Tóm tắt, bố cục Văn 10 Chân trời sáng tạo hay nhất
Tóm tắt, bố cục, nội dung chính các tác phẩm SGK Văn 10.. Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Hịch tướng sĩ - CTST>
Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Hịch tướng sĩ giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác.
Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo
Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa...
Tóm tắt
Mẫu 1
Trước sự chủ quan, không lo tập luyện của tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn dẫn ra những dẫn chứng về sự trung thành của các vị tướng thời trước đến những dẫn chứng gần hơn trong lịch sử với chủ tướng của mình. Tác giả liệt kê hàng loạt những tội ác tày trời, dã man của giặc. Đồng thời bộc lộ sự căm phẫn của bản thân và tinh thần quyết tâm giết chết lũ giặc mọn đó. Trái ngược với sự lo lắng, quan tâm đến vận mệnh đất nước; những điều tốt đẹp mà Trần Quốc Tuấn mang lại cho quân của mình thì binh lính của ông lúc này chỉ lo ăn chơi hưởng lạc, quyến luyến vợ con. Khi ấy, Trần Quốc Tuấn vô cùng đau xót. Ông đã chỉ rõ cho binh lính của mình thấy những hậu quả khôn lường, nguy hiểm chắc chắn sẽ xảy ra nếu tình trạng trên cứ tiếp tục kéo dài mãi. Sau khi thuyết phục được họ, Trần Quốc Tuấn đưa ra định hướng cho các tướng sĩ: đó là phải chăm chỉ học tập theo cuốn Binh thư yếu lược để bảo vệ đất nước. Dặn các tướng sĩ chuyên tập sách Binh thư yếu lược, theo lời dạy thì mới phải đạo thần chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta tức là nghịch thù.
Mẫu 2
Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận xuất sắc nhằm kêu gọi, khích lệ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn, tự trọng và ý chí chống giặc ngoại xâm của các tướng sĩ. Mở đầu bài hịch, Trần Quốc Tuấn nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách. Tiếp theo Ngài tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù để khơi dậy lòng căm thù giặc của tướng sĩ. Ngài còn nói lên mối ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ đồng thời Ngài phân tích phải trái, đúng sai, định hướng hàng ngũ quân sĩ và khẳng định những hành động nên làm.
Mẫu 3
Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là một kiệt tác mẫu mực của thể văn nghị luận trung đại với kết cấu lập luận chặt chẽ và sức thuyết phục mạnh mẽ dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa lý trí và cảm xúc. Tác giả mở đầu bài hịch bằng phương pháp quy nạp khi liệt kê hàng loạt tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách Trung Hoa từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến thời Tống Nguyên để làm tiền đề tư tưởng. Những tấm gương hy sinh vì chủ tướng như Kỷ Tín hay Do Vu được viện dẫn nhằm xác lập một hệ quy chiếu đạo đức về lòng trung quân ái quốc mà người làm tướng cần phải noi theo. Tiếp nối mạch cảm xúc ấy tác giả chuyển sang tố cáo tội ác của sứ giặc Nguyên Mông bằng những hình ảnh ẩn dụ đầy căm phẫn như lưỡi cú diều hay thân dê chó nhằm khơi dậy lòng tự trọng dân tộc. Sau khi kích động ngọn lửa căm thù Hưng Đạo Vương đã bộc bạch nỗi lòng đau xót đến quên ăn mất ngủ của chính mình để tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa chủ và tướng. Điểm nhấn của bài hịch nằm ở đoạn phân tích mối quan hệ ân tình cốt nhục giữa chủ soái và tướng sĩ dựa trên quyền lợi gắn bó và danh dự chung của cả cộng đồng. Tác giả sử dụng thủ pháp tương phản đối lập gay gắt giữa hai viễn cảnh sống và chết hay vinh và nhục để cảnh tỉnh những binh sĩ đang chìm đắm trong lối sống hưởng lạc cầu an. Cuối cùng bài hịch khép lại bằng một mệnh lệnh đanh thép yêu cầu tướng sĩ phải chuyên tâm rèn luyện binh thư yếu lược để chuẩn bị cho cuộc chiến sinh tử sắp tới. Toàn bộ văn bản là một chỉnh thể hoàn hảo của nghệ thuật khích tướng nhằm biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất trên chiến trường.
Xem thêm
Mẫu 4
Dưới góc độ tâm lý học lãnh đạo tác phẩm Hịch tướng sĩ là một bài học kinh điển về nghệ thuật truyền động lực và đánh thức tiềm năng của con người trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Trần Quốc Tuấn đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc tâm lý của thuộc cấp khi không áp đặt mệnh lệnh một cách thô bạo mà khéo léo dẫn dắt họ đi qua các cung bậc cảm xúc khác nhau. Ông bắt đầu bằng việc khơi dậy lòng trắc ẩn và sự hổ thẹn khi chứng kiến chủ nhục mà không biết lo hay thấy nước nhục mà không biết thẹn. Bằng cách đánh vào lòng tự trọng và sĩ diện của đấng nam nhi tác giả đã buộc các tướng sĩ phải tự soi xét lại thái độ sống thờ ơ vô cảm của mình trước vận mệnh quốc gia. Không chỉ dừng lại ở việc trách móc ông còn ân cần chỉ ra những sai lầm trong nhận thức của họ khi đam mê những thú vui tầm thường như chọi gà hay cờ bạc vốn không thể giúp ích gì khi giặc đến. Sự phê phán của ông vừa nghiêm khắc như một người cha lại vừa chân thành như một người bạn tri kỷ khiến người nghe không thể không tâm phục khẩu phục. Đỉnh cao của nghệ thuật tâm lý là khi ông vẽ ra viễn cảnh đen tối nếu nước mất nhà tan thì mọi quyền lợi cá nhân và gia đình của tướng sĩ cũng sẽ bị tước đoạt hoàn toàn. Nỗi sợ hãi về sự diệt vong được chuyển hóa thành động lực hành động mạnh mẽ thôi thúc họ cầm vũ khí đứng lên bảo vệ tổ quốc. Tác phẩm chứng minh rằng một người lãnh đạo xuất sắc không chỉ là người giỏi điều binh khiển tướng mà còn là người biết cách chiếm lĩnh trái tim và khối óc của quân sĩ.
Mẫu 5
Ra đời trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khi quân Nguyên Mông đang chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ hai bài Hịch tướng sĩ mang trong mình sức nặng của vận mệnh dân tộc ngàn cân treo sợi tóc. Trần Quốc Tuấn mở đầu bằng việc nhắc lại những tấm gương hy sinh lẫm liệt trong quá khứ để khẳng định rằng lòng trung nghĩa là hằng số bất biến của lịch sử nhân loại. Ông vạch trần bộ mặt thật của kẻ thù phương Bắc thông qua hành động hống hách của sứ giả đi lại nghênh ngang ngoài đường và sỉ mắng triều đình. Những chi tiết hiện thực này không chỉ tố cáo tội ác của giặc mà còn phản ánh tình thế nguy cấp của đất nước khi chủ quyền quốc gia đang bị chà đạp nghiêm trọng. Tác giả đã đặt quyền lợi của cá nhân và gia tộc nằm trong tổng thể quyền lợi của quốc gia dân tộc để chứng minh mối quan hệ biện chứng không thể tách rời. Ông cảnh báo rằng nếu để mất nước thì không chỉ thái ấp bổng lộc bị mất mà ngay cả mồ mả tổ tiên cũng bị giày xéo và thanh danh bị ô nhục muôn đời. Lời kêu gọi của Trần Quốc Tuấn không chỉ là mệnh lệnh quân sự mà là tiếng gọi non sông thúc giục mọi người dân Đại Việt đoàn kết chống ngoại xâm. Bài hịch còn là sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt tư tưởng để toàn quân toàn dân bước vào cuộc kháng chiến với một tâm thế quyết chiến quyết thắng. Giá trị lịch sử của tác phẩm nằm ở chỗ nó đã ghi lại khí thế hào hùng Đông A của một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Mẫu 6
Hịch tướng sĩ không đơn thuần là văn bản quân sự mà còn chứa đựng những tư tưởng triết lý đạo đức sâu sắc về lẽ sống và trách nhiệm của con người trước thời cuộc. Tác giả Trần Quốc Tuấn đã xây dựng một hệ giá trị đạo đức chuẩn mực cho người làm tướng dựa trên nền tảng của tư tưởng Nho giáo về lòng trung quân và nghĩa khí. Ông mở đầu bằng việc ca ngợi những bậc trung thần nghĩa sĩ đã xả thân vì chúa để làm gương sáng cho hậu thế noi theo. Tuy nhiên triết lý đạo đức của ông không giáo điều sách vở mà gắn liền với thực tiễn đấu tranh sinh tồn của dân tộc và tình cảm con người. Ông nhấn mạnh vào khái niệm nhục và vinh để thức tỉnh lương tri của tướng sĩ trước những cám dỗ tầm thường của đời sống vật chất hưởng lạc. Theo ông việc ham mê cờ bạc rượu chè hay vui thú ruộng vườn trong khi đất nước lâm nguy là một hành động vô đạo đức và đi ngược lại với luân thường đạo lý. Triết lý nhân sinh của Trần Quốc Tuấn còn thể hiện qua quan niệm sống chết có ý nghĩa là phải biết cống hiến và hy sinh cho cái chung lớn lao hơn. Ông khẳng định rằng hạnh phúc cá nhân chỉ thực sự bền vững khi nó được đặt trên nền tảng của độc lập tự do và sự trường tồn của xã tắc. Bài hịch là một bài giảng đạo đức sinh động dạy cho con người biết sống sao cho xứng đáng với danh hiệu đấng trượng phu trong trời đất.
Mẫu 7
Xét về mặt nghệ thuật ngôn từ Hịch tướng sĩ là đỉnh cao của văn chính luận trung đại Việt Nam với lối hành văn biền ngẫu nhịp nhàng và hệ thống hình ảnh giàu sức gợi cảm. Mở đầu tác phẩm là hàng loạt dẫn chứng lịch sử xác thực được liệt kê dồn dập tạo nên âm hưởng hùng tráng và trang nghiêm cho bài văn. Tác giả sử dụng rất thành công các biện pháp tu từ như ẩn dụ so sánh và cường điệu để khắc họa chân dung kẻ thù gớm ghiếc như cú diều hay dê chó. Những hình ảnh này không chỉ gây ấn tượng mạnh về thị giác mà còn khơi gợi cảm giác ghê tởm và khinh bỉ tột độ trong lòng người đọc. Đặc biệt đoạn văn miêu tả tâm trạng của chủ tướng với các hình ảnh tới bữa quên ăn hay nửa đêm vỗ gối và ruột đau như cắt là những thước phim tâm lý chân thực và xúc động nhất. Giọng văn thay đổi linh hoạt từ phẫn nộ đanh thép sang ân tình thiết tha rồi lại chuyển sang mỉa mai châm biếm sâu cay. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố biểu cảm và yếu tố nghị luận đã giúp cho lý lẽ của bài hịch trở nên thấm thía và có sức lay động lòng người ghê gớm. Mỗi câu chữ đều được chắt lọc kỹ lưỡng như những mũi tên nhọn bắn trúng vào hồng tâm là lòng tự trọng của người tướng sĩ. Tác phẩm xứng đáng là áng văn chương mẫu mực thể hiện tài năng văn học kiệt xuất của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn.
