Soạn văn 12 chân trời sáng tạo, Soạn văn lớp 12 hay nhất Bài 2. Những ô cửa nhìn ra cuộc sống

Soạn bài Lão Hạc SGK Ngữ văn 12 tập 1 Chân trời sáng tạo


Hãy hình dung khi con người rơi vào tình cảnh nghèo đói và túng quẫn, họ sẽ có cách phản ứng như thế nào? Câu chuyện trong đoạn này được kể qua điểm nhìn của ai?


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Thể hiện số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý, tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với người nông dân.

Trước khi đọc

Trả lời Câu hỏi Trước khi đọc trang 31 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Qua sách báo và tài liệu lịch sử, bạn hãy tìm hiểu và chia sẻ thông tin về nông thôn và đời sống nông dân Việt Nam thời kì Pháp thuộc, đặc biệt là giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. 

Phương pháp giải:

Liên hệ bản thân để trả lời câu hỏi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Trong thời kì Pháp thuộc, đặc biệt trước Cách mạng tháng Tám 1945, nông thôn Việt Nam – nơi sinh sống của phần lớn dân số và họ phải chịu nhiều áp bức nặng nề. Thực dân Pháp cùng địa chủ tay sai chiếm đoạt nhiều ruộng đất, đặt ra hàng loạt thứ thuế và bắt phu, bắt lính, khiến nông dân vừa mất đất, vừa đói nghèo, nợ nần chồng chất. Đời sống kinh tế bấp bênh, xã hội ngột ngạt bởi cường hào, hủ tục và sự thất học. Tuy vậy, trong cảnh khốn cùng ấy, nông dân vẫn nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh, tham gia nhiều phong trào yêu nước và trở thành lực lượng cách mạng to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Xem thêm
Cách 2

1. Bối cảnh

- Nông thôn: nơi ở phần lớn dân số.

- Bị tác động nặng nề bởi chính sách khai thác thuộc địa của Pháp.

2. Chính sách của thực dân Pháp

- Bị chiếm đoạt ruộng đất → lập đồn điền, giao cho địa chủ tay sai.

- Thuế khóa chồng chất: thuế thân, thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện...

- Bắt phu, đi lính, sưu dịch nặng nề.

3. Đời sống kinh tế

- Nghèo đói, thiếu ăn thường xuyên.

- Nợ nần, bị địa chủ – cho vay nặng lãi bóc lột.

- Phân hóa xã hội: một ít phú nông giàu có, đa số nông dân nghèo khổ.

4. Đời sống xã hội – tinh thần

- Bị áp bức, thất học, hủ tục nặng nề.

- Cường hào, ác bá lộng hành ở nông thôn.

- Tinh thần đấu tranh dâng cao: tham gia Xô viết Nghệ Tĩnh (1930–1931), khởi nghĩa, Việt Minh.

5. Đặc điểm nổi bật trước Cách mạng tháng Tám

- Nông thôn còn khép kín theo làng xã.

- Mâu thuẫn giai cấp gay gắt: nông dân – địa chủ, nhân dân – thực dân.

- Đời sống khốn cùng (đỉnh điểm nạn đói 1945).

- Nông dân: lực lượng cách mạng đông đảo, nòng cốt.

Xem thêm
Cách 2

Trong khi đọc 1

Trả lời Câu hỏi 1 Trong khi đọc trang 31 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Thái độ của ông giáo đối với ý định bán chó của lão Hạc như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Sự thấu hiểu, cảm thông và day dứt 

Xem thêm
Cách 2

Ông giáo vừa thương lão Hạc nghèo khổ, bất hạnh, vừa xót xa cho tình cảnh người nông dân bị dồn đến bước đường cùng.

Xem thêm
Cách 2

Trong khi đọc 2

Trả lời Câu hỏi 2 Trong khi đọc trang 33 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Đây là lời kể của ai?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhân vật ông giáo

Xem thêm
Cách 2

Đây là lời kể của ông giáo

Xem thêm
Cách 2

Trong khi đọc 3

Trả lời Câu hỏi 3 Trong khi đọc trang 34 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Bạn nghĩ gì về tình cảm, thái độ của lão Hạc dành cho con qua đoạn văn này?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Là người thương con vô bờ bến

- Quyết tâm giữ mảnh vườn, ngôi nhà của mình cho thằng con trai. Ông mong những điều tốt đẹp sẽ đến với con trai của mình

- Hằng ngày vẫn mong mỏi đứa con nơi phương xa

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Tình cảm, thái độ của lão Hạc dành cho con: Ông già gầy gò hằng ngày vẫn sống ở đó, quyết tâm giữ mảnh vườn, ngôi nhà của mình cho thằng con trai. Ông mong những điều tốt đẹp sẽ đến với con trai của mình. Hằng ngày, lão vẫn mong mỏi đứa con nơi phương xa.

Lão Hạc là người cha yêu thương con vô bờ, dù nghèo nhưng vẫn muốn dành những điều tốt đẹp nhất cho con, hi vọng một ngày nào đó con sẽ trở về.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong khi đọc 4

Trả lời Câu hỏi 4 Trong khi đọc trang 35 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Đoạn văn này cho thấy lão Hạc là người như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

+ Lão kể lại cho ông giáo việc bán “cậu Vàng” với tâm trạng vô cùng đau đớn

+ Khi nhắc đến việc cậu Vàng bị lừa rồi bị bắt, lão Hạc không còn nén nổi nỗi đau

+ Lão Hạc đau đớn đến không phải chỉ vì quá thương con chó, mà còn vì lão không thể tha thứ cho mình vì đã nỡ lừa con chó trung thành của lão. 

→ Phải có trái tim vô cùng nhân hậu và trong sạch thì mới bị dày vò lương tâm đau đớn đến thế, mới cảm thấy có lỗi với một con cho như vậy.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Lão Hạc là người hết mực yêu thương con chó vàng, coi nó như một người bạn; đau khổ, day dứt của Lão Hạc sau khi bán cậu Vàng.

Lão Hạc là một người tốt, có trái tim nhân hậu và giàu lòng yêu thương. Lão đau đớn, tự trách vô cùng, lão thấy có lỗi với cậu Vàng.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong khi đọc 5

Trả lời Câu hỏi 5 Trong khi đọc trang 37 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Đây là lời của nhân vật “tôi" hay lão Hạc?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhân vật “tôi"

Xem thêm
Cách 2

Đây là lời của nhân vật tôi

Xem thêm
Cách 2

Trong khi đọc 6

Trả lời Câu hỏi 6 Trong khi đọc trang 38 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Bạn có đồng tình với suy nghĩ của ông giáo về lão Hạc trong đoạn này?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Suy nghĩ của ông giáo về lão Hạc phù hợp bởi ai rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, họ có thể sẽ làm những việc trái với lương tâm của mình.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Không đồng tình với suy nghĩ của ông giáo vì lão Hạc là một người giàu lòng tự trọng, một người thương con, day dứt vì bán chó, ngại nhờ cậy hàng xóm thì không thể nào theo gót Binh Tư được.

Tôi có đồng tình với suy nghĩ của ông giáo về lão Hạc trong đoạn này vì nghèo khó đến cùng cực sẽ đẩy chúng ta vào ngõ cụt của cuộc đời, làm chuyện trái lương tâm vì miếng cơm manh áo. Căn bản trước khi thành người xấu thì ai cũng là người tốt.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 1

Trả lời Câu hỏi 1 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Tóm tắt nội dung truyện ngắn Lão Hạc

