Soạn văn 10, ngữ văn 10 chân trời sáng tạo Bài 5: Nghệ thuật truyền thống (chèo/tuồng)

Soạn bài Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Chân trời sáng tạo - chi tiết


Nêu các đặc điểm của tuồng đồ được thể hiện qua văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến.


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Đoạn trích xoay quanh mưu kế của Thị Hến nhằm làm Nghêu, Huyện Trìa, Đề Hầu bẽ mặt.


Câu 1

Video hướng dẫn giải

Nêu các đặc điểm của tuồng đồ được thể hiện qua văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến.

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ văn bản.

- Đọc kĩ đặc điểm của tuồng đồ tại phần Tri thức Ngữ Văn.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Các đặc điểm của tuồng đồ được thể hiện qua văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến.

- Đề tài: Lấy đề tài trong cuộc sống đời thường. Ở đây chính là việc 3 nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu ham mê nữ sắc để rồi phải tự gánh hậu quả

- Nhân vật: Các nhân vật chính thường có danh xưng nghề nghiệp Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu. Tính cách nhân vật không thay đổi. xuyên suốt cả đoạn tuồng

- Lời thoại: có cả đối thoại, độc thoại, bàng thoại.

- Được dựng nên từ tích truyện Nghêu, Sò, Ốc, Hến.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Giới nghiên cứu nói chung quan niệm tuồng đồ là loại tuồng hài (tuồng gây cười), được xây dựng trên cảm hứng hài kịch, thiên về châm biếm, đả kích, không bị ràng buộc vào những điển luật nghiêm ngặt

+ Đề tài: Lấy đề tài trong cuộc sống đời thường. Ở đây chính là việc 3 nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu ham mê nữ sắc để rồi phải tự gánh hậu quả

+ Nhân vật  : Các nhân vật chính thường có danh xưng nghề nghiệp Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu . Tính cách nhân vật không thay đổi, xuyên suốt cả đoạn tuồng

+ Lời thoại : có cả đối thoại, độc thoại, bàng thoại.

- Đề tài: Lấy đề tài trong cuộc sống đời thường. Ở đây chính là việc 3 nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu ham mê nữ sắc để rồi phải tự gánh hậu quả

- Nhân vật: Các nhân vật chính thường có danh xưng nghề nghiệp Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu. Tính cách nhân vật không thay đổi. xuyên suốt cả đoạn tuồng

- Lời thoại: có cả đối thoại, độc thoại, bàng thoại.

- Được dựng nên từ tích truyện Nghêu, Sò, Ốc, Hến.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Câu 2

Video hướng dẫn giải

Phân tích nguyên nhân làm nảy sinh, phát triển mâu thuẫn giữa các nhân vật và cách giải quyết mâu thuẫn trong văn bản trên.

Phương pháp giải:

     Đọc toàn bộ văn bản.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Nguyên nhân làm nảy sinh, phát triển mâu thuẫn giữa các nhân vật: cả ba nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu đều ham mê Thị Hến.

- Cách giải quyết mâu thuẫn: cả ba nhân vật trên đều bị Thị Hện cho vào tròng, tự phân xử với nhau.

Cách 2

- Nguyên nhân: cả ba nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu đều ham mê Thị Hến.

- Cách giải quyết mâu thuẫn: cả ba nhân vật trên đều bị Thị Hện cho vào tròng, tự phân xử với nhau.

Xem thêm
Cách 3

+ Nguyên nhân: cùng ham mê nhan sắc Thị Hến

+ Các giải quyết: cả 3 nhân vật đều bị Thị Hến lừa vào tròng, tự mình phán xử, tự mình nhận tội

Xem thêm
Cách 3

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Phân tích tính cách của nhân vật Thị Hến trong lớp tuồng XIX.

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ văn bản.

- Chú ý những lời thoại của nhân vật Thị Hến.

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Thị Hến là một người phụ nữ góa chồng, thông minh và nhiều mưu mẹo, bản lĩnh. Khi biết cả ba người đàn ông Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu đều mê mẩn minh, cô đã tìm cách lừa cả ba ông và khiến cho ba ông tự xử lỗi lầm của mình. (Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên).

- Tuy nhiên, Thị Hến cũng là người biết giữ gìn phẩm hạnh: Giữ tiết hạnh một đường cho toại/ Nỗi nhân duyên đôi chữ không màng.

Xem thêm
Cách 2

+ Một người phụ nữ góa chồng thông minh, ma mãnh: ''Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên'', lừa được cả 3 tên đàn ông vào bẫy và khiến chúng tự cúi mình nhận tội. Một người phụ nữ có bản lĩnh

+ Thị Hến còn là một người biết gìn giữ phẩm hạnh :''Giữ tiết hạnh một đường cho toại/ Nỗi nhân duyên đôi chữ không màng''

Xem thêm
Cách 2

Câu 4

Video hướng dẫn giải

Bình luận về tiếng cười toát ra từ tình huống mắc lỡm của các nhân vật Thầy Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa trong lớp tuồng này.

Phương pháp giải:

     Chú ý tình huống mắc lỡm của ba nhân vật trên.

Lời giải chi tiết:

Cách 1     

Tiếng cười toát ra từ tình huống mắc lỡm của ba nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu là ba tiếng cười châm biếm, mỉa mai khi vì quá ham mê sắc đẹp mà tự mình làm hại mình. Tiếng cười ấy còn là sự chế giễu khi ba người chức cao vọng trọng, đứng đầu một huyện lại có những hành vi vi phạm thuần phong mĩ tục.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Là ba tiếng cười châm biếm, mỉa mai khi vì quá ham mê sắc đẹp mà tự mình làm hại mình. Tiếng cười ấy còn là sự chế giễu khi ba người chức cao vọng trọng, đứng đầu một huyện lại có những hành vi vi phạm thuần phong mĩ tục.

Tiếng cười phát ra từ tình huống mắc lỡm của 3 người này là tiếng cười đầy mỉa mai, châm biếm. Chỉ vì thói đam mê nữ sắc mà ự mình nhận lấy một kết quả đáng xấu hổ. 3 người lần lượt tự nhìn thấy tội lỗi của mình trong khi cả 3 mang danh Thầy, Đề, Huyện Trìa. những người có danh, có quyền nhưng hành xử không hề phù hợp với thuần phong mỹ tục

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Câu 5

Video hướng dẫn giải

     Ở một số dị bản khác, nhân vật Thầy Nghêu được thay bằng nhân vật lí trưởng (Lí Hà), vở tuồng kết thúc trong cảnh các bà vợ của Huyện Trìa, Đề Hầu, Lí Hà bất ngờ xuất hiện và sỉ vả các ông chồng dại gái. Sự khác biệt giữa các dị bản giúp bạn hiểu thêm gì về đặc điểm của tuồng đồ?

Phương pháp giải:

     Nêu lên quan điểm cá nhân.

Lời giải chi tiết:

Cách 1     

Sự khác biệt giữa các dị bản như vậy giúp người đọc hiểu về một trong những đặc điểm của tuồng đồ là phương thức truyền miệng. Chính phương thức đó khiến các vở tuồng có nhiều dị bản khác nhau.

Xem thêm
Cách 2

Có thể thấy đặc điểm của tuồng đồ chính là phương thức truyền miệng. Mỗi vở tuồng lại được truyền miệng, tạo ra nhiều dị bản khác nhau, có thể thay đổi hoặc thêm thắt nhân vật nhưng nội dung cốt lõi vẫn được bảo toàn

Xem thêm
Cách 2

Câu 6

Video hướng dẫn giải

Có người cho rằng Nghêu, Sò, Ốc, Hến có đến hai cảnh xử án, cảnh thứ nhất do Huyện Trìa xét xử ở lớp XIII, cảnh thứ hai, do Thị Hến và Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu xử lẫn nhau. Cho biết ý kiến của bạn về nhận định trên.

Phương pháp giải:

Đọc hai văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị HếnHuyện Trìa xử án.

Lời giải chi tiết:

Cách 1     

Theo em, ý kiến trên là đúng. Trong văn bản Huyện Trìa xử án là do Huyện Trìa xử án vụ giữa vợ chồng Trùm Sò và Thị Hến. Đến văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến, cả ba thầy đã mắc bẫy của Thị Hến và tự xét xử lẫn nhau.

Xem thêm
Cách 2

Đây là một nhận định khá đúng đắn. Trước đó là ta thấy được cảnh Huyện Trìa xét xử vụ án giữa Thị Hến và vợ chồng Trùm Sò. Mặc dù là xử án nhưng rốt cục cũng chả có phân minh tội lỗi rõ ràng, đúng đắn. tất cả là do cảm tính và ham muốn của Huyện Trìa. Còn đến lớp cuối, đây là đúng khoảnh khắc xét tội. Tự phạm nhận nhận ra lỗi của mình, tự mình chấp nhận hình phạt

Xem thêm
Cách 2

Bài tập sáng tạo

Video hướng dẫn giải

Vẽ tranh hoặc dựng một hoạt cảnh lấy cảm hứng từ vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến.

Phương pháp giải:

     Dựa vào khả năng của bản thân.