Mẫu 8
Văn bản Hịch tướng sĩ đã thiết lập một quan hệ biện chứng chặt chẽ và không thể tách rời giữa sự tồn vong của quốc gia với số phận của từng cá nhân tướng sĩ. Trần Quốc Tuấn mở đầu bằng việc viện dẫn các điển tích lịch sử về những bậc trung thần đã xả thân vì nước để kiến tạo nên một hệ quy chiếu giá trị về sự hy sinh cao cả. Tác giả đã sử dụng lập luận đanh thép để chứng minh rằng quyền lợi riêng tư của mỗi người như bổng lộc hay gia quyến đều nằm trong cái vỏ bọc lớn hơn là chủ quyền dân tộc. Khi cái vỏ bọc ấy bị phá vỡ bởi vó ngựa quân xâm lược thì mọi giá trị cá nhân bên trong cũng tất yếu bị nghiền nát và tiêu vong theo quy luật nhân quả. Sự đối lập gay gắt giữa viễn cảnh mất nước nhà tan và sự an hưởng thái bình được vẽ ra nhằm đánh thức nhận thức đang ngủ quên trong sự hưởng thụ của binh sĩ. Tác giả không chỉ kêu gọi lòng yêu nước trừu tượng mà còn đánh trúng vào nỗi sợ hãi mất mát lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể của từng người nghe. Ông chỉ ra rằng sự an nguy của dòng họ và sự bình yên của phần mộ tổ tiên hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chiến đấu của họ trong hiện tại. Mối quan hệ giữa chủ và tướng không chỉ là quan hệ cấp bậc hành chính mà còn là quan hệ cộng sinh về mặt sinh mệnh và danh dự. Thông qua đó Hưng Đạo Vương đã biến cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thành cuộc chiến bảo vệ chính ngôi nhà và cuộc đời của mỗi người lính. Tư duy biện chứng này đã chuyển hóa trách nhiệm công dân thành động lực tự vệ bản năng mạnh mẽ nhất.
Mẫu 9
Xét dưới góc độ tâm lý học đám đông bài Hịch tướng sĩ là một công trình nghiên cứu xuất sắc về việc sử dụng văn hóa nhục cảm để điều chỉnh hành vi của tập thể. Trần Quốc Tuấn đã khéo léo kích hoạt cơ chế tự kiểm duyệt đạo đức của người quân tử bằng cách khơi gợi nỗi nhục quốc thể đang bị kẻ thù chà đạp. Ông không ngần ngại chỉ trích gay gắt thái độ vô cảm của tướng sĩ khi thấy chủ nhục mà không biết lo và thấy nước nhục mà không biết thẹn. Bằng cách đánh vào lòng tự trọng và sĩ diện nam nhi ông đã tạo ra một áp lực tâm lý buộc người nghe phải tự vấn lương tâm và thay đổi thái độ sống. Tác giả đã đặt các tướng sĩ vào một tình thế lưỡng nan về mặt đạo đức nơi mà sự im lặng đồng nghĩa với sự đồng lõa và hèn nhát đáng khinh bỉ. Những thú vui tiêu khiển đời thường như chọi gà hay đánh bạc bị ông nâng lên thành biểu tượng của sự tha hóa và vong bản trong bối cảnh đất nước lâm nguy. Sự so sánh tương phản giữa khoái lạc nhất thời và nỗi đau đớn vĩnh viễn đã tạo nên một cú sốc tâm lý cần thiết để phá vỡ sự trì trệ trong tư duy của đám đông. Ông đã biến nỗi nhục thành một thứ vũ khí sắc bén để cắt bỏ những khối u của sự cầu an hưởng lạc đang ký sinh trong cơ thể quân đội. Mục đích cuối cùng của chiến thuật này là chuyển hóa năng lượng tiêu cực của sự xấu hổ thành năng lượng tích cực của hành động báo thù cứu nước. Đây là nghệ thuật lãnh đạo tâm lý đỉnh cao của một vị tướng tài ba thấu hiểu sâu sắc tâm can con người.
Mẫu 10
Tác phẩm sở hữu một cấu trúc lập luận tầng bậc vô cùng chặt chẽ đi từ những nguyên lý phổ quát đến những tình huống cụ thể và kết thúc bằng giải pháp thực tiễn. Tầng thứ nhất là tầng nền tảng tư tưởng nơi tác giả liệt kê các tấm gương nghĩa sĩ trong sử sách để xác lập chuẩn mực đạo đức trung quân ái quốc không thể tranh cãi. Tầng thứ hai là tầng thực trạng khi ông phơi bày bối cảnh lịch sử bi đát với sự hống hách ngang ngược của kẻ thù và nguy cơ diệt vong của dân tộc. Tầng thứ tư duy chiến lược được triển khai qua việc phân tích sai lầm trong nhận thức và hành động của tướng sĩ khi họ sa đà vào các thú vui vô bổ phi chiến lược. Tác giả đã sử dụng phép quy nạp để chỉ ra rằng tất cả những thú vui ấy đều vô dụng hoàn toàn trước sức mạnh quân sự của kẻ thù. Tầng cao nhất của cấu trúc lập luận là sự khẳng định con đường duy nhất để tồn tại là phải chuyên tâm rèn luyện binh thư và đoàn kết chiến đấu. Mỗi tầng lập luận đều được hỗ trợ bởi những bằng chứng xác thực và giọng văn biểu cảm mạnh mẽ tạo nên sức thuyết phục không thể chối từ. Tư duy chiến lược của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở chỗ ông không chỉ chỉ ra cái sai mà còn cung cấp giải pháp cụ thể là cuốn Binh thư yếu lược. Bài hịch vì thế không chỉ là văn bản phê bình mà còn là cẩm nang hành động mang tính định hướng chiến lược cho toàn quân.