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Truyện ngắn của nhà văn Nam Cao là câu chuyện kể về lão Hạc, một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão vốn có vợ và có một người con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai một cuộc sống hạnh phúc. Người con trai lão do quẫn trí nên đã đăng kí đi làm ở đồn điền cao su trong miền Nam. Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa con. Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão đã mất bao công sức để mua về và để dành cho con trai của lão. Nhưng do một trận bão mà cả một sào hoa màu đã mất trắng, lại cộng thêm một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão dành dụm cho con trai đã mang ra dùng gần hết. Lão có một con chó tên là Vàng - một con chó mà lão coi như người bạn trung thành nhất. Nhưng cũng vì muốn dành tiền cho con trai mà lão đã quyết định bán con chó đi. Quyết định này đã dằn vặt lão rất nhiều. Thế rồi, lão quyết định chọn chết bằng bả chó - một cái chết đau đớn và dữ dội. Lão cũng tự dành tiền cho đám ma của chính mình để không làm phiền đến bà con hàng xóm. Lão chọn cái chết ấy để trừng phạt bản thân mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể đó là cách để lão giải thoát cho bản thân mình sau khoảng thời gian sống cùng cực, đau khổ. Câu chuyện được kể lại qua lời kể của ông giáo - người chứng kiến mọi sự khổ đau của lão Hạc và dường như trong nhân vật này, người đọc cũng có thể thấy hiện lên chính giọng kể của tác giả.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Lão Hạc là một người nông dân nghèo, vợ mất sớm, chỉ có một mảnh vườn và người con trai. Vì không có tiền cưới vợ, con trai lão Hạc sinh phẫn chí đi lên đồn điền cao su với lời thề khi nào kiếm được bạc trăm mới trở về. Từ đó, lão Hạc sống thui thủi một mình với con chó Vàng làm bạn, bòn vườn sống qua ngày. Sau trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê được nữa. Rồi lại bão mất mùa, lão rơi vào hoàn cảnh khó khăn, cơ cực bội phần. Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con trai về có cái sinh sống, Lão Hạc dằn vặt lương tâm mình khi quyết định bán đi con chó Vàng. Lão nhờ ông giáo trông hộ mảnh vườn cho con trai và gửi tiền làm ma để không phiền hàng xóm. Lão Hạc xin ít bã chó của Binh Tư. Biết được chuyện này, ông giáo rất buồn vì nghĩ rằng con người như lão Hạc chỉ vì cái nghèo đói mà cũng bị tha hoá. Rồi lão chết đột ngột, dữ dội và đau đớn. Không ai biết vì sao lão chết trừ Ông Giáo và Binh Tư.

Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ, sống cô đơn với con chó Vàng sau khi con trai phẫn chí bỏ đi làm đồn điền cao su vì không có tiền cưới vợ. Do tuổi già sức yếu, Lão không thể làm thuê kiếm sống, buộc phải bán đi mảnh vườn và đàn chó Vàng để lấy tiền trang trải cuộc sống. Lão gửi gắm số tiền bán chó cho ông giáo và dặn dò ông giáo nhiều việc, trong đó quan trọng nhất là giữ gìn mảnh vườn cho con trai Lão. Cuộc sống của Lão ngày càng túng quẫn, Lão phải ăn khoai, ăn sung, thậm chí ăn cả mả con chó Vàng. Khi không còn cách nào khác, Lão tìm đến Binh Tư, một người chuyên rình mò bắt chó, để xin bả chó. Lão Hạc tự kết liễu đời mình bằng cách ăn bả chó. Sau khi Lão Hạc chết, ông giáo mới hiểu được nguyên nhân cái chết của Lão và thương xót cho số phận bi đát của người bạn già.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 2

Trả lời Câu hỏi 2 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Nêu một số nét tính cách nổi bật của nhân vật lão Hạc và cho biết:

a. Những chi tiết nào thể hiện tính cách đó? 

b. Hoàn cảnh sống đã tác động như thế nào đến số phận, tính cách của nhân vật? Theo bạn, lão Hạc tiêu biểu cho tầng lớp nào trong xã hội đương thời? 

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

a.

- Yêu con: lão nhất quyết giữ mảnh vườn để dành cho con trai, dù nghèo khổ cũng không bán.

- Thương con chó Vàng (kỷ vật của con): đau khổ, dằn vặt khi buộc phải bán nó.

- Trung thực, tự trọng: từ chối sự giúp đỡ của ông giáo, xin gửi vườn nhờ bán sau khi chết để lo ma chay.

b. - Một lão nông già yếu, cô đơn → tình cảnh bi đát 

- Vì nghèo, lão dự định bán đi cậu Vàng – kỉ vật của anh con trai, người bạn thân thiết của bản thân mình - và chọn con đường kết thúc cho mình.

