Thế kỷ thứ VI - IV tr. CN

Bình chọn:
3.3 trên 3 phiếu

Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia ở Ấn Độ. Đầu thế kỷ thứ VI tr. CN. Bắc Ấn Độ có nhiều quốc gia (đế chế hay cộng hòa) nhỏ, độc lập hay phụ thuộc. Đấu tranh giai cấp phát triển.

Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia ở Ấn Độ. Đầu thế kỷ thứ VI tr. CN. Bắc Ấn Độ có nhiều quốc gia (đế chế hay cộng hòa) nhỏ, độc lập hay phụ thuộc. Đấu tranh giai cấp phát triển. Sức sản xuất cũng phát triển mạnh ở vùng dọc sông Hằng. Thủ công và thương nghiệp phát triển. Thời kỳ này, Ba Tư, và sau đó là Hy Lạp, đủ nối liền Ấn Độ với thế giới Địa Trung Hải. Bọn quý tộc Ấn Độ cần hàng hóa để trao đổi, chúng càng ra sức bóc lột. Thợ thủ công và thương nhân tập trung quanh các vương quốc mạnh. Thành thị phát triển. Cuối thế kỷ IV tr. CN hình thành đế quốc Maurya với vương triều Chandragupta. Đây là thời kỳ tri thức khoa học Ấn Độ phát triển mạnh: đã biết quả đất tròn và tự quay xung quanh trục của nó, biết làm lịch chính xác, biết đến chữ số và hệ thống đếm thập phân, đại số, lượng giác, tính căn, đường tròn, y học và hóa học phát triển. Đó là thời kỳ phát triển của tư duy trừu tượng, thời kỳ tạo nên các hệ thống tôn giáo - triết học của Ấn Độ. Các hệ thống đó đấu tranh gay gắt với nhau, thử đưa ra các cách giải thích thế giới, đưa ra những con đường "giải thoát” khác nhau. Trong cuộc đấu tranh đó, những vấn đề thuộc về thế giới quan, vũ trụ luận, bản thể luận chiếm vai trò quan trọng.

Trong các tài liệu cổ Ấn Độ, người ta thường dùng từ "Dar'sana" để chỉ khái niệm triết học. Nhưng không rõ từ này ra đời lúc nào. Có người cho rằng từ này đầu tiên được dùng trong Vai’sesika - Sùtra của Kanada, tức là thời kỳ Tiền Phật giáo. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, lúc các hệ thống triết học Ấn Độ cổ được sáng lập chưa có từ này, mà các nhà triết học về sau ở giai đoạn muộn như Samkara, Udayana mới dùng từ này để chỉ triết học. Trong các thư tịch cổ chưa có từ này. Trong Anth'sastra dùng khái niệm Anviksiki. Khái niệm này về sau dùng để chỉ lôgíc:

Dar'sana có thể gốc từ động từ drst (lý hội, lý giải, thấy). Đối với các nhà triết học Ấn Độ cổ, Dar'sana hay triết học, chủ yếu là những nguyên lý dẫn đến "giải thoát" (Moksa), tức ra khỏi vòng luân hồi. Nhưng không phải triết học Ấn Độ chỉ xoay quanh Moksa. Trên thực tế, Lokàyata đã chế giễu Moksa, Mimànsà đã lãnh đạm với Moksa.

Về nguồn tài liệu để nghiên cứu triết học Ấn Độ cũng có những đặc điểm cần lưu ý. Nguồn tài liệu đầu tiên của các hệ thống triết học thường là Sùtra (Kinh). Những tác phẩm triết học về sau thường là các chú giải cho Sĩìtra, gọi là bhàsya, và chú giải cho chú giải tức là tikà. Có khi là tập chuyên luận bằng thơ, gọi là Kàrikà hay là tập phê phán, Vàrttika.

Sùtra, theo truyền thống, thường được coi là của một tác giả nào đó, nhưng thực tế, ta biết là theo truyền thuyết chứ không có lịch sử rõ ràng. Chẳng hạn Vaisesikasùtrn (kinh của hệ thống triết học Vai sesika - nguyên tử) được coi là của Kanada, cũng có tên là Kanabhak' sa hay Kanabuj , có nghĩa là “ăn hạt". Theo cách giải thích truyền thống thì nhà hiền triết này nuôi mình bằng các hạt thu được do mùa màng, nhưng các học giá hiện đại (A.B. Keith, R. Garbe) thì cho rằng cái tên đó gắn liền với lý thuyết nguyên tử của ông. Nhà hiền triết này còn có tên là Ưlùka, nghĩa là “cú mèo". Truyền thuyết kể rằng Siva đã hiện ra dưới dạng con cú mèo để dạy nhà hiền triết nạy triết học nguyên tử. Do đó triết học nguyên tử còn được gọi là "Triết học cú mèo" (Aulùkya - dar'sana) (Ràhula Sànkrtyàyana muốn giải thích tên gọi này bằng ảnh hưởng từ Hy Lạp đến triết học này vì hình tượng cú mèo Athene còn giữ lại trong triết học Hy Lạp. Thực ra đó là sự suy diễn. Tên "cú mèo" có thể là tên thị tộc dòng họ tác giả).