Mẫu 11
Hịch tướng sĩ thể hiện sự uyên bác của Trần Quốc Tuấn qua nghệ thuật sử dụng điển cố và tính liên văn bản dày đặc nhằm tạo uy quyền cho lời nói. Việc mở đầu bằng hàng loạt nhân vật lịch sử Trung Hoa như Kỷ Tín hay Do Vu và Dự Nhượng không phải là sự sao chép ngẫu nhiên mà là một chiến lược tu từ có chủ đích. Những điển cố này đóng vai trò như những tiền đề chân lý đã được lịch sử thừa nhận giúp tạo nên sức nặng ngàn cân cho lập luận của tác giả. Bằng cách đặt các tướng sĩ Đại Việt vào cùng một hệ quy chiếu với các bậc anh hùng trong quá khứ ông đã ngầm nâng tầm vóc và trách nhiệm của họ lên một tầm cao mới. Tính liên văn bản còn thể hiện qua việc tác giả vận dụng nhuần nhuyễn các khái niệm của Nho giáo như trung hiếu tiết nghĩa vào trong bối cảnh cụ thể của cuộc chiến tranh vệ quốc. Ông đã Việt hóa các giá trị đạo đức phong kiến phương Bắc để phục vụ cho mục tiêu bảo vệ chủ quyền của dân tộc phương Nam. Các điển tích không còn là những câu chuyện cũ kỹ trong sách vở mà trở thành những tấm gương soi chiếu sống động vào thực tại nóng bỏng. Sự kết hợp giữa tri thức bác học và thực tiễn chiến đấu đã làm cho bài hịch vừa có độ sâu văn hóa vừa có tính thời sự cấp bách. Qua đó người đọc thấy được tầm vóc văn hóa lớn lao của vị Quốc công Tiết chế đang đứng trên vai những người khổng lồ của lịch sử để chỉ đạo cuộc chiến.
Mẫu 12
Mặc dù là một văn bản hành chính chính trị nhưng Hịch tướng sĩ lại đậm đặc sắc thái biểu cảm của cái tôi trữ tình đầy tâm huyết và bi tráng. Giọng điệu trần thuật trong bài biến đổi linh hoạt và phức điệu phù hợp với từng cung bậc cảm xúc và mục đích thuyết phục của tác giả. Khi nói về tội ác của giặc giọng văn trở nên căm phẫn sục sôi với những từ ngữ mạnh mẽ tố cáo bản chất cầm thú của kẻ thù. Khi bộc bạch nỗi lòng mình giọng điệu chuyển sang trầm lắng xót xa và chân thành đến mức người đọc có thể cảm nhận được nhịp tim thổn thức của vị chủ tướng. Hình ảnh ta thường tới bữa quên ăn nửa đêm vỗ gối là sự thăng hoa của cảm xúc yêu nước mãnh liệt được cô đúc lại thành những dòng thơ văn xuôi bất hủ. Khi phê phán tướng sĩ giọng văn lại trở nên nghiêm khắc đanh thép và có phần mỉa mai châm biếm sâu cay để thức tỉnh lòng tự trọng. Tuy nhiên ẩn sau sự nghiêm khắc ấy vẫn là giọng điệu của một người cha người anh đầy lòng bao dung và tình thương yêu đối với thuộc cấp. Sự đa thanh trong giọng điệu đã giúp tác giả phá vỡ khoảng cách quyền lực để chạm đến trái tim của người lính bằng sự đồng cảm sâu sắc. Cái tôi trữ tình của Trần Quốc Tuấn là cái tôi đại diện cho khí phách của cả một dân tộc đang đứng trước thử thách sinh tử.
Mẫu 13
Để khơi dậy lòng căm thù tột độ trong lòng tướng sĩ Trần Quốc Tuấn đã sử dụng thủ pháp ngôn ngữ phi nhân hóa để miêu tả hình tượng kẻ thù xâm lược. Ông không gọi chúng là con người mà sử dụng các hình ảnh ẩn dụ thuộc về thế giới loài vật như cú diều hay dê chó và hổ đói. Cách gọi này không chỉ là sự khinh bỉ tột cùng mà còn là một đòn tâm lý nhằm tước bỏ tư cách con người của kẻ địch biến chúng thành những đối tượng cần phải bị tiêu diệt. Hành động của sứ giặc được miêu tả qua các động từ mạnh như uốn lưỡi hay sỉ mắng và đi lại nghênh ngang gợi lên sự hống hách và dã man phi văn hóa. Tác giả đã vẽ nên một bức tranh biếm họa đầy ghê tởm về kẻ thù để kích thích phản xạ chiến đấu bản năng và lòng tự tôn dân tộc của người lính. Sự đối lập giữa hình ảnh văn minh của Đại Việt và hình ảnh dã man của quân Nguyên Mông được thiết lập để khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Bằng cách hạ thấp kẻ thù xuống hàng súc vật ông cũng đồng thời giải tỏa nỗi sợ hãi về sức mạnh quân sự của chúng trong tâm trí binh sĩ. Ngôn ngữ phi nhân hóa này là một đặc trưng của văn học yêu nước thời chiến nhằm tập hợp sức mạnh tinh thần cho cộng đồng. Nó biến cuộc chiến tranh thành một cuộc thánh chiến giữa cái thiện và cái ác giữa con người và loài cầm thú.
Mẫu 14
Tác phẩm Hịch tướng sĩ được xây dựng trên nền tảng của hệ giá trị Nho giáo nhưng đã được Trần Quốc Tuấn chuyển hóa linh hoạt để phục vụ cho bối cảnh thời chiến. Các phạm trù đạo đức cốt lõi như Trung và Hiếu hay Nghĩa đều được ông định nghĩa lại gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và tiêu diệt giặc ngoại xâm. Chữ Trung không chỉ là trung thành với vua mà còn là trung thành với lợi ích của quốc gia dân tộc đang bị đe dọa. Chữ Hiếu không chỉ là thờ phụng cha mẹ mà còn là bảo vệ phần mộ tổ tiên khỏi bị kẻ thù giày xéo và xúc phạm. Tác giả đã khéo léo lồng ghép quyền lợi gia tộc vào trong nghĩa vụ quốc gia để tạo nên động lực chiến đấu kép cho người lính. Ông phê phán những biểu hiện của lối sống tiểu khí và ích kỷ hẹp hòi đi ngược lại với chuẩn mực của đấng trượng phu trong thời loạn. Sự chuyển hóa này cho thấy tư duy thực tế và linh hoạt của Trần Quốc Tuấn khi không bị trói buộc bởi những giáo điều cứng nhắc. Ông đã sử dụng Nho giáo như một công cụ tư tưởng đắc lực để đoàn kết toàn dân và củng cố kỷ luật quân đội. Bài hịch chứng minh rằng các giá trị truyền thống chỉ thực sự có sức sống khi nó đồng hành cùng vận mệnh của đất nước.
Mẫu 15
Toàn bộ bài hịch được vận hành dựa trên cấu trúc đối lập nhị phân gay gắt đặt người nghe vào tình thế buộc phải lựa chọn dứt khoát giữa hai con đường. Đó là sự đối lập giữa sống và chết hay giữa vinh và nhục hay giữa tự do và nô lệ và giữa hạnh phúc và đau khổ. Trần Quốc Tuấn liên tục đưa ra những cặp phạm trù tương phản này để làm nổi bật tính chất nghiêm trọng của tình hình hiện tại. Ông vẽ ra hai viễn cảnh tương lai hoàn toàn trái ngược nhau phụ thuộc vào thái độ và hành động của tướng sĩ ngay lúc này. Nếu chọn chiến đấu thì vinh quang muôn đời và gia đình ấm no còn nếu chọn cầu an thì nhục nhã muôn kiếp và vợ con khốn cùng. Tư duy lựa chọn này không cho phép sự lấp lửng hay thái độ ba phải mà đòi hỏi một sự cam kết chính trị rõ ràng và tuyệt đối. Tác giả đã đẩy mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm để buộc mỗi cá nhân phải tự định vị mình trong cuộc chiến sinh tử của dân tộc. Phép đối lập nhị phân được sử dụng như một đòn bẩy tư duy giúp tướng sĩ nhận thức rõ cái giá phải trả cho sự thờ ơ và hèn nhát. Nó biến bài hịch thành một văn bản tuyên ngôn về sự lựa chọn hiện sinh của con người trước lịch sử.
Mẫu 16
Yếu tố thời gian trong Hịch tướng sĩ được xử lý một cách nghệ thuật để tạo nên cảm giác cấp bách và nguy nan như ngọn lửa đang cháy sém bên cạnh. Tác giả sử dụng hình ảnh ẩn dụ như treo thịt cho hổ đói hay châm lửa vào dưới đống củi để diễn tả mối nguy hiểm đang cận kề trong gang tấc. Thời gian không còn là đại lượng tuyến tính bình thản mà đã bị nén lại thành những khoảnh khắc bùng nổ đòi hỏi hành động tức thì. Ông cảnh báo rằng sự chần chừ hay trì hoãn trong lúc này đồng nghĩa với việc tự sát và dâng hiến đất nước cho kẻ thù. Sự hối tiếc trong tương lai sẽ là quá muộn màng nếu hiện tại không biết nắm bắt thời cơ để chuẩn bị lực lượng. Trần Quốc Tuấn đã kéo tương lai đen tối về ngay trước mắt tướng sĩ để họ cảm nhận được sức nóng của sự diệt vong đang phả vào gáy. Cảm thức về thời gian gấp gáp này đóng vai trò như một chất xúc tác thúc đẩy quá trình chuyển biến nhận thức của quân đội. Bài hịch là tiếng chuông báo động khẩn cấp đánh thức những ai còn đang mơ màng trong giấc mộng thái bình giả tạo.
Mẫu 17
Một trong những điểm sáng nhân văn nhất của tác phẩm là việc khắc họa mối quan hệ cộng sinh thắm thiết và ân tình sâu nặng giữa chủ soái và tướng sĩ. Trần Quốc Tuấn không dùng mệnh lệnh hành chính khô khan mà dùng tình cảm ruột thịt để thuyết phục và cảm hóa lòng người. Ông nhắc lại những ngày tháng đồng cam cộng khổ khi áo mặc chung cơm ăn cùng để khẳng định sự gắn bó keo sơn giữa ông và thuộc cấp. Mối quan hệ này vượt lên trên quan hệ cấp bậc phong kiến thông thường để trở thành tình đồng chí đồng đội sinh tử có nhau. Ông coi tướng sĩ như chân tay của mình và sự đau đớn của họ cũng chính là nỗi đau đớn của ông. Bằng cách khơi gợi lại những ân tình trong quá khứ ông đã ràng buộc họ bằng sợi dây trách nhiệm đạo đức vô hình nhưng bền chặt. Tình nghĩa chủ tướng trở thành nền tảng vững chắc cho sự đoàn kết thống nhất ý chí trong toàn quân. Lời hịch vì thế không chỉ là tiếng nói của quyền lực mà còn là tiếng nói của tình thương và sự tin cậy tuyệt đối. Đây chính là cội nguồn sức mạnh giúp quân đội nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên Mông hùng mạnh.