→ Dù hoàn cảnh sống có khốn cùng đến đâu, lão Hạc vẫn giữ cho mình phẩm chất tốt đẹp, cốt cách sáng ngời

- Lão Hạc là hình tượng tiêu biểu cho số phận đau khổ, bi thảm của người nông dân Việt Nam trước cách mạng. Dù trong hoàn cảnh nghèo khó, ông vẫn giữ được phẩm chất của một người nông dân chất phát và hiền lành.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Nét tính cách của nhân vật lão Hạc: Lão Hạc là một người nông dân có mảnh đời vô cùng nghèo khổ, bất hạnh nhưng lại luôn giữ được nhân cách trong sạch, tâm hồn thanh cao.

a. - Yêu thương con sâu nặng.

- Giản dị, chân chất, trung thực.

- Tự trọng, giàu lòng tự trọng và nhân phẩm.

b. Hoàn cảnh sống đã tác động đến tính cách của nhân vật Lão Hạc.

- Một ông lão khiêm cung trong cử chỉ, tinh tế trong đối xử, hiểu đời, hiểu người nhưng bất lực và đau đớn tự giày vò về sự bất lực ấy.

- Là con người có lòng tự trọng rất cao.

- Một người cha thương con vô bờ, quên mình cho cuộc sống của con - một sự hi sinh cao cả.

- Lão đúng như tên gọi của lão, con hạc già thanh cao giữa cuộc đời lầm than, ô trọc, bụi bặm.

-> Lão Hạc đại diện cho tầng lớp người nông dân nghèo khổ, túng quẫn trong xã hội đương thời.

a. Lão Hạc tiêu biểu cho tầng lớp nông dân Việt Nam trước cách mạng.

b. Hoàn cảnh sống nghèo khổ, cô đơn, túng quẫn đã tác động mạnh mẽ đến số phận và tính cách của Lão Hạc:

- Số phận bi đát: Lão phải bán đi mảnh vườn, đàn chó Vàng, thậm chí phải ăn bả chó để tự tử.

- Tính cách: Lão trở nên cẩn trọng, đề phòng, lo toan, chắt bóp từng đồng.

- Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn, Lão vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp: yêu thương con sâu sắc, hiền lành, chất phác, sống có trách nhiệm, biết yêu thương, trân trọng những điều nhỏ bé.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 3

Trả lời Câu hỏi 3 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Xác định ngôi kể, điểm nhìn và chỉ ra tác dụng của cách sử dụng ngôi kể, điểm nhìn đó trong văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Kể theo ngôi thứ nhất, điểm nhìn từ ông giáo. 

→ Như thế sẽ cho câu chuyện gần gũi hơn, chân thực hơn và người dọc có thể nhập cuộc, chia sẻ cảm giác cùng các nhân vật người đọc có cảm giác như mình đang được nghe ông giáo ngồi ngay bên cạnh kể lại câu chuyện cũng như hiểu rõ được tất cả cảm giác của ông giáo. câu chuyện dẫn dắt tự nhiên, linh hoạt, ko cần tuân theo trật tự thời gian, ko gian, có thể kết hợp tự sự và trữ tình, phản ánh và bộc lộ cảm xúc...

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất

- Điểm nhìn: Điểm nhìn từ nhân vật tôi

→ Tác dụng:

+ Là người gần gũi, chứng kiến toàn bộ cảnh đời của lão Hạc nên câu chuyện do ông giáo thuật lại sẽ trở nên chân thực, giàu cảm xúc.

+ Việc kể ở ngôi thứ nhất khiến cho mạch kể linh hoạt.

 - Ngôi kể:

+ Truyện "Lão Hạc" được kể theo ngôi thứ nhất (tôi - ông giáo).

 - Điểm nhìn:

+ Điểm nhìn trong truyện "Lão Hạc" là điểm nhìn của nhân vật "tôi" (ông giáo).

 - Tác dụng của cách sử dụng ngôi kể, điểm nhìn:

+ Ngôi thứ nhất:

Giúp cho câu chuyện chân thực, sinh động hơn như được kể lại từ chính người trong cuộc.

Tạo sự gần gũi, đồng cảm giữa người đọc với nhân vật "tôi" và Lão Hạc.

- Điểm nhìn của nhân vật "tôi":

Giúp cho người đọc hiểu rõ tâm tư, tình cảm của Lão Hạc.

Giúp cho người đọc thấy được sự quan tâm, đồng cảm của nhân vật "tôi" đối với Lão Hạc.

Giúp cho người đọc có cái nhìn khách quan về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 4

Trả lời Câu hỏi 4 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Liệt kê một số từ ngữ, chi tiết thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của ông giáo về hành động của lão Hạc. Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm của ông giáo đối với người láng giềng này. 

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Một số từ ngữ, chi tiết thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của ông giáo về lão Hạc:

+ “Chao ôi!”, “thật là một người lương thiện”, “lão đã chọn cái chết để khỏi phiền lụy đến ai”…

+ Những đoạn ông giáo suy ngẫm: nếu không cố tìm mà hiểu thì chỉ thấy người ta gàn dở, bần tiện, nhưng hiểu rồi thì thấy họ rất đáng thương.

- Nhận xét:

+ Ông giáo có thái độ cảm thông, trân trọng và xót thương lão Hạc.

+ Tình cảm ấy thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nam Cao: thấu hiểu, trân trọng phẩm chất cao quý của người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Các chi tiết, từ ngữ thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của ông giáo: như “lão Hạc là một người lương thiện”, “còn đáng kính hơn nhiều người giàu có”, “chao ôi!”, cùng những dòng trăn trở về việc “cố tìm mà hiểu” con người.

Nhận xét: Qua đó, có thể thấy ông giáo nhìn lão Hạc bằng ánh mắt thấu hiểu, thương cảm và kính trọng. Ông không chỉ xót xa cho số phận nghèo khổ mà còn trân trọng nhân cách cao đẹp của lão, thể hiện quan niệm nhân đạo sâu sắc của Nam Cao.

- Về cái chết của Lão Hạc:

+ Cái chết của Lão Hạc là một cái chết đầy thương tâm và bi đát. Nó cho thấy số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội phong kiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Lão Hạc là một người nông dân hiền lành, chất phác, chăm chỉ, yêu thương con sâu sắc nhưng lại phải chịu đựng cảnh nghèo đói, bất hạnh. Lão đã cố gắng bám víu lấy cuộc sống, nhưng cuối cùng không thể qua khỏi và phải chọn cái chết để bảo toàn mảnh vườn cho con trai.

+ Cái chết của Lão Hạc là lời tố cáo xã hội phong kiến bất công đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Nó cũng thể hiện sự bất lực của Lão Hạc trước hoàn cảnh. Lão không thể làm gì khác để bảo vệ con trai mình và mảnh vườn của mình.

 - Về việc nhân vật ông giáo có lúc không hiểu hoặc hiểu lầm Lão Hạc:

+ Ông giáo là người gần gũi, thân tình với Lão Hạc. Ông là người hiểu rõ Lão Hạc hơn ai hết. Tuy nhiên, vẫn có lúc ông giáo không hiểu hoặc hiểu lầm Lão Hạc.

- Có thể có một số lý do giải thích cho điều này:

+ Lão Hạc là một người có lòng tự trọng cao. Lão không muốn làm phiền người khác nên đã giấu diếm ông giáo về hoàn cảnh thực sự của mình.

+ Lão Hạc là một người đàn ông già, cô đơn. Lão không có ai để chia sẻ những tâm tư, tình cảm của mình.

+ Ông giáo cũng là một người có nhiều lo toan. Ông có gia đình để lo lắng nên không thể dành hết thời gian để quan tâm đến Lão Hạc.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 5

Trả lời Câu hỏi 5 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Đọc đoạn văn sau: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương…” (Lão Hạc). Từ việc trả lời câu 4, hãy cho biết:

a. Đoạn văn thể hiện quan niệm của ông giáo về vấn đề gì? Ông giáo đã "cố tìm mà hiểu" lão Hạc như thế nào?

b. Suy nghĩ của bạn về quan niệm đó. 

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

a. Đoạn văn thể hiện quan niệm của ông giáo về cách nhìn người: muốn thương phải hiểu, không nên chỉ nhìn bề ngoài mà phán xét. Ông giáo đã “cố tìm mà hiểu” lão Hạc và nhận ra đằng sau sự gàn dở, nghèo khổ là một con người lương thiện, tự trọng, giàu tình thương.

b. Đây là quan niệm nhân văn sâu sắc: cần sống thấu cảm, biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để hiểu và thương họ. Trong cuộc sống hôm nay, điều đó giúp chúng ta bớt vô cảm, biết yêu thương và sẻ chia hơn.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

a. - Đoạn văn thể hiện quan niệm của ông giáo về cách nhìn nhận, đối xử với con người: muốn hiểu và thương người thì cần phải đặt mình vào hoàn cảnh của họ, nhìn sâu vào bản chất chứ không dừng lại ở bề ngoài.

- Ông giáo đã "cố tìm mà hiểu" lão Hạc bằng sự cảm thông và thấu hiểu: nhận ra đằng sau vẻ ngoài “gàn dở” là một con người hiền lành, trung thực, giàu tình thương, giàu lòng tự trọng; thấy được nỗi đau khổ, giằng xé của lão khi phải bán chó, khi sống nghèo túng, cô đơn, khi chọn cái chết để giữ nhân phẩm.

b. - Quan niệm này rất đúng đắn và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc: dạy con người phải biết sống thấu cảm, nhìn người bằng sự bao dung và nhân ái, không vội vàng phán xét hay lạnh lùng vô cảm.

- Trong cuộc sống hôm nay, điều đó vẫn còn nguyên giá trị: mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, nếu ta biết nhìn sâu để thấu hiểu, chúng ta sẽ bớt định kiến, biết cảm thông, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

a. Phân tích ngữ cảnh:

- Lời nói: Lời nói này được nhân vật ông giáo - người kể chuyện trong tác phẩm Lão Hạc - thốt ra.

- Đối tượng: Lời nói này được ông giáo nhắc nhở bản thân và người đọc về tầm quan trọng của việc thấu hiểu người khác.

- Hoàn cảnh: Lời nói này xuất hiện sau khi ông giáo hiểu ra nguyên nhân cái chết bi thảm của Lão Hạc. Ông giáo đã hối hận vì không hiểu được hoàn cảnh và nỗi khổ tâm của Lão Hạc.

- Mục đích: Lời nói này thể hiện sự thức tỉnh của ông giáo về tầm quan trọng của việc thấu hiểu con người. Đồng thời, tác giả nhắc nhở người đọc về bài học nhân văn sâu sắc này.

b. Ý nghĩa, tác dụng của tinh thần “cố tìm mà hiểu" “những người quanh ta":

- Đối với nhà văn Nam Cao:

+ Giúp ông sáng tạo nên những nhân vật chân thực, sinh động:

Nhờ thấu hiểu cuộc sống và con người, Nam Cao đã xây dựng nên những nhân vật mang đậm dấu ấn hiện thực, có tính cách phức tạp, nội tâm sâu sắc như Lão Hạc, Binh Tư, ông giáo,...

Các nhân vật của Nam Cao không chỉ gây ấn tượng bởi số phận bi thảm mà còn bởi tâm hồn đẹp đẽ và những phẩm chất tốt đẹp ẩn sâu bên trong.

+ Giúp ông thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc trong tác phẩm:

Nhờ thấu hiểu nỗi khổ của người nông dân, Nam Cao đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với họ và lên án xã hội phong kiến bất công đã đẩy họ vào bước đường cùng.

Các tác phẩm của Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội thối nát mà còn ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 6

Trả lời Câu hỏi 6 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Bạn có nhận xét gì về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 qua truyện ngắn Lão Hạc?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Đọc tác phẩm, người ta thấy cả không khí ngột ngạt mà người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng Tám phải chịu đựng. Và ở giữa cái guồng quay tàn nhẫn ấy, có những con người, những thân phận đang cố chới với thoát khỏi dòng đời một cách đầy tuyệt vọng. Hình ảnh lão Hạc gợi trong ta ký ức buồn đau của thảm cảnh 2 triệu người chết đói năm 1945 trước khi cách mạng tháng Tám nổ ra.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Cuộc sống của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 qua truyện ngắn Lão Hạc: bị áp bức chà đạp, đời sống của họ vô cùng nghèo khổ. Những đau đớn và tủi nhục được thể hiện một cách trung thực, làm cho người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi khổ vật chất của người nông dân.

