Bình giảng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (bài 3)

Bình chọn:
3.7 trên 3 phiếu

Trăng là đề tài muôn thuở của thi ca. Với ánh sáng huyền diệu, với chu kì tròn, khuyết lạ lùng, trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều ý tưởng sâu xa. Nguyễn Duy là nhà thơ lớn lên từ đồng quê, trăng như một ám ảnh. Rồi xê dịch với thời gian, với không gian, trăng vẫn đeo đuổi nhà thơ và thế là thành thơ, thành triết lí

                                                                Mình về thành thị xa xôi

             Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng

Phố đông còn nhớ bản làng

                     Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữu rừng.

(Tố Hữu)

Trăng là đề tài muôn thuở của thi ca. Với ánh sáng huyền diệu, với chu kì tròn, khuyết lạ lùng, trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều ý tưởng sâu xa. Nguyễn Duy là nhà thơ lớn lên từ đồng quê, trăng như một ám ảnh. Rồi xê dịch với thời gian, với không gian, trăng vẫn đeo đuổi nhà thơ và thế là thành thơ, thành triết lí.

Nguyễn Duy đã chọn thể thơ năm chữ với nhịp điệu linh hoạt để thể hiện sự vận động của không gian, của thời gian

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

 hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

Hồi ức được kể lại bằng hình ảnh. Hình ảnh chuyển rất nhanh. Cái hay là bằng hình ảnh của không gian (đồng - sông - bể - rừng) đã diễn tả sự vận động của thời gian - sự trưởng thành của nhà thơ (một nhà thơ lớn lên từ đồng quê). Khi hình ảnh vầng trăng xuất hiện thì nhịp thơ chậm lại, hợp với sự suy ngẫm:

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.

Nhà thơ nói “hồi chiến tranh ở rừng, vầng trăng thành tri kỉ"  là đã quá sâu sắc vậy mà nhà thơ còn khắc đậm thêm tình cảm giữa nhà thơ với trăng. Người chiế sĩ sống giữa rừng “trần trụi với thiên nhiên", nói "trần trụi” là nhà thơ muốn nói đến sự gần gũi với thiên nhiên, với trăng, không có gì ngăn cách (như nhà lầu, cửa gương chẳng hạn). Tâm hồn người chiến sĩ thì hồn nhiên vô tư đến độ “như cây cỏ”. Cho nên vầng trăng chẳng những là "tri kỉ”, mà còn “tình nghĩa":

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.

Nhịp điệu tự sự ban đầu lại tái hiện với sự vận động của không gian, vói sự xê dịch của tình cảm. Cái “ngỡ không bao giờ quên” đã quên:

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường.

Hình ảnh nhân hóa rất hay “vầng trăng đi qua ngõ”. Trăng đâu có cao xa vời vợi, trăng vẫn gần gũi thân thương, vậy mà “như người dưng qua đường”.  Thế mới biết hoàn cảnh tác động đến con người ghê gớm thật! Tố Hữu đã dự báo mấy chục năm về trước rồi. Bây giờ Nguyễn Duy nhắc nhở thêm, càng thấm thía.

Bài thơ được phát triển đến một tứ thơ có chút kịch tính:

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn - đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng.

Vầng trăng hiện ra “đột ngột” giữa lúc “đèn  điện tắt” “phòng buyn- đinh tối om" gây xúc động cho con người đã “quen ánh điện, cửa gương”. Vầng trăng tri kỉ vầng trăng “tình nghĩa" vẫn “tròn”. “ Vầng trăng tròn"  xuất hiện giữa lúc thành phố “tối om" làm xáo trộn tâm hồn nhà thơ. Nhìn trăng, nhà thơ nhớ lại những kỉ niệm của tuổi thơ, nhớ lại những kỉ niệm của chiến tranh, của cuộc sống chiến sĩ:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng.

Trong câu thơ “ngửa mặt lên nhìn mặt”, tác giả dùng hai từ “mặt” rất hay. Nếu từ "mặt" thứ hai mà nói rõ là “mặt trăng” thì câu thơ sẽ tầm thường. “Ngửa mặt lên nhìn mặt” là nhìn mặt của tri kỉ, mặt của tình nghĩa mà bấy lâu mình dửng dưng. Sự thủy chung của vầng trăng đã làm động lòng “người vô tình”. Thì ra “mình với trăng tuy hai mà một”.

Cánh cửa sổ phòng buyn-đinh mở ra với vầng trăng là mở ra với thế giới bao la, tâm hồn của nhà thơ cũng mở ra đến chiều sâu thẳm:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

Hình ảnh “vầng trăng tròn" còn được nhà thơ nhìn lại: “tròn vành vạnh ", thật là đẹp, một vẻ đẹp viên mãn (đẹp của ánh sáng, của tình nghĩa thủy chung, nhân hậu). Nhìn thấy “trăng tròn vành vạnh", người vô tình càng thấy cái khuyết điểm của mình. Người vô tình gặp lại người tri kỉ sáng trong, tình nghĩa, nhân hậu mà vô ngôn thì thật đáng sợ:

ánh trăng im phăng phắc

 đủ cho ta giật mình.

Cái “giật mình" chân thành có sức cảm hóa lòng người. Bằng hình ảnh ánh trăng hiện ra đột ngột giữa khung cảnh thành phố, bài thơ như một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu... Bài thơ gây được xúc động bởi cách diễn tả như một lời tâm sự chân thành, lời tự nhắc nhở có giọng trầm tĩnh mà lắng sâu. Khổ cuối của bài thơ đưa tới chiều sâu lí tưởng triết lý: Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ, “kể chi người vô tình”, là biểu tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp. Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân, mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ.

 Trích: loigiaihay.com

Các bài liên quan: - Ánh trăng - Nguyễn Duy

Bình giảng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (bài 2) Bình giảng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (bài 2)

Ánh trăng của Nguyễn Duy gây được nhiều xúc động đối với nhiều thế hệ độc giả bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ, mới lạ. Ánh trăng còn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải giật mình suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.

Xem chi tiết
Bình giảng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (bài 1) Bình giảng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (bài 1)

Ánh trăng là một bài thơ hay. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, tài hoa. Sự phong phú vần điệu, ngôn ngữ trong sáng, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhà thơ tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng ánh trăng đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Bài thơ “Ánh trăng” in trong tập thơ cùng tên, được Nguyễn Duy sáng tác vào nãm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ ca ngợi vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời gợi nhắc mọi người biết sống ân nghĩa thủy chung, giữ tròn đạo lí tốt đẹp.

Xem chi tiết
Cảm nhận bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy. Cảm nhận bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Lời thơ không triết lý, chau chuốt nhưng đã để lại trong lòng người đọc dòng suy nghĩ về nhân tình thế thái; quá khứ và hiện tại luôn song hành nhắc nhở hoàn thiện mỗi con người; chính nghệ thuật dùng sự hồi tưởng, tự đấu tranh, suy nghĩ trong nội tâm con người đã làm nên thành công, khiến bài thơ còn mãi với thời gian.

Xem chi tiết
Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí - Ngắn gọn nhất Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí - Ngắn gọn nhất

Soạn văn lớp 9 tập 1 ngắn gọn bài Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn – trích) - Ngô Gia Văn Phái. Câu 1: Đoạn 1: Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.

Xem chi tiết
Soạn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp - Ngắn gọn nhất Soạn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp - Ngắn gọn nhất

Soạn văn lớp 9 tập 1 ngắn gọn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp. Câu 1: Phần câu in đậm ở ví dụ (a) là lời nói của nhân vật.

Xem chi tiết
Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du trang 77 SGK Văn 9 Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du trang 77 SGK Văn 9

1. Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời của Nguyễn Du đã có ảnh hưởng đến việc sáng tác Truyện Kiều:

Xem chi tiết
Cảm nghĩ của em về người anh hùng Nguyễn Huệ trong chương XIV của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Cảm nghĩ của em về người anh hùng Nguyễn Huệ trong chương XIV của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.

Quang Trung không chỉ là nhà quân sự thiên tài “xuất quỷ, nhập thần” mà còn là một vị tướng giàu lòng yêu nước, có ý thức dân tộc hết sức sâu sắc.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 9, luyện vào lớp 10, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa  cùng các Thầy, Cô giáo giỏi nổi tiếng, dạy hay, dễ hiểu, dày dặn kinh nghiệm tại Tuyensinh247.com