Mẫu 18
Vượt lên trên một văn bản kêu gọi cảm xúc thuần túy Hịch tướng sĩ còn chứa đựng một tư duy giải pháp luận sắc sảo nhằm giải quyết bài toán chiến tranh cụ thể. Sau khi đã phá vỡ thành trì của sự thờ ơ và khơi dậy ngọn lửa căm thù Trần Quốc Tuấn không để cho cảm xúc ấy trôi đi vô ích mà nắn nó vào một hành động thực tiễn. Giải pháp cốt lõi mà ông đưa ra chính là việc chuyên tâm nghiên cứu và luyện tập theo cuốn Binh thư yếu lược do chính ông biên soạn. Đây là sự chuyển hóa từ sức mạnh tinh thần sang sức mạnh vật chất và từ ý chí chính trị sang năng lực quân sự chuyên nghiệp. Tác giả khẳng định rằng lòng yêu nước nồng nàn nếu thiếu đi tri thức quân sự và kỷ luật chiến thuật thì cũng không thể đánh bại được kẻ thù hùng mạnh. Cuốn binh thư được đặt ở vị trí trung tâm như một kim chỉ nam hành động và là thước đo để phân định rạch ròi giữa bạn và thù hay giữa trung và nịnh. Ông tuyên bố dứt khoát rằng ai theo binh thư là bạn còn ai trái binh thư là kẻ nghịch thù không đội trời chung. Sự quyết liệt này cho thấy tư duy của một nhà quân sự chuyên nghiệp luôn đặt hiệu quả thực chiến lên hàng đầu. Bài hịch vì thế không chỉ là lời hiệu triệu con tim mà còn là mệnh lệnh của trí tuệ soi đường cho hành động. Nó đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của quân đội nhà Trần từ trạng thái tự phát sang trạng thái tự giác và quy chuẩn hóa.
Mẫu 19
Dưới góc độ văn hóa học tác phẩm là một cuộc vận động phản tỉnh văn hóa sâu sắc nhằm loại bỏ những thói hư tật xấu đang làm suy yếu sức mạnh của cộng đồng. Trần Quốc Tuấn đã tấn công trực diện vào lối sống hưởng thụ buông thả và thiếu trách nhiệm của tầng lớp quý tộc quân sự đương thời. Ông vạch trần sự vô lý của việc lấy những thú vui tầm thường như cờ bạc rượu chè hay săn bắn làm lẽ sống trong khi vận mệnh quốc gia đang ngàn cân treo sợi tóc. Tác giả đã thiết lập một cơ chế tự kiểm duyệt đạo đức nghiêm khắc buộc mỗi cá nhân phải tự soi gương và cảm thấy xấu hổ với chính mình. Ông chỉ ra rằng văn hóa hưởng lạc không chỉ vô dụng về mặt quân sự mà còn là một tội ác đạo đức khi nó gián tiếp tiếp tay cho kẻ thù xâm lược. Sự phê phán của ông gay gắt đến mức coi những kẻ ham chơi là nghịch tử và là nỗi sỉ nhục của dòng họ cũng như quốc gia. Thông qua đó Hưng Đạo Vương muốn xây dựng một nền văn hóa mới là văn hóa của sự khắc kỷ và hy sinh cống hiến cho đại nghĩa. Ông đòi hỏi tướng sĩ phải từ bỏ cái tôi vị kỷ để hòa nhập vào cái ta vĩ đại của dân tộc đang lâm nguy. Cuộc phản tỉnh này là bước chuẩn bị tinh thần thiết yếu để thanh lọc đội ngũ và tạo nên một tập thể quân đội trong sạch vững mạnh.
Mẫu 20
Hịch tướng sĩ là đỉnh cao chói lọi của nghệ thuật hùng biện trung đại Việt Nam với khả năng sử dụng ngôn từ để điều khiển tâm lý và hành vi con người bậc thầy. Trần Quốc Tuấn đã vận dụng linh hoạt các thủ pháp tu từ như câu hỏi tu từ hay liệt kê và điệp ngữ để tạo nên những đợt sóng cảm xúc dồn dập tấn công vào tâm trí người nghe. Nhịp điệu của bài văn biến đổi khôn lường lúc thì chậm rãi tâm tình lúc thì dồn dập đanh thép như tiếng trống trận thúc giục. Cách ngắt nhịp và sử dụng các từ ngữ biểu cảm mạnh đã tạo nên một trường năng lượng ngôn ngữ có sức lan tỏa và ám ảnh ghê gớm. Ông không chỉ nói bằng lý trí lạnh lùng mà còn nói bằng cả trái tim rực lửa và dòng máu đang sôi sục trong huyết quản. Sức mạnh của ngôn từ trong bài hịch không chỉ nằm ở ngữ nghĩa mà còn nằm ở âm hưởng hào hùng bi tráng của khí phách Đông A. Mỗi lời nói ra như chém đá chặt sắt khiến người nghe không thể không rùng mình tỉnh ngộ và hừng hực khí thế chiến đấu. Tác giả đã chứng minh rằng ngôn ngữ chính luận khi đạt đến độ kết tinh cao độ sẽ trở thành vũ khí sắc bén không kém gì gươm giáo. Bài hịch là minh chứng cho thấy tài năng văn chương kiệt xuất của Trần Quốc Tuấn đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Mẫu 21
Một trong những mục tiêu quan trọng của bài hịch là xác lập tính chính danh lịch sử và tư tưởng chính nghĩa cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Trần Quốc Tuấn đã khéo léo đối lập hình ảnh một nước Đại Việt văn hiến và yêu chuộng hòa bình với hình ảnh một đế chế Nguyên Mông tham lam và tàn bạo. Ông tố cáo bản chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược thông qua việc miêu tả hành động vơ vét của cải và tàn sát dân lành của sứ giặc. Bằng cách vạch trần lòng tham không đáy của kẻ thù ông đã khẳng định rằng sự nhượng bộ hay thỏa hiệp là điều không thể và vô nghĩa. Cuộc chiến đấu của quân dân nhà Trần vì thế không chỉ là hành động tự vệ mà còn là cuộc chiến bảo vệ công lý và đạo lý của loài người. Tính chính nghĩa này là nguồn động lực tinh thần to lớn giúp quân đội Đại Việt vượt qua sự chênh lệch về tương quan lực lượng vật chất. Tác giả đã nâng tầm cuộc kháng chiến lên thành một sứ mệnh lịch sử thiêng liêng mà mỗi người dân Đại Việt đều có nghĩa vụ phải gánh vác. Sự khẳng định chính nghĩa này cũng nhằm mục đích cô lập kẻ thù về mặt chính trị và tranh thủ sự ủng hộ của toàn dân. Đây là một chiến lược tâm lý chiến quan trọng để củng cố niềm tin tất thắng cho quân đội.
