Soạn bài Thúy kiều báo ân báo oán trang 106 SGK Văn 9

Bình chọn:
3.7 trên 9 phiếu

1. Mười hai câu đầu là Thúy Kiều báo ân (trả ơn). 2. Những câu thơ còn lại là Thúy Kiều báo oán

1. Mười hai câu đầu là Thúy Kiều báo ân (trả ơn)

-      Thúc Sinh được mời tới bằng... gươm trong cảnh oai nghiêm: “Cho gươm mời đến Thúc lang”. Chàng Thúc hoảng sợ đên mức “mặt như chàm đổ”, người run lên như đi không vững. Hình ảnh tội nghiệp của Thúc Sinh có thể làm Kiều động lòng trắc ấn không nỡ đánh người thế và cũng tạo nên sự bất ngờ trong việc trả ơn, báo oán tiếp theo.

-     Qua lời nói của Kiều, có thể thấy rằng nàng rất trọng tấm lòng sự giúp đỡ mà Thúc Sinh dành cho nàng trong cơn hoạn nạn:

+ Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát cảnh đời ô nhục. Cùng với chàng Thúc, Kiều có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình. Nàng gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”. Trong hình của cách nói văn chương, sách vở là tấm lòng biết ơn chân thật của Kiều Hai chữ “người cũ” trong Tiếng Việt mang sắc thái thân mật gần khác với hai chữ “cố nhân' mang sắc thái trang trọng.

+ Vì gắn bó với Thúc Sinh mà đời Kiều thêm một lần khổ với thân phận làm lẽ nhưng đau đớn hơn một kẻ tôi đòi. Tuy nhiên Kiều hiểu đau khổ của nàng không phải do Thúc Sinh gây ra mà thủ phạm là Hoạn Thư. Thúy Kiều thấu hiểu hoàn cảnh của Thúc Sinh: "Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”. Với Kiều thì dù có “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa thể xứng với ơn nghĩa của Thúc Sinh. Tâm lòng “nghĩa nặng nghìn non” thì gấm vóc, vàng bạc nào có thể cân cho được.

+ Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt: nghĩa, chữ tòng, cố nhân, tạ lòng... điển cô": Sâm Thương. Cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

-      Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư. Điên : chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xa. Lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức nôm na, bình dị Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc: “kẻ cắp bà già gặp nhau', “kiến bò miệng chén ” với những từ Việt dễ hiểu. Hành động trừng phạt cái ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

2. Những câu thơ còn lại là Thúy Kiều báo oán

-     Hành động, lời nói của Kiều đều biểu thị thái độ mỉa mai đôi với Hoạn Thư. Nàng vẫn dùng cách xưng hô như hồi còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn, vần “chào thưa”, vần gọi “tiểu thư". Cách xưng hô này trong hoàn cảnh giữa Kiều và Hoạn Thư đã có sự thay bậc đối ngôi là một đòn mĩa mai quất mạnh vào danh gia họ Hoạn.

-      Trong lời nói của Kiều có cả giọng đay nghiến khi câu thơ như dằn ra từng tiếng, khi từ ngữ được lặp lại, nhấn mạnh: dễ có, dễ dàng, mất tay, mất mặt, mất gan, đời xưa, đời này, càng cay nghiệt, càng oan trái...Cách nói này hoàn toàn phù hợp với đối tượng là Hoạn Thư, phù hợp với con người “Bề ngoài thơn thớt nói cười - Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

Giọng điệu mỉa mai, đay nghiến của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư theo đúng quan niệm dân gian “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại”, “Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.

3. Trước lời nói, thái độ của Kiều, phút giây đầu Hoạn Thư có “hồn lạc, phách xiêu”. Nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, Hoạn Thư vần kịp "liệu điều kêu ca”. Đây quả là con người khôn ngoan, giảo hoạt.

+ Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lí thường tình của người phụ nữ để gỡ tội: “Rằng tôi chút phận đàn bà - Ghen tuông thì củng người ta thường tinh”. Lí lẽ này đã xóa đi sự đối lập giữa Kiều và Hoạn Thư. đưa Kiều từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung "chút phận đàn bà”. Nếu Hoạn Thư có tội thì cũng là do tâm lý chung cua giới nữ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Từ tội nhân, Hoạn Thư đã lý lẽ để mình trở thành nạn nhân của chế độ đa thê.

+ Tiếp đến Hoạn Thư kể lại “công” đã cho Kiều ra viết kinh ở gác Quan Âm và không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn.

+ Cuối cùng Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình, chi còn biết trông cậy vào tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn rộng như trời biển của Kiều:

“Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

4. Trước những lời kêu ca của Hoạn Thư, Kiều đã phải thừa nhận đây là con người “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”. Hoạn Thư đưa Kiều tới chỗ khó xử: “Tha ra thì củng may đời - Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Nàng có răn đe Hoạn Thư nhưng rồi lại khoan dung độ lượng: “Đã lòng tri quả thì nên”. Hoạn Thư đã biết lỗi, đã xin tha thì Kiều cũng cư xử theo quan điểm triết lí nhân gian “Đánh người chạy chứ không đánh người chạy lại”.

Qua cách lí lẽ đế gỡ tội, có thế thấy Hoạn Thư “sâu săc nước đời" đến “quỷ quái tinh ma”. Tuy nhiên việc Hoạn Thư được tha bống không hoàn toàn phụ thuộc vào sự “tự bào chữa” mà chủ yếu là do tấm lòng độ lượng của Kiều. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán một lần nữa làm ngời lên tấm lòng vị tha nhân hậu của Thúy Kiều.

Phân tích đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán. Phân tích đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán.

Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát cảnh đời ô nhục, có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình. Nàng đã gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”

Xem chi tiết
Phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán Phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán

Nguyễn Du đã sáng tạo ra những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện báo ân báo oán, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều.

Xem chi tiết
Phân tích hình tượng Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán. Phân tích hình tượng Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán.

Trước lời nói, thái độ của Kiều, lúc đầu Hoạn Thư cũng hồn lạc, phách xiêu nhưng vẫn kịp liệu điều kêu ca. Đây quả là con người khôn ngoan, giảo hoạt.

Xem chi tiết
Phân tích hình tượng nhân vật Thúc Sinh trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán. Phân tích hình tượng nhân vật Thúc Sinh trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán.

Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ mời rất trọng vọng. Trước cảnh gươm lớn giáo dài, chàng Thúc hoảng sợ đến mức mất cả thần sắc, mặt như chàm đổ, người run lên như đi không vững.

Xem chi tiết
Cảnh nào …vui đâu bao giờ (Truyện Kiều - Nguyễn Du)  Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời củ Cảnh nào …vui đâu bao giờ (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời củ

Với việc vận dụng thành công thủ pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong việc diễn tả tâm trạng “Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nguyễn Du đã bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm, đa đoan và một tâm hồn nhân ái đến tuyệt vời.

Xem chi tiết
Nói chuyện với học sinh, Hồ Chủ tịch đã dạy: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó . Em hãy bình luận lời dạy đó. Nói chuyện với học sinh, Hồ Chủ tịch đã dạy: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó . Em hãy bình luận lời dạy đó.

Lời dạy đó vừa có ý nghĩa lí luận, vừa có giá trị thực tiễn nên đã vạch ra được phương hướng tu dưỡng cho mỗi người là phải rèn luyện cả tài lẫn đức để trở thành một con người toàn diện.

Xem chi tiết
Phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Hai bức tranh mĩ nhân bằng thơ đã thể hiện bút pháp ước lệ tượng trưng và các biện pháp tu từ trong ngòi bút tinh tế của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Xem chi tiết
Hãy phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Hãy phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng là một bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo. Thiên nhiên ở đây liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 9, luyện vào lớp 10, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa  cùng các Thầy, Cô giáo giỏi nổi tiếng, dạy hay, dễ hiểu, dày dặn kinh nghiệm tại Tuyensinh247.com