Gioóc Béccơly (1685 - 1753)

Bình chọn:
4 trên 5 phiếu

Gioóc Béccơly (George Berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người Anh một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Ông sinh năm 1685 trong một gia đình quý tộc ở miền Nam Ailen. Ngay từ năm 15 tuổi, ông theo học tại trường tổng hợp Đublin

Gioóc Béccơly (George Berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người Anh một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Ông sinh năm 1685 trong một gia đình quý tộc ở miền Nam Ailen. Ngay từ năm 15 tuổi, ông theo học tại trường tổng hợp Đublin. Ở đây ông say mê nghiên cứu thần học, toán học và triết học cho đến cuối đời. Ông có nhiều tác phẩm như Kinh nghiệm của thuyết thị giác mới (1709), Khái niệm về các nguyên lý của nhận thức con người (1710) V.V..

a, Quan niệm của Béccơly về thế giới

Chịu nhiều ảnh hưởng của các xu hướng phê phán các quan niệm triết học cũ, Béccơly sử dụng ngay lập trường duy cảm của các nhà duy vật Anh để chống lại họ và các hệ thống siêu hình học. Lợi dụng sự dao động của Lốccơ trong việc phân chia các đặc tính của sự vật thành các “chất có trước” và các “chất có sau Béccơly tìm cách chứng minh không những các “chất có sau’’ mà ngay cả các “chất có trước’' cũng hoàn toàn mang tính chủ quan của con người. Theo ông, sở dĩ chúng ta có thể nhận thức được sự vật, bởi vì chúng tương đồng với con người. Do vậy, chúng thuộc về và thông qua con người.

Từ đây, Béccơly khẳng định nguồn gốc hoàn toàn chủ quan của mọi sự vật trong thế giới chúng ta, coi chúng chỉ là hiện thân của cảm giác con người. “Tôi hiểu ý niệm là bất kỳ sự vật nào được cảm giác hay tưởng tượng... Sự tồn tại của các sự vật không khác gì với sự tưởng tượng cảm tính hay tri giác”. Nói cách khác, tất cả các đặc tính của sự vật không tồn tại khách quan, chỉ tồn tại trong ý thức con người. Bản thân toàn bộ thế giới tự nhiên được Béccơly coi là tổ hợp của cảm giác con người. Nhưng con người ở đây được hiểu theo nghĩa cá thể. Trên thực tế, hầu như Béccơly đã đứng trên lập trường duy ngã, coi toàn bộ vũ trụ chỉ là hiện thân của một cá thể.

Xuất phát từ quan niệm trên, Béccơly đưa ra luận điểm cho rằng, đối với sự vật thì "tồn tại nghĩa là được cảm nhận” (esse est percipi). “Khi tôi nói rằng, cái bàn mà tôi đang viết trên nó đang tồn tại thì điều đó có nghĩa rằng tôi đang nhìn và đang cảm giác được nó: và nếu như tôi đi ra khỏi căn phòng của mình, nếu tôi nói là cái bàn đang tồn tại: thì tôi có hàm ý rằng nếu như tôi ở trong căn phòng cùa mình, thì tôi có thể cảm nhận nó,... ở đây có mùi có nghĩa là tôi đang ngửi thấy, ở đây có âm thanh nghĩa là tôi đang nghe thấy” . Mọi quan niệm duy vật khẳng định tồn tại khách quan của thế giới đều bị Béccơly phê phán, ông nói: ”Một điều kỳ lạ là trong nhiều người có ý kiến cho rằng, các ngôi nhà, sông núi, tóm lại các sự vật cảm tính lại có được sự tồn tại hiện thực mang tính tự nhiên khác với sự tồn tại mà lý tính đang cảm nhận chúng, tôi cho rằng tất cả sự vật cấu thành vũ trụ không có sự tồn tại bên ngoài tinh thần”.

b, Nhân bản học và nhận thức luận

Coi toàn bộ thế giới chỉ là tổ hợp các cảm giác của con người, Béccơly đưa ra nguyên lý: đối với linh hồn con người thì “tồn tại nghiã là cảm nhận". Linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác, và cũng chỉ khi nó bắt đầu cảm nhận thì trong chúng ta mới có được các tri thức về sự vật.

Quá đề cao cảm giác, Béccơly đã đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với các cảm giác, ở ông hai khái niệm trên được coi là đồng nhất với nhau. Bản thân các cảm giác cấu thành các khái niệm trừu tượng và thực chất đây củng chỉ là kết quả so sánh và phân tích các cảm giác. Con người được cấu từ linh hồn và thể xác, trong đó thể xác thuộc về các vật thể tự nhiên, tức là các cảm giác. Do vậy, thể xác tồn tại là nhờ linh hồn cảm nhận nó, vì thế, nó phải tuân theo “cái gậy chỉ huy” của linh hồn. Mặc dù các ý niệm, tức các cảm giác tồn tại trong linh hồn, tuy nhiên chúng khác với linh hồn, bởi vì linh hồn là cơ chất và nền tảng “nuôi dưỡng” các ý niệm, cảm giác.