Qua tác phẩm Lão Hạc, ta có thể nhận thấy cuộc sống của người dân nghèo ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 vô cùng bi thảm và đầy bất công:

- Cái nghèo đeo đẳng:

+ Lão Hạc, một người nông dân vốn đã nghèo lại gặp nhiều bất hạnh, buộc phải bán đi mảnh vườn và đàn chó Vàng - những tài sản quý giá của mình.

+ Binh Tư, một người tứ cố vô thân, phải sống lay lắt, bám víu vào nghề bắt chó.

+ Chị Dậu, một người phụ nữ nông dân, phải bán khoai, bán chó, thậm chí bán cả đứa con gái út để nộp sưu cho chồng.

- Bức tranh xã hội bất công:

+ Người nông dân bị bóc lột, áp bức nặng nề bởi cường hào, ác bá và chế độ thực dân phong kiến.

+ Họ phải chịu sưu cao thuế nặng, bị đẩy vào cảnh bần cùng, không có lối thoát.

+ Nạn đói hoành hành, đẩy con người đến bước đường cùng.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 7

Trả lời Câu hỏi 7 Sau khi đọc trang 39 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Theo bạn, tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao được viết theo phong cách lãng mạn hay phong cách hiện thực? Căn cứ vào đâu để bạn khẳng định như vậy?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Phong cách hiện thực

- Văn bản phản ánh hiện trạng xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng tám. Người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao được viết theo phong cách hiện thực. Căn cứ vào đề tài và nhân vật:

+ Đề tài: người nông dân trước Cách mạng

+ Nhân vật: Lão Hạc – người nông dân nghèo khổ, bất hạnh túng quẫn.

Tác phẩm được viết theo phong cách hiện thực bởi vì truyện đã phản ảnh chân thực, sâu sắc sự bị thảm, nghèo khổ của người nông dân Việt Nam trước cách mạng và xã hội đầy bất công.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Lão Hạc (Nam Cao)
+

LÃO HẠC

(Nam Cao)

Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe…

- Ông giáo hút trước đi.

Lão đưa đóm cho tôi…

- Tôi xin cụ.

Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo:

- Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!

Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng: Lão nói là nói để đó đấy thôi, chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế!...

Lão hút xong, đặt xe điếu xuống, quay ra ngoài, thở khói. Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấy. Tôi cũng ngồi lặng lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi. Tôi quý chúng có lẽ còn hơn những ngón tay tôi. Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn, tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyển. Ốm dậy, tôi về quê, hành lí chỉ vẻn vẹn có một cái va li đựng toàn những sách. Ôi những quyển sách rất nâng niu! Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỉ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng; mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét… Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần. Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi. Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định dù có phải chết cũng không chịu bán. Ấy thế mà tôi cũng bán! Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lị gần kiệt sức… Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi…

Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên, lão bảo tôi:

- Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ!

À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm, sáu năm rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc đem thư của nó sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa… Lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó lại nhảy vọt sang chuyện thằng con như vậy:

- Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!... Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt…

Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta định rồi chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu,... cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc không lo được. Ý thẳng con lão thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ, về ở đâu? Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy, nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng”, bỏ đám này để dùi giắng lại ít lâu, xem có đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?... Lạy trời lạy đất! Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được?... Tháng Mười năm ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lị…, nhà có của. Thằng con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa thẻ, kí giấy xin đi làm đồn điền cao su...

Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi:

- Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ! Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy đồng, mà đưa về cho tôi ba đồng. Nó đưa cho tôi ba đồng và bảo: “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng chẳng nuôi thầy được bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn5 đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn; con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về; không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm!...”. Tôi chỉ còn biết khóc chứ còn biết làm sao được nữa? Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta đã chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu có còn là con tôi?...

Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó. Lão bảo nó thế này:

- Cậu có nhớ bố cậu không, hả cậu Vàng? Bố cậu lâu lắm không có thư về. Bố cậu đi có lẽ được đến ba năm rồi đấy... Hơn ba năm... Có đến ngót bốn năm... Không biết cuối năm nay bố cậu có về không? Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu. Liệu hồn cậu đấy!

Con chó vẫn hếch mõm lên nhìn, chẳng lộ một vẻ gì; lão lừ mắt nhìn trùng trùng vào mắt nó, to tiếng doạ:

- Nó giết mày đấy! Mày có biết không? Ông cho thì bỏ bố!

Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng để lấy lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa:

– Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết

Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dấu dí.

- À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ!... Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết... Ông để cậu Vàng ông nuôi...

Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uống. Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài. Rồi lão lẩm bẩm tính. Đấy là lão tính tiền bòn vườn của con...

Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma? mẹ nó, mẹ nó cổ thắt lưng buộc bụng3, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả... Của mẹ nó tậu thì nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn.... Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão làm thuê để kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm” thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm đồng bạc...

Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi:

– Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy thôi. Một trận đúng hai tháng mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn... Ông thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy?...

Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không làm được nữa. Làng mất vé sợi, nghề vải đành phải bỏ. Đàn bà rỗi rãi nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa màu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay, vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một con chó, mỗi ngày ba hào gạo, mà ra sự10 vẫn còn đói deo đói dắt...

– Tính ra cậu Vàng cậu ấy ăn khoẻ hơn cả tôi, ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế nảy thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gầy đi, bán hụt tiền, có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng thích...

Lão ngắt lại một chút, rồi tặc lưỡi:

– Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có làm gì được đâu!

Hôm sau, lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:

- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạt

- Cụ bán rồi?

- Bán rồi! Họ vừa bắt xong.

Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện:

- Thế nó cho bắt à?

Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...

– Khốn nạn... Ông giáo ơi!... Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thẳng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thắng Mục với thẳng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ ca cậu mới biết là cu cậu chết.... Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?". Thì ra tôi giả bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lửa nó!

Tôi an ủi lão:

- Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu gì đâu! Vả lại, ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt! Ta giết nó chính là hoá kiếp cho nó đẩy, hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác.

Lão chua chút bảo

Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút... kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn....

Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo:

- Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?

− Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?

Lão cười và họ sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:

– Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào... Thế là sướng.

– Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

Lão nói xong lại cười đưa đà". Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Tôi vui vẻ bào:

– Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi di luộc khoai, nấu nước.

– Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác...

– Việc gì còn phải chờ khi khác?... Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại.

Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm...

- Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc...

Mặt lão nghiêm trang lại...

– Việc gì thế, cụ?

− Ông giáo để tôi nói.... Nó hơi dài dòng một ti.

— Vâng, cụ nói.

– Nó thế này, ông giáo ạ!...

Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẻ và dài dòng thật. Nhưng đại khái2 có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này; tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão; lão viết văn tự nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng 1 dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thể để tôi trông coi cho nó... Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào, con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thi chết không nhắm mắt; lão còn được hãm nhãm đồng bạc với năm đồng bạc vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi, để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả....

Tôi bật cười bảo lão:

– Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khoẻ lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại?

– Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu?

– Đã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó vợ con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?... Tôi cắn rơm cắn cỏ, tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi.

Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi:

– Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn?

Lão cười nhạt bảo:

– Được ạ! Tôi đã liệu dâu vào đấy... Thế nào rồi cũng xong.

Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đẩy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bừa trai, bữa ốc. Tôi nói chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi:

- Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con minh cũng đói...

Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gần dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi,... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương... Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cải chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần...

Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ... Một hôm, tôi phản nản về việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo:

− Lão làm bộ đấy! Thật ra thi lão chỉ tâm ngẫm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão vừa xin tôi một ít bả chó...

Tôi trổ to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm:

- Lão bào có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão... Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu.

Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết… Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn….

Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà Binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư hiểu.

Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào…”.

1943

- Thu gọn

Bình chọn:
4.1 trên 9 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 12 - Chân trời sáng tạo - Xem ngay

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải