Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều - Nguyễn Du) có tám câu cuối nhà thơ đã rất tài hoa trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, Mỗi cảnh vật như nói với ta một nỗi buồn khác nhau và nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt hơn, ghê gớm hơn. Phân tích đo

Bình chọn:
3.8 trên 49 phiếu

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”đã thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn nhớ và đặc biệt là những biến động dữ dội trong tâm trạng Thuý Kiều khi ở nơi “góc bể chân trời” bơ vơ, buồn tủi.

         Tuyệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du thành công trước hết ở những đoạn thơ tả cảnh tả tình tuyệt bút, đó là những đoạn thơ “tả cảnh ngụ tình” . Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều), Nguyễn Du đã có tám câu thơ cuối rất tài hoa trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Mỗi cảnh vật như nói với ta một nỗi buồn khác nhau và nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt hơn, ghê gớm hơn:

“Buồn trông của bể chiu hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh bum xa xa?

Bun trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu ru

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

 m m tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

        Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng. Cảnh được miêu tả không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh là phương tiện miêu tả còn tình là đích của sự miêu tả. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật ấy, nhất là sự vận dụng thành công trong tám câu thơ cuối đoạn Trong sáu câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian được nhìn qua con mắt của nhân vật, bộc lộ hoàn cảnh tâm trạng cô đơn, tội nghiệp của Thuý Kiều:

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn b bát ngát xa trông

Cát vàng cn nọ bụi hng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”…

      Lầu Ngưng Bích nơi Kiều bị giam lỏng được gọi là nơi khoá xuân. Đó có nghĩa là nơi khoá giữ tuổi trẻ, ước mơ và hoài bão của đời thiếu nữ. Không gian nơi ấy mênh mông, chống chếnh làm sao: non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát xa trông, ... vẻ xa xôi, mênh mông của thiên nhiên càng tô đậm tình cảnh cô đơn, trơ trọi của Kiều. “Mây sớm đèn khuya” chỉ một mình nàng “bẽ bàng” vào ra hôm sớm. Hình ảnh trăng, mảỳ sớm đèn khuya biểu đạt sự quay vòng của thời gian. Cùng với những hình ảnh gợi tả không gian, sự tuần hoàn đều đặn của thời gian càng nhấn đậm thêm tình cảnh cô đơn, buồn bã của Kiều. Đúng là nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

       Bơ vơ nơi chân trời góc bể ấy, tấm lòng Kiều hướng cả về quê hương xứ sở cùng những người thân yêu nhất của mình.

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Chân trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột ra bao giờ cho phai

Xót người tựa ca hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh biết ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc t đã vừa người ôm”…

        Trước hết, nàng nhớ tới Kim Trọng - mối tình đầu trong trẻo, say đắm của mình. Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim cũng đang nhớ về mình, mong ngóng mà vẫn bặt tin:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đổng

Tin sương luống những rày trông mai chờ”…

      Nghĩ đến đó, tâm trạng Kiều đau đớn, xót xa, tủi phận:     

“Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”…

       Nàng nhớ đến cha mẹ, thương cha mẹ ngày ngày tựa cửa ngóng tin con “xót người tựa cửa hôm mai”, ngậm ngùi vì tuổi già trước sự khắc nghiệt của thời gian Sân Lai cách mấy nắng mưa - Có khi gốc tử đã vừa người ôm”, day dứt vì mình không được ở bên để báo đáp công ơn sinh thành “quạt nồng ấp lạnh biết ai đó giờ".

       Nguyễn Du để Kiều nhớ tới Kim Trọng trước là hoàn toàn phù hợp với diễn biến tâm lí của nhân vật trong cảnh ngộ cụ thể, đảm bảo tính chân thực cho hình tượng. Trong tình cảnh bị Mã Giám Sinh làm nhục, lại ép tiếp khách làng chơi nên hiện trạng tâm lí Kiều là nỗi đau đớn về “tấm son gột rửa bao giờ cho phai”, là nỗi buồn nhớ người yêu, nuối tiếc mối tình đầu đẹp đẽ. Kiều đã hi sinh thân mình vì đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương, nàng lại một lòng nhớ đến Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ, quên cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn trích này, Kiều hiện ra với đức vị tha cao đẹp.

       Càng nhớ người yêu, càng nhớ cha mẹ, Kiều càng đau xót cho số phận và hoàn cảnh buồn khổ của mình. Tâm trạng ấy của nàng tập trung vào tám câu thơ cuối đoạn trích. Tại dó, Nguyễn Du đã cho thấy một bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng, sắc thái của bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thuý Kiều.

Buồn trông cửa bể chiểu hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”…

      Buổi chiều tà thường gợi nỗi nhớ về quê hương xứ sở. Ca dao từng có câu:

“Chiểu chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

     Huống gì cảnh chiều hôm lại đứng trước biển trời bao la. Khung cảnh rợn ngợp ấy gọi nỗi cô đơn không gì khoả lấp. Kiều thấy cả những cánh buồm thấp thoáng ", những cánh buồm chợt ẩn, chợt hiện không rõ ràng phía chân trời chứng tỏ nàng đã ngóng trông đau đáu đến nhường nào. Trong những cánh buồm đi về nơi tổ ấm nơi xa kia, liệu có cánh buồm nào đưa Kiều về với quê mẹ của nàng?

     Lại đây nữa, thêm cảnh là lại thêm buồn:

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu

       Nhìn cánh hoa rơi bị cuốn theo dòng nước, nàng nghĩ đến thân phận trôi dạt, vô định của mình, chẳng biết rồi mình sẽ đi đâu về đâu. Những động từ, tính từ trong câu thơ tất thảy đều gợi sự dạt trôi, vô định đến vô tình cúa tạo hoá: “sa”, “man mác”. Điều đó khiến cho không phải bản thân cánh hoa mà trong sự "trôi" của cánh hoa đã phảng phất nỗi buồn "man mác" tủi hờn. Nó cùng giống như những chuỗi ngày nhạt nhẽo vô vị Kiều phải giam mình nơi lầu xanh ô nhục và đơn độc này:

Buồn trông nội cỏ rầu ru

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

        "Rầu rầu" gợi dáng vẻ rũ xuống, lả đi. Nếu như "nội cỏ rầu rầu" thì cái sắc "xanh xanh" liền chân mây mặt đất kia hẳn không phải sắc xanh của tuổi trẻ, hi vọng và tình yêu. Nó là màu xanh cỏ úa héo hon rầu rĩ. Nó chẳng khác nào nỗi lòng đang tan ra vì buồn tủi của Thuý Kiều.

       Đáng sợ hơn, nơi lầu Ngưng Bích bơ vơ tứ bể biển cả, Kiều còn mang một dự cảm hãi hùng về tương lai đầy sóng gió:

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh,

m m tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

       “Gió cuốn mặt duềnh” để báo trước một đợt giông bão của biển cả và cũng là báo trước những giông bão của cuộc đời. Vậy là bi kịch của đời Kiều chưa dừng lại. Con Tạo còn muốn đánh ghen đến “dập liễu vùi hoa tơi bời” mới thoả. Nghe trong tiếng “ầm ầm” của sóng bể có tiếng bước chân của những bầy Khuyến Ưng hung hãn và vô nhân tính.

       Từng chi tiết, hình ảnh khung cảnh thiên nhiên đều mang đậm trạng thái tình cảm của Thuý Kiều. Mỗi cảnh là mỗi tình, song tất cả đều buồn thương, đúng là: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Đặc biệt, cụm từ buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên. Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ ê chề rồi đây sẽ xảy ra đối với Kiều, là dự cảm cho một đoạn đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”.

       Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”(trích “Truyện Kiều”) đã thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn nhớ và đặc biệt là những biến động dữ dội trong tâm trạng Thuý Kiều khi ở nơi “góc bể chân trời” bơ vơ, buồn tủi. Đoạn trích đã khẳng sự kì tài của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm nhân vật bằng bút pháp “tả cảnh ngụ tình” đặc sắc.

Trích: loigiaihay.com

Các bài liên quan: - Truyện Kiều - Nguyễn Du

Cảnh chia tay giữa người quốc sắc, kẻ thiên tài trong hội đạp thanh chiều xuân ấy được thi hào Nguyễn Du viết:  Dưới cầu... bóng chiều thướt tha  Hãy phân tích hai câu thơ trên và phát biểu ý kiến về nghệ thuật tả cảnh trong Truyện Kiều. Cảnh chia tay giữa người quốc sắc, kẻ thiên tài trong hội đạp thanh chiều xuân ấy được thi hào Nguyễn Du viết: Dưới cầu... bóng chiều thướt tha Hãy phân tích hai câu thơ trên và phát biểu ý kiến về nghệ thuật tả cảnh trong Truyện Kiều.

