi nổi tiếng, dạy hay, dễ hiểu, dày dặn kinh nghiệm tại Tuyensinh247.com