Sự hiểu biết về các người sáng lập những hệ thống khác cũng chẳng phong phú gì hơn. Trong cái đại dương mờ mịt, chỉ có một sự kiện có thể coi là có tính lịch sử, là người sáng lập ra Phật giáo, Buddha. Nhưng chúng ta cũng cần phải phân biệt cái học thuyết nhiều vẻ ngây thơ của ông với những quan điểm triết học tinh tế mà sau này gọi là triết học Phật giáo. Niên đại của các Sùtra đều là ước đoán và ý kiến của các nhà nghiên cứu về niên đại của các Sùtra là rất khác nhau.

Người Ấn Độ cổ đại cũng có phong cách riêng độc đáo khi trình bày các quan điểm, hệ thống triết học của mình. Phong cách của công trình triết học Ấn Độ cổ là trình bày quan điểm của tác giả bằng cách phê phán ý kiến đối lập. Nhà triết học trình bày ý kiến của đối thủ để làm rỏ ý kiến của mình. Ý kiến đối lập đó được gọi là Piirvapak'sa. Từ chỗ chỉ ra cái sai của ý kiến đối lập, người ta trình bày các kết luận của mình, tức là siddhànta. Nhưng các nhà triết học còn tranh luận công khai giữa đám đông. Đó là một hiện tượng đời sống xã hội cổ Ấn Độ. T. Stcherbatskỵ coi tác phẩm lôgíc “Nyảya - Sủtra" ra đời là nhờ những cuộc biện luận công khai như vậy. Sự tranh biện phát triển với sự phổ biến Phật giáo, với sự tồn tại nhiều Vihara (vừa là tu viện, vừa là trường đại học).

Theo cách phân chia truyền thống, ở Ấn Độ cổ đại có chín hệ thống triết học. Chín hệ thống này lại được chia làm hai loại:

Theo nhà ngữ pháp Pànini thì Pàstika là người tin vào thế giới bên kia, còn nàstika là người không tin vào thế giới đó. Theo luật Manu thì nàstika là "người làm ô nhục Veda". Tiêu chuẩn “chính thống của triết học Ấn Độ là sự thừa nhận tính đúng đắn tuyệt đối của Veda. Những người Phật giáo và Jaina giáo có kinh điển riêng, nên họ bị coi là "tà giáo".

Tuy nhiên, có một số hệ thống được coi là chính thống nhưng không có, hay có rất ít điểm chung với Veda, theo tinh thần hay nội dung các nguyên lý triết học.

Theo phái chính thống thì ba hệ thống tà piáo chống Veda là:

  1. Lokàyatíi (cũng gọi là Carvakn hay Barhaspntyn): triết học duy vật
  2. Phật giáo
  3. Jaina giáo

Sáu hệ thống được coi là chính thống Veda là:

  1. Mimànsà (còn gọi là Pùrva - mimànsà)
  2. Vedànta (cũng pọi là Uttarn – mimànsà)
  3. Sàinkhuya.
  4. Yopa; chú trọng các vấn đề thực tiễn, không phải là lý luận triết học.
  5. Nyàya, hệ thống đầu tiên nghiên cứu phưong pháp biện luận và các vấn đề liên qian đến lôgíc.
  6. Vai’sesika, nghiên cứu các phạm trù thực thế như vật chất, chất lượng...

Trong sáu hệ thống đó, quyền uy của Veda chỉ có ý nghĩa quyết định đối với Mimànsà và Vedànta.

Nhưng trước hết, ta hãy xem xét Veda là gì ?

Loigiaihay.com

Thời kỳ xâm nhập của người Arya Thời kỳ xâm nhập của người Arya

Sau thời kỳ Harappa là thời kỳ Veda. Nó được phản ánh trong các tập sách mà nay gọi là Veda. Tập cổ nhất là Riveda (Các khúc hát du mục). Các tập Veda là nguồn suối của tư tưởng Ấn Độ.

Xem chi tiết
Thời kỳ văn minh Sông Ấn (Indus) Thời kỳ văn minh Sông Ấn (Indus)

Văn minh sông Indus hay văn hóa Harappa là một nền văn minh thành thị đã xuất hiện từ khoảng 2.500 năm tr. CN.

Xem chi tiết
Lý thuyết: Đôi nét về lịch sử xã hội Ấn Độ cổ đại, về sự phát triển của triết học Ấn Độ Lý thuyết: Đôi nét về lịch sử xã hội Ấn Độ cổ đại, về sự phát triển của triết học Ấn Độ

Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu về ruộng đất là hai đặc điểm lớn nhất, ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt của lịch sử Ấn Độ.

Xem chi tiết
Lý thuyết: Văn học Veda và triết học Veda Lý thuyết: Văn học Veda và triết học Veda

Veda là gì ? Veđa có nghĩa là hiểu biết. Đối với phái chính thống, Veda có nghĩa là những tri thức cao cả, thiêng liêng . Trong nghĩa cụ thể, Veda là một khối lượng tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảng thời gian trên dưới 2.000 năm, không đồng nhất về văn phong và nội dung.

Xem chi tiết
Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm phủ định dùng để chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác, giai đoạn vận động, phát triển này bằng giai đoạn vận động, phát triển khác. Theo nghĩa đó, không phải bất cứ sự phủ định nào cũng dẫn tới quá trình phát triển.

Xem chi tiết
Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào? Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào?

- Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, phát triển va lịch sử cụ thể: Quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc về phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

Xem chi tiết
Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm lực lượng sản xuất + Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người.

Xem chi tiết
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là "hạt nhân" của phép biện chứng. Theo V.I.Lênin. "Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập.

Xem chi tiết