Truyện Kiều của thi hào dân tộc Nguyễn Du là một công trình nghệ thuật bằng thơ lục bát chứa chan tinh thần nhân đạo. Thiên diễm tình của "người quốc sắc, kẻ thiên tài với bao tình tiết đẹp đẽ, cảm động gieo vào lòng ta bao ấn tượng khó phai mờ. Có không ít vần thơ, câu thơ tả cảnh lung linh sắc màu chẳng khác nào mảnh trời xanh rủ bóng xuống hồn ta trên những nẻo đường nắng lửa.

Xem chi tiết
Một trong những giá trị lớn nhất của Truyện  Kiều là tinh thần nhân đạo cao đẹp. Hãy phân tích một số câu thơ Kiều, đoạn thơ Kiều để làm sáng tỏ nhận xét ấy. Một trong những giá trị lớn nhất của Truyện Kiều là tinh thần nhân đạo cao đẹp. Hãy phân tích một số câu thơ Kiều, đoạn thơ Kiều để làm sáng tỏ nhận xét ấy.

Tinh thần nhân đạo cao cả là nội dung tư tưởng đặc sắc tạo nên vẻ đẹp nhân văn của áng thơ này. Chúng ta vô cùng tự hào về Nguyễn Du, một tâm hồn nhạy cảm trưóc vẻ đẹp của thiên nhiên, một trái tim giàu yêu thương, đồng cảm với tâm tư và số phận của con người, một tài năng lớn về thi ca đã làm rạng rỡ nền văn học cổ Việt Nam

Xem chi tiết
Phân tích bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Phân tích bức tranh Thanh minh trong tiết tháng ba trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Một cuộc du xuân - đây là sự kiện mở màn cho cuộc đời thiếu nữ phong lưu và xuân sắc của Thúy Kiều. Cuộc du xuân mở đầu cho phần thứ nhất trong hệ thống ba biến cố thông thường cùa cốt truyện cổ điển: "Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ"

Xem chi tiết
Tóm tắt Truyện Kiều cùa Nguyễn Du. Nêu lên một vài nét tiêu hiểu về giá trị nội dung và nghệ thuật trong Truyện Kiều. Tóm tắt Truyện Kiều cùa Nguyễn Du. Nêu lên một vài nét tiêu hiểu về giá trị nội dung và nghệ thuật trong Truyện Kiều.

Truyện Kiều đạt đến đỉnh cao mẫu mực cổ điển. Truyện và thơ trữ tình kết hợp hài hòa. 3254 câu thơ lục bát toàn bích: lời thơ đẹp, hình tượng mĩ lệ, nhạc điệu, vần điệu trau chuốt, tinh luyện, mượt mà

Xem chi tiết
Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí - Ngắn gọn nhất Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí - Ngắn gọn nhất

Soạn văn lớp 9 tập 1 ngắn gọn bài Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn – trích) - Ngô Gia Văn Phái. Câu 1: Đoạn 1: Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.

Xem chi tiết
Soạn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp - Ngắn gọn nhất Soạn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp - Ngắn gọn nhất

Soạn văn lớp 9 tập 1 ngắn gọn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp. Câu 1: Phần câu in đậm ở ví dụ (a) là lời nói của nhân vật.

Xem chi tiết
Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du trang 77 SGK Văn 9 Soạn bài Truyện Kiều của Nguyễn Du trang 77 SGK Văn 9

1. Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời của Nguyễn Du đã có ảnh hưởng đến việc sáng tác Truyện Kiều:

Xem chi tiết
Cảm nghĩ của em về người anh hùng Nguyễn Huệ trong chương XIV của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Cảm nghĩ của em về người anh hùng Nguyễn Huệ trong chương XIV của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.

Quang Trung không chỉ là nhà quân sự thiên tài “xuất quỷ, nhập thần” mà còn là một vị tướng giàu lòng yêu nước, có ý thức dân tộc hết sức sâu sắc.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 9, luyện vào lớp 10, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa  cùng các Thầy, Cô giáo giỏi nổi tiếng, dạy hay, dễ hiểu, dày dặn kinh nghiệm tại Tuyensinh247.com