Mẫu 22
Tác phẩm chạm đến một tầng sâu tâm lý hiện sinh của con người là nỗi sợ bị lãng quên và trở thành những kẻ vô danh hoặc mang tiếng xấu muôn đời. Trần Quốc Tuấn đã cảnh báo tướng sĩ rằng nếu thất bại thì không chỉ thân xác bị tiêu diệt mà tên tuổi cũng sẽ bị lịch sử nguyền rủa là những kẻ hèn nhát bại trận. Ông sử dụng khái niệm tiếng dơ muôn đời để đánh thức lòng tự trọng và khát vọng lưu danh thanh sử của đấng nam nhi. Sự so sánh giữa cái chết vinh quang của những bậc trung thần và cái sống nhục nhã của kẻ cầu an là một đòn tâm lý đánh vào khát vọng bất tử của con người. Ông vẽ ra viễn cảnh bi đát khi tổ tông bị giày xéo và thanh danh gia tộc bị bôi nhọ để buộc tướng sĩ phải hành động để bảo vệ danh dự. Đối với người quân tử thời phong kiến thì cái chết về mặt thể xác không đáng sợ bằng cái chết về mặt danh dự và xã hội. Nỗi sợ hãi này được tác giả chuyển hóa thành động lực mạnh mẽ để họ quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ông đã biến cuộc chiến thành cơ hội để mỗi cá nhân khẳng định giá trị tồn tại của mình trước dòng chảy vô tình của thời gian. Tư tưởng này đã khơi dậy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lòng mỗi người lính.
Mẫu 23
Trần Quốc Tuấn đã vận dụng tư duy quy luật và phép biện chứng nhân quả một cách sắc sảo để phân tích tình hình và dự báo tương lai. Ông chỉ ra mối quan hệ nhân quả tất yếu giữa sự chuẩn bị chu đáo trong hiện tại và thắng lợi trong tương lai cũng như giữa sự lơ là chủ quan và thất bại thảm hại. Tác giả không dựa vào sự may mắn hay thần linh mà dựa vào quy luật vận động khách quan của chiến tranh để đưa ra những nhận định chiến lược. Ông khẳng định rằng nếu không biết lo toan và cảnh giác thì hậu quả nước mất nhà tan là điều không thể tránh khỏi theo logic thông thường. Ngược lại nếu biết đoàn kết và rèn luyện thì khả năng chiến thắng kẻ thù hung bạo là hoàn toàn nằm trong tầm tay. Phép biện chứng được thể hiện qua việc ông nhìn thấy mầm mống của tai họa ngay trong lúc thái bình và nhìn thấy cơ hội chiến thắng ngay trong tình thế hiểm nghèo. Tư duy này giúp ông vượt qua những biểu hiện bề ngoài để nắm bắt bản chất cốt lõi của vấn đề. Ông dạy cho tướng sĩ cách tư duy khoa học và thực tế thay vì trông chờ vào những ảo vọng hão huyền. Bài hịch là một bài học sâu sắc về nhận thức luận và phương pháp luận hành động.
Mẫu 24
Hình ảnh người chủ tướng ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa là một biểu tượng nghệ thuật đầy sức ám ảnh về nỗi đau và sự thấu cảm sâu sắc trước vận mệnh dân tộc. Nỗi đau ấy không phải là nỗi đau thể xác mà là nỗi đau tinh thần của một nhân cách lớn đang gánh vác trọng trách nặng nề trước lịch sử. Trần Quốc Tuấn đã không ngần ngại bộc lộ những cảm xúc yếu mềm nhất của mình để tìm kiếm sự đồng điệu từ phía tướng sĩ. Sự chân thành của ông đã xóa nhòa khoảng cách giai cấp và biến mối quan hệ mệnh lệnh phục tùng thành mối quan hệ chia sẻ đồng cảm. Ông muốn tướng sĩ hiểu rằng ông không đứng trên họ để ra lệnh mà đang đứng cùng họ để chịu đựng nỗi đau chung của đất nước. Nỗi đau này đóng vai trò như một chất kết dính tinh thần gắn kết hàng vạn con người thành một khối thống nhất không thể tách rời. Khả năng thấu cảm của vị chủ tướng đã đánh thức lương tri và tình cảm con người trong lòng binh sĩ. Nó chứng minh rằng sức mạnh thực sự của một đội quân không chỉ nằm ở vũ khí mà còn nằm ở sự thống nhất về ý chí và tình cảm. Đây là giá trị nhân văn cao cả làm nên tầm vóc của tác phẩm.
Mẫu 25
Văn bản chứa đựng những cảnh báo mang tính chiến lược về bản chất không bao giờ thay đổi của chủ nghĩa bành trướng và lòng tham của các thế lực ngoại bang. Trần Quốc Tuấn nhìn thấu dã tâm của quân Nguyên Mông không chỉ dừng lại ở việc đòi cống nạp mà là thôn tính và nô dịch toàn bộ Đại Việt. Ông ví lòng tham của chúng như túi tham không đáy không bao giờ có thể lấp đầy bằng sự nhượng bộ hay thỏa hiệp. Nhận định này giúp phá tan mọi ảo tưởng hòa bình ngây thơ trong nội bộ triều đình và quân đội lúc bấy giờ. Tác giả khẳng định rằng con đường duy nhất để bảo vệ độc lập là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Sự tỉnh táo chính trị này là yếu tố then chốt giúp nhà Trần hoạch định đường lối kháng chiến đúng đắn và kiên quyết. Ông đã trang bị cho tướng sĩ một vũ khí tư tưởng sắc bén để họ không bị dao động trước những đòn ngoại giao xảo quyệt của kẻ thù. Bài học về sự cảnh giác trước dã tâm của các cường quốc vẫn còn nguyên giá trị thời sự cho đến tận ngày nay. Tác phẩm là lời nhắc nhở vĩnh cửu về việc phải luôn giữ vững chủ quyền và không bao giờ được mơ hồ về bản chất của đối phương.
Mẫu 26
Thông qua bài hịch Trần Quốc Tuấn đã gián tiếp xây dựng nên một mô hình người anh hùng lý tưởng của thời đại Đông A với những phẩm chất tuyệt vời. Đó là người có lòng yêu nước nồng nàn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và sẵn sàng hy sinh thân mình vì nghĩa lớn. Người anh hùng ấy phải có trí tuệ sáng suốt để nhận biết thời cuộc và có bản lĩnh kiên cường để vượt qua mọi cám dỗ tầm thường. Đồng thời họ còn phải là người có lòng tự trọng cao biết nhục khi nước mất và biết vinh khi chiến thắng kẻ thù. Hình mẫu này không phải là siêu nhân thần thánh mà là những con người bằng xương bằng thịt biết đau nỗi đau của dân tộc và biết hành động vì lẽ phải. Tác giả muốn mỗi người tướng sĩ đều phải phấn đấu để trở thành một phiên bản của mẫu hình lý tưởng đó. Việc noi gương các bậc trung thần nghĩa sĩ trong quá khứ chính là con đường tu dưỡng để hoàn thiện nhân cách của người quân tử. Mô hình này đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều thế hệ người Việt Nam trong các cuộc chiến tranh vệ quốc sau này. Nó góp phần định hình nên hệ giá trị văn hóa và nhân cách Việt Nam truyền thống.
Mẫu 27
Hịch tướng sĩ là bản tuyên ngôn đanh thép nhất của thời đại nhà Trần và là sự kết tinh rực rỡ của Hào khí Đông A. Tác phẩm không chỉ giải quyết nhiệm vụ quân sự trước mắt mà còn phản ánh tinh thần quật khởi và ý chí tự cường của cả một dân tộc đang trên đà hưng thịnh. Hào khí Đông A là sự hòa quyện giữa lòng yêu nước khát vọng tự do và tinh thần thượng võ dũng cảm của con người Đại Việt thế kỷ mười ba. Trần Quốc Tuấn bằng tài năng và nhân cách của mình đã trở thành linh hồn và là người phát ngôn vĩ đại nhất cho tinh thần ấy. Bài hịch là tiếng kèn xung trận vang vọng ngàn năm thôi thúc các thế hệ con cháu Lạc Hồng đứng lên bảo vệ non sông gấm vóc. Nó khẳng định chân lý rằng một dân tộc nhỏ bé nhưng nếu có đường lối đúng đắn và tinh thần đoàn kết thì hoàn toàn có thể đánh bại những kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới. Giá trị của tác phẩm đã vượt qua biên giới của một văn bản lịch sử để trở thành di sản văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Hịch tướng sĩ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường và là niềm tự hào bất diệt của các thế hệ người Việt trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Bố cục
Văn bản chia thành 3 phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “lưu tiếng tốt”: Nêu tên những trung thần nghĩa sĩ được sử sách lưu danh
- Phần 1: Từ tiếp đến “ta cũng vui lòng”: Tình hình đất nước hiện tại và nỗi lòng của người chủ tướng
- Phần 3: Còn lại: Phê phán những biểu hiện sai trái trong hàng ngũ quân sĩ và kêu gọi tướng sĩ.
Nội dung chính
Bài Hịch phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Ngoài ra, bài hịch còn thể hiện lòng căm thù giặc và ý chí quyết thắng.
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Nam quốc sơn hà - bài thơ thần khẳng định chân lý độc lập của đất nước
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Đất Nước - CTST
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Tôi có một giấc mơ
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Buổi học cuối cùng - CTST
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Xuân về
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Chân trời sáng tạo - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Tôi có một giấc mơ
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Nam quốc sơn hà - bài thơ thần khẳng định chân lý độc lập của đất nước
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Hịch tướng sĩ - CTST
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Xuân về
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đất rừng phương Nam
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Tôi có một giấc mơ
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Nam quốc sơn hà - bài thơ thần khẳng định chân lý độc lập của đất nước
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Hịch tướng sĩ - CTST
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Xuân về
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đất rừng phương Nam




