200+ đề đọc hiểu Văn 11 | Luyện đề đọc hiểu lớp 11 80+ Đề đọc hiểu Truyện ngắn - Luyện đề đọc hiểu Văn 11

Đọc hiểu Sinh tồn (Vũ Tú Nam) | Luyện đề đọc hiểu Văn 11


Sớm ấy ra vườn, ông ngạc nhiên thấy cá cảnh trong bể non bộ không lượn lên mặt nước tíu tít như mọi hôm. Cả đôi cá vàng lớn cũng biến đi đâu mất.

Câu hỏi

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

SINH TỒN

Sớm ấy ra vườn, ông ngạc nhiên thấy cá cảnh trong bể non bộ không lượn lên mặt nước tíu tít như mọi hôm. Cả đôi cá vàng lớn cũng biến đi đâu mất. Ông rắc ít hạt cơm vào góc bể, nơi lũ cá vẫn quen đến ăn, nhìn kĩ chỉ thấy mấy con ốc lặng lờ.

Điều gì đã xảy ra thế nhỉ?

Hôm sau, ông dậy sớm, đúng rình bên cửa sổ. Hai chú chim sâu bay chuyền từ bụi nhót sang cây khế, kêu lích chích. Bỗng nhiên một vật gì lao vút xuống bể cá, làm toé nước lên thành bể, rồi biến hút về phía Tây. Ông chỉ kịp nhận ra bóng một con chim xanh biếc, con trả chanh, loại bói cá nhỏ mà lâu lắm ông không gặp lại.

Như vậy là đã tìm ra thủ phạm rồi. Không biết nó đã cướp đi của ông bao nhiêu sinh mạng cá? Hèn nào mà đàn khổng tước bị diệt sạch. Và thỉnh thoảng một hai con mún chết nổi lên mặt nước.

Ông nghĩ cách ngăn chặn tội ác này. Lục tìm trong tủ những mảnh giấy trang kim in xanh đỏ; thường dùng để gói quà, ông ghim khắp giàn nhót và cành khế gần bế non bộ, chắc mẩm nó sẽ sợ hết vía, không dám sà xuống nữa.

Trận địa được một hôm yên tĩnh. Sớm sau, con bói cá ngang nhiên chọc tức, lao xuống cướp mồi ngay trước mũi ông. Ông giận điên lên khi thấy con cá quẫy cái đuôi vàng hấp hối trong gọng kìm thép của mỏ bói cá.

(Lược một đoạn: Ông thay đổi chiến thuật ngăn chặn con bói cá nhưng không được. Cuối cùng, vì quá tức giận, ông đã hầm hầm xách dao xuống vườn, nhằm các cành cây con trả chanh có thể đậu để rình bắt cá, cứ thế mà phát mà chặt, bất chấp lời can ngăn của vợ ông vì cây khế đang ra hoa.)

Sớm sau nữa, con bói cá không đến.

Lại sớm sau nữa, vẫn vắng bóng con trả chanh.

Đôi cá vàng to bắt đầu lượn lên mặt bể nước, như để thăm dò. Rồi hôm sau, hôm sau, hôm sau nữa, vẫn không thấy “địch” động tĩnh. Lũ cá kiếm, cá mún, bấy lâu náu núp dưới đáy bể, bắt đầu ngoi lên lượn lờ. [...]

Ông vui được mấy hôm với tinh thần chiến thắng, rồi bỗng lại thấy buồn. Buồn vì xóm ông ở ngày càng vắng bóng chim và thiếu tiếng chim. Mới hè năm ngoái ông còn nghe con cuốc kêu sát vách nhà ông, ven bờ sông đào. Tiếng “Cuốc! Cuốc!” khắc khoải khiến ông tưởng như đang sống giữa làng quê của mẹ ông xưa. Rồi tiếng con chích choè dậy sớm hót ríu ran đánh thức mọi người. Rồi chào mào, và sáo... Bây giờ chúng biến đi đâu hết. [...]

Bỗng nhiên ông thấy nhớ và thương con chim bói cá. Ở quê nhà, hồi nhỏ, ông đã từng tìm thấy tổ bói cá ở bờ ao. Đôi chim vợ chồng đào lỗ xây ổ trong đất, thay nhau ấp trứng, canh gác và kiếm mồi về nuôi con. Biết đâu con trả chanh - “kẻ địch” mà ông xua đuổi - đang phải lo thức ăn cho lũ con nheo nhóc, nên đã cố sống cố chết lao vào bể cá của ông. Biết đâu con bói cá ấy đã chẳng bị một tay súng hơi nào bắn trúng. Hoặc tổ của nó bị phá sập.

Nghĩ tới đó, ông bỗng lặng người. Ông không thể là đồng minh của những kẻ tàn sát chim muông. Ông ì ạch bê chậu nước có lũ cả mới ra sân, trút vào bể non bộ. Nước cuộn lên, dạt đám rong rêu. Đàn cá cũ túa đến, quấn lấy bày cá mới, nào kiếm vàng, mún đen, mún đốm, chúng xoắn xuýt như múa lượn. Chúng chào nhau hay chào ông thế nhỉ?

Bất giác nhìn lên cây khế đầy thương tích, ông lẳng lặng thu hết các “chiến thuyền” hộp xốp, cờ xí và giấy trang kim xanh đỏ, vứt vào sọt rác. Ông đã thực sự ngưng chiến và thu quân rồi. Ông thầm mong con bói cả trở về, dù chỉ trong một phút, để ông được thấy nó còn nguyên vẹn.

(Tác phẩm văn học được giải thưởng Nhà nước, Vũ Tú Nam tuyển tập, tập 1,

NXB Hội Nhà văn, 2014)

Câu 1

Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể ở văn bản trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Vận dụng kiến thức về ngôi kể trong văn bản tự sự.

- Dấu hiệu: đại từ xưng hô, cách gọi nhân vật, vị trí người kể chuyện.

Lời giải chi tiết

- Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.

- Dấu hiệu: người kể chuyện giấu mình, không tham gia vào câu chuyện

Giải thích: Người kể chuyện giấu mình, đứng ngoài câu chuyện và gọi nhân vật bằng “ông”, vì vậy đây là ngôi kể thứ ba. Ngôi kể này giúp người kể quan sát, miêu tả sự việc và tâm lí nhân vật một cách linh hoạt, khách quan.

Câu 2

Nêu hai chi tiết cho thấy bể cá của nhân vật ông đã bị con chim bói cá tấn công.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ đoạn văn đầu.

- Tìm những chi tiết miêu tả trực tiếp hành động của chim bói cá hoặc hậu quả của việc bị tấn công.

- Chọn 2 chi tiết tiêu biểu.

Lời giải chi tiết

+ "Một vật gì lao vút xuống bể cá, làm toé nước lên thành bể... Ông chỉ kịp nhận ra bóng một con chim xanh biếc, con trả chanh".

+ "Ông giận điên lên khi thấy con cá quẫy cái đuôi vàng hấp hối trong gọng kìm thép của mỏ bói cá."

Câu 3

Nhận xét về quy luật sinh tồn của tự nhiên thể hiện qua đoạn văn bản in đậm.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Xác định nội dung chính của đoạn in đậm.

- Liên hệ đến quy luật sinh tồn trong tự nhiên: sinh vật phải kiếm ăn để sống, chuỗi thức ăn.

- Nêu nhận xét khái quát.

Lời giải chi tiết

- Quy luật sinh tồn của tự nhiên được thể hiện:

+ Mỗi loài đều có khả năng tự bảo vệ và thích nghi để tồn tại. Khi xuất hiện “kẻ thù” (chim bói cá), đàn cá nhỏ náu núp dưới đáy bể để tránh nguy hiểm; khi mối đe dọa không còn, chúng ngoi lên lượn lờ trở lại.

+ Các loài sinh vật tồn tại trong mối quan hệ cân bằng của tự nhiên. Sự xuất hiện hay biến mất của một loài đều ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh.

+ Thiên nhiên gắn bó với đời sống của con người. Khi con người can thiệp thô bạo vào tự nhiên, không chỉ làm mất cân bằng sinh thái mà còn làm nghèo đi không gian văn hóa và ký ức của chính mình.

⇒ Quy luật sinh tồn của tự nhiên không chỉ là sự đối đầu giữa các loài mà còn là sự thích nghi, cân bằng và gắn bó chặt chẽ giữa con người với thiên nhiên.

Giải thích: Qua chi tiết về đàn cá và sự vắng bóng của chim chóc, tác giả cho thấy quy luật sinh tồn của tự nhiên không chỉ là sự đối đầu giữa các loài, mà còn là sự cân bằng và mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng. Con người cần nhận thức điều đó để ứng xử hài hòa với thiên nhiên.

Câu 4

Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong đoạn văn sau: Đàn cá cũ tủa đến, quấn lấy bày cá mới, nào kiếm vàng, mún đen, mún đốm, chúng xoắn xuýt như mủa lượn. Chúng chào nhau hay chào ông thế nhỉ?

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Xác định dấu hiệu nhân hóa

- Phân tích ít nhất 2 tác dụng

Lời giải chi tiết

- Trong đoạn văn, đàn cá được nhân hóa qua các từ ngữ: “quấn lấy”, “xoắn xuýt”, “chào nhau”, “chào ông”.

- Tác dụng:

+ Làm cho hình ảnh đàn cá trở nên sinh động, gần gũi

+ Thể hiện sự thay đổi trong tâm hồn nhân vật ông: từ sự giận dữ, ngăn chặn sang sự yêu thương, hòa hợp. Nó cho thấy khi con người mở lòng với thiên nhiên, thiên nhiên cũng trở nên thân thiện và tràn đầy sức sống.

Câu 5

Cuối văn bản, nhân vật ông đã ngưng chiến, thu quân và thầm mong con bói cá trở về, dù chỉ trong một phút, để ông được thấy nó còn nguyên vẹn. Qua đó, anh/ chị suy nghĩ gì về cách ứng xử của con người với thiên nhiên?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Rút ra bài học từ hành động và sự thay đổi nhận thức của nhân vật.

Lời giải chi tiết

Đoạn văn tham khảo:

Qua sự thay đổi của nhân vật ông, có thể thấy con người cần ứng xử nhân văn và hài hòa với thiên nhiên. Mỗi sinh vật đều có quyền được sống và tồn tại theo quy luật tự nhiên của nó. Vì vậy, con người không nên ích kỉ hay tàn nhẫn với các loài vật chỉ vì lợi ích của mình. Thay vào đó, chúng ta cần tôn trọng, bảo vệ và chung sống hòa hợp với thiên nhiên. Khi biết yêu thương và gìn giữ thiên nhiên, môi trường sống của con người cũng trở nên trong lành và bền vững hơn.

 


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 11 - Xem ngay

Group 2K9 Ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...