Một trong những phương pháp nhận thức cơ bản đó là phương pháp trừu tượng điển hình. Theo đó để nhận thức một nhóm các sự vật có cùng chung các đặc tính giống nhau nhất định, chúng ta chỉ cần nhận thức một vài sự vật tiêu biểu trong số đó.

Theo Béccơly, chân lý là sự phù hợp giữa sự suy diễn của chúng ta về sự vật với chính bản thân sự vật đó tồn tại trên thực tế. Nhưng từ chỗ phủ nhận tồn tại khách quan về sự vật, ông đi đến phủ nhận tồn tại khách quan của chân lý. Tri thức được coi là đúng, khi nó thoả mãn một trong các tiêu chuẩn sau: a) Tính rõ ràng cả các tri giác cảm tính; b) Tính đồng thời của các tri giác gần như là giống nhau ở một vài người; c) Sự tương đồng của nhiều cảm giác với nhau; d) Tính đơn giản và dễ hiểu; e) Sự phù hợp với ý chúa và tuần theo ý chúa. Trong tất cả các tiêu chuẩn chân lý trên thì tiêu chuẩn phù hợp với ý chúa là quan trọng nhất và đáng tin cậy nhất.

b, Bước chuyển của Béccơly sang chủ nghĩa duy tâm khách quan

Thực ra ngay từ đầu chủ nghĩa duy tâm của Béccơly không hoàn toàn đồng nhất với lập trường duy ngã. Càng về sau các quan niệm của ông càng ngả sang hướng duy tâm khách quan với sự thừa nhận tồn tại của Thượng đế, cũng như sự có thực của các chủ thể khác ngoài bản thân ông. Quan niệm của ông về tồn tại cũng như thay đổi với việc thừa nhận Thượng đế là tồn tại tối cao, đứng trên toàn bộ hiện thực, ông coi toàn bộ các tác phẩm của mình là vô ích, nếu như chúng “ không khêu gợi cho các độc giả, thực tâm tin vào sự hiện diện và kính nể chúa..., và sự hoàn thiện tối cao của bản chất con người là ở việc nhận thức và thực hiện các giáo lý trong Phúc âm”.

Tuy vậy, về cơ bản Béccoly là một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan thời cận đại. Các quan niệm của ông, mặc dù có nhiều hạn chế như Lênin đã nhiều lần kịch liệt phê phán, song chúng đóng vai trò to lớn trong việc phê phán sự bất lực và hạn chế của các quan niệm triết học và khoa học truyền thống trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷXVII ở Tây Âu. Chúng ta thấy thêm ảnh hưởng của các quan niệm của Béccơly khi nghiên cứu thế giới quan của Đavít Hium.

Loigiaihay.com

Đavít Hium (1711-1776) Đavít Hium (1711-1776)

Đavít Hium (Davit Hume) là nhà triết học nổi tiếng người Anh, là bậc tiền bối của triết học Cantơ sau này. Ông sinh năm 1711 trong một gia đình quý tộc bậc trung ở Êđenbuốc (Xcốtlen)

Xem chi tiết
Lý thuyết: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và hoài nghi luận cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Lý thuyết: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và hoài nghi luận cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII

Ngay ở thời kỳ hoàng kim của mình, siêu hình học thế kỷ XVII đã bị các nhà duy vật Anh cùng thời, nhất là Lốccơ phê phán. Nhưng trong bối cảnh lịch sử ở Tây Âu thời đó

Xem chi tiết
Lý thuyết: Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII Lý thuyết: Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII

Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là một giai đoạn phát triển quan trọng trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học Tây Âu và thế giới

Xem chi tiết
Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689 - 1775) Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689 - 1775)

S.Đ. Môngtexkiơ (Montesquieu S.D.) là một trong những nhà sáng lập ra triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII. Ông sinh ra trong một gia đình quan chức cao cấp của nghị viện có tinh thần tiến bộ

Xem chi tiết
Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng giữ vai trò gì đối với sự phát triển? Tại sao? Thế nào là “phủ định của phủ định”? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm phủ định dùng để chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác, giai đoạn vận động, phát triển này bằng giai đoạn vận động, phát triển khác. Theo nghĩa đó, không phải bất cứ sự phủ định nào cũng dẫn tới quá trình phát triển.

Xem chi tiết
Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ Lực lượng sản xuất là gì? Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào? Từ việc hiểu biết mối quan hệ đó có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận nào? Cho ví dụ minh hoạ

Khái niệm lực lượng sản xuất + Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người.

Xem chi tiết
Con người và bản chất của con người Con người và bản chất của con người

a) Khái niệm con người Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội.

Xem chi tiết
Thực tiễn là gì? Nhận thức là gì? Theo quan điểm duy vật biện chứng: thực tiễn có vai trò gì đối với nhận thức? Thực tiễn là gì? Nhận thức là gì? Theo quan điểm duy vật biện chứng: thực tiễn có vai trò gì đối với nhận thức?

- Khái niệm thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn + Khái niệm thực tiễn dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. + Các hình thức cơ bản của thực tiễn:

Xem chi tiết
Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng