Lý thuyết: Tư tưởng triết học trong giai đoạn hình thành và phát triển của chế độ phong kiến (Từ thời Tần, Hán đến thời Đường)

Bình chọn:
3.3 trên 4 phiếu

Nhờ có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, kinh tế phát triển và Thừa tướng Lý Tư là người kiên quyết theo chủ trương "pháp trị" cho nên nước Tần dần dần vượt các nước khác.

Nhờ có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, kinh tế phát triển và Thừa tướng Lý Tư là người kiên quyết theo chủ trương "pháp trị" cho nên nước Tần dần dần vượt các nước khác. Năm 230 tr. CN nhà Tần thôn tính nước Hàn, rồi lần lượt lấy các nước Triệu, Nguỵ, Sở, Yên, và năm 221 tr. CN, diệt nốt nước Tề, kết thúc cục diện "Thất hùng"; Doanh Chính lên ngôi vua, lấy hiệu là Tần Thuỷ Hoàng, đất nước Trung Quốc lần đầu tiên được thống nhất. Nhưng sự thống nhất ấy chỉ tồn tại được 15 năm, bởi vì: việc nhà Tần thống nhất Trung Quốc chủ yếu là dựa trên bạo lực quân sự, nhà nước thống nhất chưa có được một cơ sở xã hội và kinh tế đủ mạnh đảm bảo; mặt khác do chính sách "pháp trị” tàn bạo, hà khắc của nhà Tần, nhân dân liên tục nổi dậy khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của các thế lực quân, sự địa phướng. Năm 206 tr. CN, Lưu Bang đã lợi dụng được thành quả của phong trào khỏi nghĩa nông dân cuối Tần, giành được chính quyền, lập ra nhà Hán. Nhà Hán ra đời cũng là mốc chấm dứt thời kỳ phong kiến hoá lâu dài (Xuân Thu - Chiến Quốc - Tần), xã hội Trung Quốc chính thức bước vào chế độ phong kiến với đặc điểm: lấy nông thôn, nông nghiệp làm cơ sở; xây dựng nhà nước trung ương tập quyền; lãnh thổ quốc gia được chia thành các đơn vị hành chính theo khu vực quận, huyện; kết cấu giai cấp trong xã hội tương đối giản đơn, với hai giai cấp chính là Địa chủ và Nông dân. Trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, kinh tế nông nghiệp - nông dân phát triển tức là thành thị - thị dân suy tàn (cả về kinh tế và văn hoá). Mâu thuẫn xã hội cơ bản là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân, thợ thủ công, thương nhân nhỏ với giai cấp địa chủ phong kiến. Ngoài ra, trong nội bộ giai cấp địa chủ phong kiến cũng có sự phân hoá và mâu thuẫn với nhau: tầng lớp địa chủ nhỏ (gọi là "Hàn môn", "Tế tộc"...) có mâu thuẫn với tầng lớp đại địa chủ quý tộc nắm chính quyền (gọi là "Hào môn", "Môn phiệt sĩ tộc"). Tầng lớp địa chủ nhỏ (Hàn môn, Thứ tộc, Tế tộc), trong quá trình đấu tranh của mình, dựa vào lực lượng là quần chúng lao động, cuộc sống của họ tương đối gần gũi với nhân dân lao động, do vậy phần nào tiếng nói, quan điểm của họ củng phù hợp với lợi ích của nhân dân.

Dù biểu hiện sắc thái đậm nhạt có khác nhau ở từng thời kỳ cụ thể nhưng lịch sử phát triển tư tưởng triết học của thời kỳ này - cùng với những đặc điểm của nó là sự phản ánh những đặc điểm kinh tế - xã hội và cuộc đấu tranh xã hội đó.

Loigiaihay.com

Triết học thời Tần - Hán Triết học thời Tần - Hán

Sự tan rã nhanh chóng của nhà Tần có những nguyên nhân kinh tế và xã hội của nó. Nhưng vể mặt tư tưởng, nó là biểu hiện sự thết bại của tư tưởng Pháp gia với chủ trương "pháp trị" trước thể nghiệm của lịch sử

Xem chi tiết
Sự phát triển của triết học từ thời Nguỵ, Tấn đến thời Đường (265 - 907) Sự phát triển của triết học từ thời Nguỵ, Tấn đến thời Đường (265 - 907)

Bão táp của những cuộc khởi nghĩa nông dân đã làm lung lay tận gốc nền thống trị của nhà Đông Hán. Đặc biệt là sau cuộc khởi nghĩa "Hoàng cân” (khăn vàng) do hai anh em Trương Giác, Trương Lương lãnh đạo - một cuộc khởi nghĩa có quy mô trên phạm vi toàn quốc, có nhiều màu sắc tôn giáo - nền thống nhất của đất nước, vương triều Hán trên thực tế đã hoàn toàn tan rã

Xem chi tiết
Lý thuyết: Sự phát triển của triết học trong thời kỳ phồn thịnh và suy tàn của chế độ phong kiến (từ thời Tống đến nửa đầu thế kỷ XIX) Lý thuyết: Sự phát triển của triết học trong thời kỳ phồn thịnh và suy tàn của chế độ phong kiến (từ thời Tống đến nửa đầu thế kỷ XIX)

Từ giữa thế kỷ thứ IX Kinh đô Tràng An nhà Đường bị nhiều phen chao đảo bởi các cuộc khởi nghĩa nông dân và những cuộc tấn công của các thế lực phong kiến địa phương. Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Sào lãnh đạo ở cuối thế kỷ thứ IX

Xem chi tiết
Triết học thời Tống (960 - 1279) Triết học thời Tống (960 - 1279)

Các nhà triết học thòi Tống đều đứng trên danh nghĩa bảo vệ và phát triển Nho giáo để trình bày ý kiến của mình, nhưng thực tế trong tư tưởng của họ thể hiện rất rõ sự thống nhất tư tưởng của Nho - Phật - Lão

Xem chi tiết
Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm phủ định dùng để chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác, giai đoạn vận động, phát triển này bằng giai đoạn vận động, phát triển khác. Theo nghĩa đó, không phải bất cứ sự phủ định nào cũng dẫn tới quá trình phát triển.

Xem chi tiết
Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào? Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào?

- Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, phát triển va lịch sử cụ thể: Quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc về phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

Xem chi tiết
Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm lực lượng sản xuất + Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người.

Xem chi tiết
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là "hạt nhân" của phép biện chứng. Theo V.I.Lênin. "Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập.

Xem chi tiết