Lý thuyết: Nhân học triết học - Tập hợp triết học phi lý và khoa học về con người

Bình chọn:
2.9 trên 8 phiếu

Nhân học triết học, một trào lưu triết học Đức đã xuất hiện từ những năm 20. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, bị chủ nghĩa hiện sinh lấn át, nó phát triển chậm lại. Nhưng trong hai thập kỷ vừa qua, nó biến thành một trào lưu rộng rãi có tham vọng lý giải bằng lý luận của tri thức hiện đại về con người, hòng đạt tới một quan niệm mới về bản chất con người.

Nhân học triết học, một trào lưu triết học Đức đã xuất hiện từ những năm 20. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, bị chủ nghĩa hiện sinh lấn át, nó phát triển chậm lại. Nhưng trong hai thập kỷ vừa qua, nó biến thành một trào lưu rộng rãi có tham vọng lý giải bằng lý luận của tri thức hiện đại về con người, hòng đạt tới một quan niệm mới về bản chất con người.

Nhân học triết học, một mặt, duy trì một vài phương hướng chủ yếu của triết học nhân học phi lý chủ nghĩa thuộc nửa đầu thế kỷ XX, trước hết của chủ nghĩa hiện sinh; mặt khác, ra sức xác định và sử dụng những cách xem xét và lý giải riêng của mình về con người hòng giải thoát khỏi, hoặc những cực đoan phản khoa học của chủ nghĩa hiện sinh, hoặc khỏi sự giải thích duy khoa học, duy lý chủ nghĩa về con người, đồng thời bảo đảm sự thống nhất nào đấy giữa những quan điểm triết học và khoa học cụ thể về con người.

Xuất phát từ luận điểm cho rằng, bản chất tự nhiên của con người tự mình đã đưa con người ra ngoài giới hạn của tính xác định thuần túy tự nhiên, các nhà nhân học triết học đã ra sức khắc phục khuôn khổ chật hẹp của sự phân tích khoa học tự nhiên và xem xét con người trên một chiều rộng hơn của các khoa học về tinh thần, về văn hóa (dân tộc học, ngôn ngữ học, xã hội học, lịch sử tôn giáo, nghệ thuật...). Do đó, phạm vi phân tích nhân học không còn bị hạn chế bởi nhân học tự nhiên và tâm lý học động vật truyền thống của Đức nữa, mà được mở rộng ra bao gồm cả nhân học xã hội Anh và nhân học văn hóa Mỹ.

Ngay từ 1928, M. Sêlơ (M.Scheler), người sáng lập nhân học triết học, trong tác phẩm Vị trí của con người trong vũ trụ đã đề ra việc cần thiết phải lập ra "nhân học triết học" với tư cách là khoa học chủ yếu về bản chất của con người. Nó thống nhất việc nghiên cứu khoa học cụ thể, trực quan, những phạm vi khác nhau của sự tồn tại con người với sự nhận thức toàn vẹn, với triết học của nó.

Trong tác phẩm Những giai đoạn của thế giới hữu sinh và con người (1928), H. Pletnơ (H. Plessner), một người sáng lập khác của nhân học triết học, đã xét tới một vài khía cạnh của bản chất con người gắn với mối quan hệ của nó với thế giới động vật và thực vật.

Tiếp đó, A. Gêlen (A. Gehlen), E. Rôthake (E. Rothaker), A. Pốcman (A. Portman), H.E. Henstenbéc (H.E. Hengstenberg), H. Lanman (M. Landman) và nhiều người khác, đã tiếp tục chương trình của M. Sêlơ (M. Scheler). Nhưng trong nửa thế kỷ qua, nhân học triết học không sao trở thành học thuyết toàn vẹn về con người và chẳng bao lâu lại biến thành những nhân học khu vực riêng biệt chỉ được lý giải về mặt triết học - sinh học, tâm lý học, tôn giáo, văn hóa.

Loigiaihay.com

Triết học đời sống Triết học đời sống

Trong tập hợp của những loại triết học phi lý và bất khả tri làm thành nhân học triết học thì triết học đời sống là yếu tố trung tâm quy định sự hình thành của nhân học triết học. Người ta thấy ở đó những nguyên tắc và những luận điểm làm cơ sở cho việc tái tạo những quan niệm nhân học mới về bản chất của con người

Xem chi tiết
Hiện tượng học Hiện tượng học

Sau "Triết học đời sống", "hiện tượng học" được kể tới như là một yếu tố trung tâm của nhân học triết học. Trào lưu triết học này ra đời từ những năm 20 bắt đầu bằng những công trình của Phran Brentano (Franz Brentano) (1838 - 1917), nhưng nó được phát triển chủ yếu do Etmun Huxéclơ (Edmund Husserl) và tiếp đó là M.Sêlơ.

Xem chi tiết
Chú giải học Chú giải học

Chú giải học có quan hệ trực tiếp với hiện tượng học và cả hai đều thúc đẩy sự phát triển của nhân học triết học. Với tư cách một phương pháp luận giải lịch sử, chú giải học xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX. Ngay từ đầu, tất cả những khái niệm của chú giải học đều đã quy tụ chung quanh phạm trù "thông hiểu".

Xem chi tiết
Từ nhân học sinh học tới nhân học văn hóa Từ nhân học sinh học tới nhân học văn hóa

A.Gêlen (A.Gehlen) là đại biểu nổi bật của xu hướng nhân học sinh học. Luận đề về vô thức trong sự hiện hữu của con người và luận đề của Nitse về con người với tư cách là "động vật chưa được xác định" là yếu tố xuất phát của nhân học triết học của A.Gêlen.

Xem chi tiết
Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm phủ định dùng để chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác, giai đoạn vận động, phát triển này bằng giai đoạn vận động, phát triển khác. Theo nghĩa đó, không phải bất cứ sự phủ định nào cũng dẫn tới quá trình phát triển.

Xem chi tiết
Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm lực lượng sản xuất + Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người.

Xem chi tiết
Con người và bản chất của con người Con người và bản chất của con người

a) Khái niệm con người Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội.

Xem chi tiết
Thế nào là chất, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy? Chất và lượng của sự vật có mối quan hệ biện chứng nào? Có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận gì từ việc nghiên cứu mối quan hệ đó? Cho ví dụ minh hoạ Thế nào là chất, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy? Chất và lượng của sự vật có mối quan hệ biện chứng nào? Có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận gì từ việc nghiên cứu mối quan hệ đó? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm “chất” dùng để chỉ tính quy định của sự vật về phương diện tổng hợp các thuộc tính cơ bản, khách quan, vốn có của một sự vật nào đó; cái mà nhờ đó, sự vật là nó, khác với sự vật khác.

Xem chi tiết
Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng