Đề thi học kì 2 Văn 8 - Đề số 9>
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa, quyết định tặng thận… […] Tháng 3-2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một quả thận cho một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình. Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy thận nhiều năm và cần được ghép thận để tiếp tục được sống.
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 8 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - Khoa học tự nhiên
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa, quyết định tặng thận…
[…] Tháng 3-2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một quả thận cho một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình. Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy thận nhiều năm và cần được ghép thận để tiếp tục được sống.
[…] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định hiến tặng đến khi lên bàn mổ, bà Thảo đã phải hơn 10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh viện Việt Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm 2016 khi mẹ con bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của việc hiến tặng mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi vội vã trở về ngay trong đêm… Nếu có ai hỏi về chuyện hiến thận đã qua, bà chỉ phẩy tay cười: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang rất khỏe là gì…” Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo, giờ đây có thêm hai gia đình được hạnh phúc vì người thân của họ được khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh, gia đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kì lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kì lạ chút nào, họ chỉ muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào định danh được!
(Trích Hai mẹ con cùng hiến thận, Lan Anh, Báo Tuổi trẻ, ngày 31/5/2018)
Câu 1 (0.5 điểm). Đoạn văn trên thuộc thể loại văn bản nào?
Câu 2 (0.5 điểm). Em hãy tìm lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 3 (1,0 điểm). Để có thể hiến tặng quả thận, bà Thảo đã phải mất bao nhiêu lần ra bệnh viện Việt Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm? Trước việc làm sẵn sàng cho đi một phần cơ thể mình mà không băn khoăn của hai mẹ con bà Thảo, cho thấy họ là người như thế nào?
Câu 4 (1,0 điểm). Theo tác giả, tại sao hành động của mẹ con bà Thảo được xem là “rất đỗi lạ lùng”?
Câu 5 (1,0 điểm). Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong câu sau:
Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Từ câu chuyện về mẹ con bà Thảo hiến thận cứu người, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng nhân ái và sự sẻ chia trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm). Em hãy viết bài văn thuyết minh về một hiện tượng tự nhiên mà em quan tâm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định mục đích văn bản (cung cấp thông tin, kể chuyện hay bộc lộ cảm xúc).
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn trên thuộc thể loại văn bản thuyết minh
Câu 2
Phương pháp giải:
- Tìm câu có dấu ngoặc kép.
- Xác định lời nói được trích nguyên văn.
Lời giải chi tiết:
Lời dẫn trực tiếp: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang rất khỏe là gì…”
Câu 3
Phương pháp giải:
Tìm chi tiết số liệu trong đoạn: “Để tặng được quả thận… để làm các xét nghiệm”
Dựa vào hành động => suy ra phẩm chất (nhân ái, vị tha).
Lời giải chi tiết:
- Số lần bà Thảo đến bệnh viện để làm xét nghiệm: hơn 10 lần.
- Việc làm của hai mẹ con cho thấy họ là những con người giàu lòng nhân ái, vị tha, sẵn sàng hy sinh vì người khác mà không toan tính hay đòi hỏi sự đền đáp.
Câu 4
Phương pháp giải:
Xác định hành động đặc biệt (hiến thận cho người lạ).
So với bình thường => rút ra lí do “lạ lùng”
Lời giải chi tiết:
Lý do hành động của mẹ con bà Thảo được xem là “rất đỗi lạ lùng”: Vì họ đã sẵn sàng hiến tặng một phần cơ thể của mình cho người xa lạ mà không hề do dự. Hành động này vượt qua suy nghĩ thông thường của nhiều người, thể hiện một tinh thần vị tha và lòng nhân ái cao đẹp.
Câu 5
Phương pháp giải:
- Tìm dấu hiệu tu từ (vd: “như” => so sánh).
- Nêu tác dụng: làm sinh động + nhấn mạnh ý nghĩa + thể hiện thái độ.
Lời giải chi tiết:
- So sánh: Hai vết sẹo dài trên bụng hai mẹ con (bà Thảo và Hòa) được so sánh như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
- Tác dụng của biện pháp so sánh:
+ Làm cho câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn…
+ Nhấn mạnh ý nghĩa của những vết sẹo không chỉ là dấu tích của ca phẫu thuật, mà còn là biểu tượng cho sự hy sinh cao cả, cho lòng nhân ái và tinh thần sẻ chia vô tư của mẹ con bà Thảo.
+ Qua đó, tác giả bày tỏ sự ngưỡng mộ và tôn vinh hành động đẹp này.
PHẦN VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
- Viết đúng một đoạn văn khoảng 5 - 7 câu, không ngắt đoạn tùy tiện.
- Diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Đoạn văn cần làm rõ ý nghĩa của lòng nhân ái và sự sẻ chia trong cuộc sống
Lời giải chi tiết:
- Giới thiệu vấn đề: Lòng nhân ái và sự sẻ chia là những phẩm chất cao đẹp, giúp gắn kết con người và làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Giải thích, phân tích
+ Lòng nhân ái thể hiện ở tình yêu thương, sự quan tâm và giúp đỡ người khác.
+ Sự sẻ chia giúp lan tỏa niềm vui, xoa dịu nỗi đau và mang đến hạnh phúc cho cả người cho đi và người nhận lại.
+ Câu chuyện về mẹ con bà Thảo là một minh chứng tiêu biểu, khi họ sẵn sàng hiến tặng một phần cơ thể để cứu người khác mà không mong nhận lại điều gì.
- Bài học rút ra:
+ Mỗi người nên nuôi dưỡng lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ những người khó khăn.
+ Một hành động nhỏ như chia sẻ bữa ăn, giúp đỡ người già, động viên bạn bè cũng có thể làm cuộc sống ý nghĩa hơn.
Câu 2
Phương pháp giải:
1. Mở bài
- Nêu hiện tượng tự nhiên và đưa ra cái nhìn bao quát về hiện tượng này
2. Thân bài
- Miêu tả hay thuật lại các biểu hiện điển hình của hiện tượng tự nhiên
- Nêu lần lượt các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tự nhiên, kết hợp trích dẫn ý kiến của các chuyên gia và bổ sung trên cơ sở một số tài liệu được cập nhật.
+ Xác định mối liên hệ giữa hiện tượng tự nhiên với đời sống của con người; nêu, đánh giá khái quát về thái độ và những việc con người đã làm trước hiện tượng tự nhiên đó.
3. Kết bài
- Nêu ấn tượng hay đánh giá chung của bản thân về hiện tượng tự nhiên được đề cập.
Lời giải chi tiết:
Một trong những hiện tượng tự nhiên đang xảy ra là nước biển dâng. Và hậu quả của hiện tượng trên để lại là vô cùng nghiêm trọng đối với Trái Đất và nhân loại.
Hiện tượng nước biển dâng xảy ra do nhiều nguyên nhân. Một trong số đó phải kể đến thủy triều - là yếu tố có dao động lớn và tác động thường xuyên nhất đến sự thay đổi của mực nước biển. Bên cạnh thuỷ triều, mực nước biển còn bị ảnh hưởng bởi tác động của khối không khí trên mặt biển, đặc biệt là gió. Gió góp phần tạo nên các hoàn lưu và dòng chảy trên biển, khiến cho mực nước dâng cao hơn hay hạ thấp xuống. Tuy nhiên, dao động của thủy triều, gió hay do bão diễn ra đều đặn hàng năm nên không có sự thay đổi đáng kể. Trong khi đó, nước biển dâng do biến đổi khí hậu diễn ra âm thầm, sự dâng lên thường rất nhỏ, chỉ vài mi-li-mét mỗi năm. Vì vậy, chúng ta rất khó nhận biết trực tiếp bằng mắt thường mà không có các đo đạc và quan trắc. Lượng nước biển dâng tăng lên là vĩnh viễn và không đảo ngược được.
Nước biển dâng bao nhiêu tuỳ thuộc vào tốc độ ấm lên toàn cầu nhanh hay chậm. Tại một số khu vực, mực nước biển tăng nhanh hơn nơi khác, đặc biệt là quanh hai cực của Trái Đất nơi băng tan ra, và gần “bể nước nóng nhiệt đới” giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Mực nước biển từ năm 1880 đến năm 2000 đã dâng lên đến hơn 0,2 mét (tương đương với 20 xăng-ti-mét). Trong những năm gần đây, mức tăng trung bình khoảng 3 mi-li-mét mỗi năm và việc tăng này có gia tốc, mức tăng của năm sau cao hơn hơn năm trước.
Hiện tượng nước biển dâng có ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Một số tác động của hiện tượng nước biển dâng như về tự nhiên như gây ra xói mòn đất tại các vùng ven biển, cũng như lũ lụt xảy ra nhiều hơn hay các cơn bão diễn ra nguy hiểm hơn; đất nông nghiệp sẽ bị nhiễm mặn, đe dọa đến môi trường sống của các loài động vật dưới nước. Về cơ sở vật chất, hạ tầng, những đô thị và cơ sở hạ tầng bên bờ biển sẽ bị đe dọa bởi sự tăng mực nước biển, việc phải di dời hệ thống hạ tầng cơ sở như cảng biển, đường bờ biển, các nhà máy điện gió sẽ là một khoản chi phí đáng kể, ngoài ra còn đe dọa đến các dịch vụ cơ bản như truy cập Internet và điện thoại,... Nước biển dâng còn gây ra nhiều thiên tai gây nguy hiểm đến tính mạng con người, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế (nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản),...
Nước biển dâng là một hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng tiêu cực. Vì vậy, nhân loại cần có biện pháp để ngăn chặn hiện tượng này diễn ra.
- Đề thi học kì 2 Văn 8 - Đề số 8
- Đề thi học kì 2 Văn 8 - Đề số 7
- Đề thi học kì 2 Văn 8 - Đề số 6
- Đề thi học kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 5
- Đề thi học kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 4
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 8 - Kết nối tri thức - Xem ngay




Danh sách bình luận