Lời giải chi tiết:

Ví dụ:

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến
+

Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến

(trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến – Khuyết danh)

(Lược dẫn: Sau khi được Huyện Trìa tha bổng ở huyện đường. Thị Hến bị Thầy Nghêu, một gã thầy tu phá giới trong vùng đến gạ gẫm chuyện ái ân. Thị bày ra một kế nhằm chấm dứt mọi sự quấy nhiễu của Thầy Nghêu cùng bọn chức sắc, nhằm “Giữ tiết hạnh một đường cho toại”. Thị cho mời cả ba gã đàn ông mê gái – Thầy Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa – cùng đến nhà mình và cả ba cùng sập bẫy. Dưới đây là lớp XIX, cũng là lớp kết thúc vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến. Nhan đề do người biên soạn đặt).

THỊ HẾN:

– Từ sai người tới đó

tới độ sáng tạo

Sao chưa thấy tới đây?

Ông Huyện Trìa bị mụ Huyện trói tay,

Thầy Để Lại mắc cô Đề buộc cổ.

Còn lão sãi trọc vắng tới nhà mà múa mỏ,

Hay là ta may hết thói lăng nhăng?

Dốc thờ chồng suối bạc cho toàn,

Lại bị quỷ nhà chạy tới phá.

THẦY NGHÊU:

– Trời tăm tối đi hầu bố ngửa,

Cây bụi bờ rờ chẳng ra đường.

(Này! Này, Thím ơi! Mỗ đã sang. Mở cửa mình vào với!)

THỊ HẾN:

- Chào thầy mới tới

Trà nước vội vàng.

Đành lòng đây đó giao duyên

(Nhưng) Sợ nỗi thế gian đàm tiếu (thôi.)

THẦY NGHÊU:

– Vốn đà trước liệu

Lọ phải sau lo

Kệ kinh chuông mõ trả cho chùa

Cày, cấy, đâm, xay đành phận mỗ.

(Này này!) Khuyên cùng với đó,

Chớ khá phụ đây,

Tuy làm vầy cũng tiếng ông thầy,

Ở như vậy uổng tài bà goá.

(Tiếng Đề Hầu kêu cửa)

THỊ HẾN:

(-Ủa!)

Tiếng ai kêu chỉ lạ

Hay là thầy Lại đến đây?

(Này! Này! Mô Phật!)

Đi ra kẻo tội với thầy,

Ở đó ắt tại trước mắt! (Chớ chẳng chơi đâu!).

THẦY NGHÊU:

Lão Đề Lại làm chi quá ngặt,

Khiến thầy tu chạy đã hầu điên.

(Thím oi! Thím!)

Trốn chỗ nào khác chỉ cho min!

(Chớ) Ra cửa có thầy Đề đứng đó!

THỊ HẾN:

- Dưới phản ngựa thầy mau xuống đó.

(Để tôi) Ra ngõ mời người đặng vào đây,

Dầu chuyện chỉ chịu khó một giây,

(Để) Người về đã, sẽ vầy hai mặt.

(Thầy Nghêu chui xuống gầm phản, Đề Hầu vào)

Lại nói — Thưa thầy!

Nghe kêu lật đật,

Mở cửa vội vàng

Thỉnh lại gia trang,

Sẽ bày tình tự.

ĐỀ HẦU:

- Ơn mỗ cứu cho bữa trước

Nay nường còn nhớ chưa quên?

Sao đã cùng ông Huyện kết duyên,

Mà vội phụ thầy Đề tình ngãi, (hử?)

THỊ HẾN:

– Xin thầy hãy nghĩ lại

Quan huyện dạy (tôi) phải vâng,

Đành đôi ta là cái duyên hằng

(Thế mà) Không nghe đó, sao cho nên việc, (thưa thầy?)

ĐỀ HẦU:

– Phải lắm! Thế mới biết

Đèn không khêu không tỏ,

Chuông không đánh không kêu.

(Ta nói thiệt) Đó không thương đây cũng quyết liều,

(Chừ) Duyên đã khẳn nàng tua giữ dạ.

THỊ HẾN:

– Ái ân việc còn thong thả,

Rượu trà xin hãy vui chơi

Chẳng mấy khi dặng hiệp một nơi

Bây giờ đã gặp nhau hai mặt

(Chừ có việc này)

Tôi xin hỏi thiệt, thầy khá tỏ bày!

Thầy hằng xem luật lệ xưa nay,

Tu (mà) phá giới tội chi khinh trọng, (thưa thầy?)

ĐỀ HẦU:

– Lỗ tai nghe quá chướng

Trong luật lệ rất to,

Hễ phá giới tức hành trảm quyết!

(Huyện Trìa tới)

HUYỆN TRÌA:

(nói ngoài cửa)

– Viên ngoại diễu văn tế thuyết

Môn tiền hữu ngã quan nhon

Mỏ của ra! Mau tiếp đại tân!

Ở mụ! Kíp kíp ra mời quan Huyện, (nào!)

ĐỀ HẦU:

(- Chui chao!)

Văn ngôn sắc biến! Sắc biến!

Thính thuyết hồn kinh! Hồn kinh!

Nếu mà ông Huyện tri tình,

Chắc hẳn thầy Đề mang khổ

(Thầy Đề trốn, ông Huyện vào)

HUYỆN TRÌA:

– Việc thuế má, án từ quá gấp

Đêm tối tăm đường xá (lại) khó đi!

Tưởng mụ đà tới lúc ngủ khi

Làm mỗ chạy ướt hầu bổ sắp.

Khi sớm, tối đợi mình khổ lắm

Từ rày xin tới mụ cho liên

Gẫm đà phải nợ phải duyên,

Thôi chó làm hòn, làm giận, (nữa mà!)

THỊ HẾN:

- Nghĩ mà tủi phận

Đâu dám trách ai

 (Nhưng tôi nghĩ lại, như ông)

Vợ còn, còn sẵn, thiếu chi

(Mà buộc tôi không đặng?)

Trai quá gái không thường lệ

(Tôi cũng) Cam phận thiếp muối trường cơm tẻ.

(Nhưng mà tôi)

E chánh thể cả tiếng nhiều lời (đó thôi!)

(Cho nên tôi)

Lánh một xó, lọ một nơi

Khó trối thây, giàu ai chẳng lụy!

HUYỆN TRÌA:

(-Ui chao! Chừ)

Ta nghỉ ngơi kẻo mệt,

Nói dài lắm cũng buồn

Khuyên khuyên đừng chớ làm tuồng

Bớt bớt xin đừng nói bợm!

THỊ HẾN:

– Sợ gan ruột đàn ông nhiều lớp

Việc nợ duyên dễ thiếp mấy nơi?

Rượu trà hãy xin mời,

Ái ân rồi có đó.

(Bây giờ tôi xin nhờ quan)

Vốn tôi chưa rõ,

Xin hói một lời:

Người từng xem luật lệ nơi nơi

(Là) Có một việc ở đòi lạ

Rầy có chú thầy tu rất chạ

Hay đến nhà mà ve bà goá;

Đã xuất gia phá giới làm vơ,

Thời luật pháp xử chỉ cho rõ?

HUYỆN TRÌA:

(-Uẩy!)

Nói làm chi việc rối

Ai có tiếc làm chi.

Phàm tu hành mà đã xuất gia,

Có phá giới đánh đòn phát lạc!

THẦY NGHÊU:

 (Từ gầm giường bò ra)

ĐỀ HẦU:

– Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc!

Thiện xử phân! Thiện xử phân!

(Bẩm quan lớn, lời quan dạy rất minh, chứ thầy Đề ngồi trong

thúng mơ kia nói mới ức chó! Bẩm quan lớn!)

Chơn vi phụ mẫu chỉ dân.

(Chứ thầy Đề)

Chỉ thị dâm ô chi loại!

Như thầy tu phá giới,

Thời bất quá đánh đòn,

Còn thầy Lại phạm giam

Thật ắt là tội chết!

ĐỀ HẦU:

(Lồm cồm bò ra)

– Đầu đuôi tại mụ Hến,

Mưu mẹo bởi lão thầy tu.

Rày quan Huyện trớ trêu,

Mắc đàn bà quá tội.

Tôi cam chịu lỗi

Ai biết mà chê

Trong nha môn từ Huyện đến Đề

Còn tạo lệ không mời luôn thể!

HUYỆN TRÌA:

- Thầy Lại làm nên quá tệ,

Như nhà sư bắt chước cố trêu.

Mắc cỡ lêu lêu!

Lêu lêu mắc cố!

not on they tạo

Rất nên quái gở,

Làm việc lăng nhăng

Hễ miếng to bây quyết kiếm ăn,

Còn đồ vặt bay làm sạch trụi.

Thầy Tu khá lui về cho khỏi

Để Lại mau cõng mỗ về nhà.

Dằn lòng thôi chó ngứa nghề,

Giữ dạ đừng tham của lạ.

(Hạ)

THỊ HẾN:

– Tâm khoái dã! Tâm khoái dã!

Kế hoan nhiên! Kế hoạn nhiên!

Thế thầy tu hết tới ngõ nói điên,

Rày quan huyện hết đến nhà làm bậy.

Giữ tiết hạnh một đường cho loại

Nỗi nhơn duyên đôi chữ không màng

(Hạ)

(Trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến, in trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 12, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, 2000, tr. 544 – 548)

- Thu gọn

Bình chọn:
4 trên 4 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Chân trời sáng tạo - Xem ngay

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải