Bài thơ Đồng chí như một định nghĩa bằng thơ về hai chữ Đồng chí, là bài ca về tình đồng chí của những người lính cách mạng, Hãy chứng minh.

Bình chọn:
3.8 trên 4 phiếu

Người lính cầm súng là để bảo vệ cuộc sống hoà bình, hạnh phúc, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Súng và trăng, thực và mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ,... đó là các mặt bổ sung cho nhau của cuộc đời người lính cách mạng, làm nên vẻ đẹp của tình đồng chí.

Bài thơ ĐỒNG CHÍ như một định nghĩa bằng thơ về hai chữ “Đồng chí" là bài ca về tình đồng chí của những người lính cách mạng.

Bảy câu thơ đầu lí giải cơ sở hình thành nên tình đồng chí. Hai câu đầu giới thiệu quê hương của "anh” và “tôi", những người lính xuất thân từ nông dân “anh” ở nơi “nước mặn đồng chua” là nơi vùng ven biển, đất khó làm ăn; “tôi” ở vùng đồi núi trung du "đất cày lên sỏi đá”- đất khó canh tác. Ra đi từ những vùng quê khác nhau nhưng các anh đều chung cái nghèo. Sự tương đồng về cảnh ngộ xuât thân nghèo khó là cơ sở đồng cảm giai cấp của những người lính.

Chính điều đó khiến họ từ những phương trời “xa lạ” tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách mạng và trở nên gắn bó. “Súng bên súng, đầu sát bên đầu” là hình ảnh sinh động, gợi cảm về mối tình gắn bó của những con người chung một lí tưởng, sát cánh chiến đấu vì độc lập tự do của Tố quốc.

Sống trong quân ngũ, tình cảm của các anh nảy nở và ngày càng gắn bó. “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Câu thơ đầy ắp ki niệm và ấm áp tình đồng đội.

Từ sự sóng đôi của “anh” và “tôi” trong từng dòng thơ đến sự gần gũi “anh với tôi” trong một câu thơ và đến “đôi tri kỉ” - là một tình bạn keo sơn, gắn bó và cao hơn nữa là “Đồng chí!”. Từ rời rạc, riêng lẻ, dần nhập thành chung, thành một, khăng khít, khó tách rời. Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai chữ “Đồng chí” và dấu (!) tạo một nốt nhấn, nó vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi thiết tha, ấm áp, xúc động, lắng đọng trong lòng người về hai tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó. Đồng thời, câu thơ như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ, làm nổi rõ một tất yếu, một kết luận: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau và mở ra ý tiếp: Đồng chí còn là như thế nào nữa?

Mười câu thơ tiếp nói về những biểu hiện cụ thể, cao đẹp của tình đồng chí, đồng đội.

Những đêm rét chung chăn, tấm chăn khép lại đã mở ra biết bao tâm tình của những người đồng đội. Họ thấu hiểu và chia sẻ với nhau mọi tâm tư nỗi niềm. Mỗi người lính đã để lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê (ruộng nương, gian nhà) để ra đi chiến đấu.

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.

Hai chữ “mặc kệ" nói được cái dứt khoát, mạnh mẽ, quyết ra đi, nhưng người lính vẫn nặng lòng gắn bó với làng quê thân yêu. Nói “gian nhà không" vừa gợi gian nhà nghèo nàn, xơ xác, vừa gợi cá cái trống trải của ngôi nhà, của lòng người ở lại khi người đàn ông ra trận. Nói “mặc kệ" mà không dửng dưng, vô tình. Các anh hiểu rõ lòng nhau và hiểu cả nỗi niềm của người thân của nhau nơi hậu phương: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.Cách nói tế nhị hợp với tâm hồn người lính nông dân vốn kín đáo trong tình cảm. Câu thơ nói quê hương nhớ người lính mà thực ra là nói người lính nhớ nhà. Nỗi nhớ hai chiều nên càng da diết.

Tình đồng chí đã đem đến cho các anh những tình cảm mới mẻ, vượt lên phạm vi gia đình, làng xóm, quê hương, nâng người chiến sĩ lên trong tình đồng đội, tình giai cấp, lớn hơn là tình yêu nước. Tình cảm ấy khiến họ càng xích lại gần nhau hơn trong cuộc đời người lính biết bao gian khổ.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Họ nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời sống. Họ cùng chịu bệnh tật, những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng thiếu, cùng rách. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Hình ảnh thơ chân thực, xúc động, gợi tả. Để diễn tả sự gắn bó, chia sẻ giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính. Tác giả xây dựng những cặp câu sóng đôi, đôi ứng nhau (từng cặp hoặc trong từng câu). Đáng chú ý là người lính bao giờ cũng nhìn bạn, nói về bạn trước khi nói mình, chữ “anh” bao giờ cũng xuất hiện trước chừ “tôi”. Cách nói ấy phải chăng thể hiện nét đẹp trong tình cảm: thương người như thể thương thân, trọng người hơn trọng mình. Chính tình đồng đội làm ấm người chiến sĩ, để họ vẫn cười trong buốt giá và vượt lên buốt giá. Cảm động nhất là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Những bàn tay như biết nói, đã nói lên bao tình cảm ấm áp, đắm sâu, lặng lẽ mà thấm thía. Nắm lấy bàn tay nhau để ấm đôi bàn chân, để trụ vững trước mọi gian lao, thiếu thốn. “Đồng cam cộng khổ” khiến tình đồng chí thêm sâu dày để cùng đi tới chiều cao: cùng sát cánh chiến đấu.

Ba câu cuối nói lên biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí: cùng chung chiến hào. Tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách gian lao và đây là thử thách lớn nhất. Ba câu thơ như dựng lên bức tượng đài sừng sững về tình đồng chí, về người chiến sĩ. Trên cái nền hùng vĩ, khắc nghiệt của thiên nhiên: đêm - rừng hoang - sương muối, người chiên sĩ “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Hình ảnh họ sát cánh bên nhau vững chãi tràn đầy khí thế lạc quan, làm mờ đi cái gian khổ, ác liệt của cuộc chiến đấu, tạo nên tư thế thành đồng vách sắt trước quân thù. Chính ở nơi sự sống và cái chết chỉ kề nhau tích tắc này cũng là nơi thử thách và bộc lộ tình đồng chí thiêng liêng, cao đẹp và phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ. Hình ảnh họ khắc đậm lại, tượng hình lại trong chi tiết bất ngờ, độc đáo: “Đầu súng trăng treo”. Rất thực và cũng rật lãng mạn. Trong những đêm phục kích giặc giữa rừng khuya, người lính còn có thêm người bạn nữa là vầng trăng, trăng trôi trên nền trời, nhìn lên, trăng như treo trên đầu ngọn súng. Nhịp 2/2 gợi lên như nhịp lắc của một cái gì chung chiêng, lơ lửng trong sự bát ngát, chứ không phải là buộc chặt. Súng và trăng cũng thành một cặp đồng chí tô đậm vẻ đẹp của cặp đồng chí kia. Bên đồng đội, tâm hồn người chiến sĩ vẫn bình thản và lãng mạn ngay cả giữa nguy hiểm, gian lao. Hình ảnh thơ gợi nhiều liên tưởng. Súng: hình ảnh của chiến tranh, khói lửa; trăng: hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình. Sự hoà hợp giữa súng và trăng vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và tình đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh yêu nước. Người lính cầm súng là để bảo vệ cuộc sống hoà bình, hạnh phúc, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Súng và trăng, thực và mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ,... đó là các mặt bổ sung cho nhau của cuộc đời người lính cách mạng, làm nên vẻ đẹp của tình đồng chí.

Trích: loigiaihay.com

Các bài liên quan: - Đồng chí - Chính Hữu

Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ Đồng chí. Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ Đồng chí.

Qua bài thơ về tình đồng chí hiện lên chân dung “anh bộ đội cụ Hồ” buổi đầu kháng chiến - bình dị mà cao cả.

Xem chi tiết
Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm, tình cảm người lính, vẻ đẹp của “Đồng chí” là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng ánh sáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hoà quyện vào tình giai cấp.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu Phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu

Bài thơ Đồng chí với ngôn ngữ chân thực, hình ảnh lãng mạn, nụ cười ngạo nghễ của các chiến sĩ đã lay động biết bao trái tim con người. Tình đồng chí ấy có lẽ sẽ sống mãi với quê hương, với Tổ quốc, với thế hệ hôm nay, ngày mai hay mãi mãi về sau.

Xem chi tiết
So sánh hình ảnh người lính cách mạng ở hai bài thơ  Đồng chí - Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật. So sánh hình ảnh người lính cách mạng ở hai bài thơ Đồng chí - Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật.

Hình tượng người lính dù ở thời kì kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến chống Mĩ đều mang phẩm chất cao đẹp của “anh bộ đội Cụ Hồ” thời đại đã cung cấp cho các nhà thơ những nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên những hình tượng làm xúc động lòng người.

Xem chi tiết
Nói chuyện với học sinh, Hồ Chủ tịch đã dạy: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó . Em hãy bình luận lời dạy đó. Nói chuyện với học sinh, Hồ Chủ tịch đã dạy: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó . Em hãy bình luận lời dạy đó.

Lời dạy đó vừa có ý nghĩa lí luận, vừa có giá trị thực tiễn nên đã vạch ra được phương hướng tu dưỡng cho mỗi người là phải rèn luyện cả tài lẫn đức để trở thành một con người toàn diện.

Xem chi tiết
Cảnh nào …vui đâu bao giờ (Truyện Kiều - Nguyễn Du)  Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời củ Cảnh nào …vui đâu bao giờ (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời củ

Với việc vận dụng thành công thủ pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong việc diễn tả tâm trạng “Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nguyễn Du đã bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm, đa đoan và một tâm hồn nhân ái đến tuyệt vời.

Xem chi tiết
Phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Hai bức tranh mĩ nhân bằng thơ đã thể hiện bút pháp ước lệ tượng trưng và các biện pháp tu từ trong ngòi bút tinh tế của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Xem chi tiết
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ và nói lên cảm nghĩ của em. Ngữ văn lớp9 Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ và nói lên cảm nghĩ của em. Ngữ văn lớp9

Nhân vật Vũ Nương là người con gái bạc mệnh đáng thương đó có bao phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho đức hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 9, luyện vào lớp 10, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa  cùng các Thầy, Cô giáo giỏi nổi tiếng, dạy hay, dễ hiểu, dày dặn kinh nghiệm tại Tuyensinh247.com