Đặc điểm chung của các khuynh hướng triết học xã hội phong kiến Tây Âu trung cổ

Bình chọn:
3.8 trên 4 phiếu

Vì tách rời cuộc sống hiện thực và quanh quẩn trong các tu viện, triết học thời trung cổ mang tính chất kinh viện. Nó chỉ bàn những vấn đề viển vông, xa thực tế, thậm chí có những lúc các nhà triết học tranh cãi nhau về vấn đề": hoa hồng trên thượng giới có gai không ?

Vì tách rời cuộc sống hiện thực và quanh quẩn trong các tu viện, triết học thời trung cổ mang tính chất kinh viện. Nó chỉ bàn những vấn đề viển vông, xa thực tế, thậm chí có những lúc các nhà triết học tranh cãi nhau về vấn đề": hoa hồng trên thượng giới có gai không ? Thượng đế vạn năng có thể sáng tạo ra hòn đá nặng mà bản thân Ngài không mang nổi không ? Triết học kinh viện (từ kinh viện" theo nghĩa Latinh là trường học - Schola) đầu tiên được giảng trong các trường trung học, sau đó từ giữa thế kỷ XII được giảng trong các trường đại học. Triết học kinh viện, như Lênin nhận xét, là thứ triết học chết.

Quá trình phát triển của chủ nghĩa kinh viện có thể chia làm ba thời kỳ: thời kỳ đầu (từ thế kỳ IX đến thế kỷ XII); thời kỳ hưng thịnh (thế kỷ XIII); thời kỳ suy tàn (thế kỷ XIV - XV).

Vấn đề trung tâm mà các nhà kinh viện chú ý nghiên cứu là vấn đề mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin (tôn giáo). Xuất phát từ chỗ coi niềm tin tôn giáo giữ vị trí hàng đầu trong quan hệ với lý trí, các nhà kinh viện đã đi tới nghiên cứu những vấn đề triết học, có liên quan, mà quan trọng nhất là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Đây là vấn đề làm đau đầu các nhà triết học trung cổ, bởi vì người ta chưa giải thích được một hiện tượng là con người luôn luôn tư duy, suy nghĩ bằng khái niệm, bằng cái chung, nhưng trong thế giới hiện thực lại chỉ tồn tại các sự vật cụ thể, riêng lẻ.

Giải quyết vấn đề trên đã có hai quan điểm cơ bản: quan điểm của chủ nghĩa duy thực và quan điểm của chủ nghĩa duy danh. Cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm này đã xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học trung cổ.

Phái duy thực khẳng định rằng cái chung hay khái niệm chung là tồn tại thực, không phụ thuộc vào tư tưởng hay tiếng nói của con người. Còn phái duy danh thì ngược lại, coi cái chung, khái niệm chung không tồn tại thực, không độc lập với con người. Chúng chỉ là những tên chung. Chỉ có những cái riêng lẻ mới tồn tại thực. Thí dụ, không có "con người nói chung”, chỉ có những con người cụ thể mang những tên gọi riêng.

Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái trên chứa đựng khả năng phát triển tiếp tục hai khuynh hướng cơ bản trong triết học - chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Chẳng hạn do thừa nhận các sự vật riêng lẻ là tồn tại thực, là khách quan, nên chủ nghĩa duy danh có khuynh hướng đi tới chủ nghĩa duy vật. V.I.Lênin nhận xét rằng: "Nói chung, chủ nghĩa duy danh là biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa duy vật". Còn chủ nghĩa duy thực vì tách cái chung, tách khái niệm khỏi các sự vật cụ thể, coi khái niệm chung là tồn tại thực và độc lập với thế giới sự vật nên có khuynh hướng đi tới chủ nghĩa duy tâm. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhà thờ trong gai đoạn đầu của mình đã lên án quyết liệt chủ nghĩa duy danh, truy nã những đại biểu của nó, đốt sách của họ.

Tất nhiên sau này cả chủ nghĩa duy thực cũng trở thành một hiểm họa cho nhà thờ, vì khi chỉ thừa nhận cái chung tồn tại duy nhất, chủ nghĩa duy thực trên thực tế đã phủ nhận một số vị thần trong tôn giáo, làm hại đến một giáo lý cơ bản của đạo Cơ đốc là giáo lý "Tam vị nhất thể". Nhưng dù sao chủ nghĩa duy danh vẫn nguy hiểm hơn cho nhà thờ', vì khi thừa nhận chỉ có cái riêng là tồn tại, nó đã hàm ý phủ nhận Thượng đế như là kẻ sinh ra muôn loài. Hơn nữa, chủ nghĩa duy thực ôn hòa thời đó đã trở thành cơ sở lý luận của đạo Cơ đốc. Cho nên hai trào lưu này không phải là nguy hiểm giống nhau đối với nhà thờ trung cổ.

Loigiaihay.com

Những đại biểu của hai trào lưu duy thực và duy danh giai đoạn đầu chủ nghĩa kinh viện Những đại biểu của hai trào lưu duy thực và duy danh giai đoạn đầu chủ nghĩa kinh viện

Ông là người Ailen, một trong những nhà tư tưởng kiệt xuất thời trung cổ, người theo chủ nghĩa duy thực triệt để. Trong lĩnh vực triết học, Ơrigiennơ theo đường lối của Platôn. Ông là người có trình độ học vấn uyên bác, đọc thông viết thạo nhiều ngoại ngữ, có nhiều tác phẩm nổi tiếng nhất là các tác phẩm Về sự tiền định của Thượng đế và Về sự phân chia giới tự nhiên.

Xem chi tiết
Chủ nghĩa kinh viện giai đoạn hưng thịnh Chủ nghĩa kinh viện giai đoạn hưng thịnh

Thế kỷ XIII - thế kỷ của sự phát triển chủ nghĩa kinh viện. Chủ nghĩa kinh viện ở Tây Âu phát triển tới đỉnh cao vào thế kỷ XIII. Nguyên nhân của sự phát triển đó, xét đến cùng là do sự phát triển của kinh tế - xã hội.

Xem chi tiết
Những đại biểu chính của triết học kinh viện thế kỷ XIII Những đại biểu chính của triết học kinh viện thế kỷ XIII

Những nhà kinh viện lớn nhất của thế kỷ XIII là Tômát Đacanh, ĐơnXcốt.

Xem chi tiết
Chủ nghĩa kinh viện giai đoạn suy thoái. Cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện thế kỷ XIII Chủ nghĩa kinh viện giai đoạn suy thoái. Cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện thế kỷ XIII

Sau thời kỳ cực thịnh, chủ nghĩa kinh viện đã đi vào giai đoạn suy thoái với sự ra đời của khoa học thực nghiệm (đại biểu là Rôgiê Bêcơn) và sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy danh

Xem chi tiết
Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào? Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào?

- Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, phát triển va lịch sử cụ thể: Quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc về phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

Xem chi tiết
Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm lực lượng sản xuất + Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người.

Xem chi tiết
Những nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa tư bản độc quyền Những nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa tư bản độc quyền

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và giai đoạn tư bản độc quyền.

Xem chi tiết
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

Quan điểm duy vật biện chứng về xã hội không chỉ khẳng định tính quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, mà còn làm sáng tỏ những nội dung của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.

Xem chi tiết