Đề thi tiếng việt 5, đề kiểm tra tiếng việt 5 kết nối tri thức với cuộc sống có đáp án và lời giải chi tiết
Đề kiểm tra học kì 2 Tiếng Việt 5 - Kết nối tri thức Đề thi cuối học kì 2 Tiếng Việt 5 - Đề số 6>
Qua đò Găng thì trời mưa to. Đường đến nhà bà ngoại còn khá xa. Trời sắp tối. Năm đó, tôi mới lên 9 tuổi nên rất lo. Tôi đến báo cho bà và cậu Long biết là mẹ đang cấp cứu ở bệnh viện.
Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 5 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh
Đề bài
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.
II. Đọc thầm văn bản sau:
Chú bộ đội bên bến đò Găng
Qua đò Găng thì trời mưa to. Đường đến nhà bà ngoại còn khá xa. Trời sắp tối. Năm đó, tôi mới lên 9 tuổi nên rất lo. Tôi đến báo cho bà và cậu Long biết là mẹ đang cấp cứu ở bệnh viện.
Tôi phải trú mưa nơi quán nước trên bến đò, lòng tôi như lửa đốt. Bỗng có một chú bội đội đi qua, quay lại. Chú cũng đứng trú mưa. Chú nhìn tôi rồi hỏi:
- Cháu vừa ở dưới đò lên à? Cháu ướt hết rồi. Trời sắp tối rồi, cháu đi về đâu?
- Thưa chú, cháu đi về làng Bồng thăm bà ngoại. Còn xa không chú?
- Độ hai cây số nữa. Chú cháu ta cùng đi.
- Chú xin bà chủ quán cho tôi cái nón, rồi giục tôi: “Ta đi thôi...”. Chú đi trước, tôi đi sau. Chú đeo quân hàm Thiếu uý. Chú trạc tuổi thầy giáo Ngọc dạy tôi, độ 25 tuổi. Chú cao to, nước da đen, đi đôi giày da đen quân dụng, mặc bộ quân phục màu xanh lá cây. Cặp mắt ánh lên trong sáng, vừa thông minh vừa hiền hậu. Chú khoác cái ba lô rất nặng. Chắc là chú về phép.
Đi được độ cây số thì mưa tạnh. Tôi đã hơi quen và tin cậy. Tôi hỏi:
- Chú về phép hay đi công tác ạ?
- Chú ở Lai Châu, về phép. Chú còn đi xa, xa hơn làng Bồng độ vài cây số nữa.
Chú hỏi tên, tuổi và việc học hành của tôi. Sau khi biết chuyện về chuyến đi của tôi, chú nắm lấy hai vai của tôi rồi nói: “Thế à? Chú cháu mình phải đi gấp!”.
Độ 8 giờ tối, chú hỏi đường và dẫn tôi đến tận nhà bà. Nghe tiếng gọi, cậu Long ra mở cửa. Chú cười và nói:
- Nhà có khách đây... Tôi phải đi ngay!
Chú vuốt mái tóc tôi và nói: “Cháu ngoan lắm! Chỉ vài hôm nữa là mẹ sẽ khỏi bệnh, mẹ sẽ về nhà... Chú đi đây...”.
Tôi ngoái cổ nhìn chú đi, bóng chú mờ dần trên con đường làng về phía núi.
(Lê Quỳnh Châu)
Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:
Câu 1. Nhân vật “tôi” đến nhà bà ngoại trong hoàn cảnh nào?
A. Đường xa, trời đã tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
B. Đường về gần, trời sắp tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
C. Đường xa, trời sắp sáng và khi qua được đò Găng thì mưa.
D. Đường xa, trời sắp tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
Câu 2. Vì sao nhân vật “tôi” lại đến nhà bà vào thời điểm đó?
A. Vì đã rất lâu bạn nhỏ chưa về thăm bà và cậu Long.
B. Vì bà của bạn nhỏ đang cấp cứu ở bệnh viện.
C. Vì cậu Long bị ốm đang nằm ở bệnh viện.
D. Vì mẹ đang cấp cứu ở bệnh viện, bạn nhỏ muốn báo tin cho bà và cậu.
Câu 3. Chú bộ đội đã làm gì để giúp đỡ nhân vật “tôi”?
A. Nhờ bà chủ quán cho nhân vật “tôi” trú mưa.
B. Hỏi thăm và ân cần đi cùng nhân vật “tôi” về nhà.
C. Hỏi han rồi chỉ đường cho nhân vật “tôi” về nhà bà.
D. Xin cho nhân vật “tôi” cái nón che mưa và dẫn về nhà bà.
Câu 4. Nhân vật “tôi” trong bài cảm nhận chú bộ đội là người thế nào?
A. Chú là người thông minh, hiền hậu, ấm áp và đáng tin cậy.
B. Chú vui tính như thầy giáo Ngọc ở trường.
C. Chú thông thạo đường xá ở quê, đi bộ rất nhanh.
D. Chú là người đẹp trai nhất mà bạn nhỏ từng gặp.
Câu 5. Viết 2 – 3 câu thể hiện tình cảm của em với chú bộ đội trong câu chuyện trên.
Câu 6. Từ "đường” trong câu nào dưới đây mang nghĩa chuyển?
A. Đường đến nhà bà ngoại còn khá xa.
B. Xóm tôi vừa lắp đường dây điện mới.
C. Bóng chú mờ dần trên con đường làng về phía núi.
D. Chú hỏi đường và dẫn tôi đến tận nhà bà.
Câu 7. Câu nào dưới đây là câu ghép?
A. Tôi phải trú mưa nơi quán nước trên bến đò, lòng tôi như lửa đốt.
B. Chú trạc tuổi thầy giáo Ngọc dạy tôi, độ 25 tuổi.
C. Cặp mắt ánh lên trong sáng, vừa thông minh vừa hiền hậu.
D. Độ 8 giờ tối, chú hỏi đường và dẫn tôi đến tận nhà bà.
Câu 8. Các vế trong câu sau được nối với nhau bằng cách nào?
Tôi ngoái cổ nhìn chú đi, bóng chú mờ dần trên con đường làng về phía núi.
Câu 9. Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu.
Cây phượng vĩ đứng sừng sững giữa sân trường. Các bạn học sinh không biết nó được trồng từ bao giờ. Những chùm hoa phượng đỏ rực làm nền cho bầy ve hót râm ran. Chúng tạo nên những âm thanh rộn rã cho mùa hè tươi vui.
a. Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau bằng cách:
b. Từ ngữ thể hiện phép liên kết đó:
B. Kiểm tra viết
Đề bài: Viết bài văn tả thầy giáo hoặc cô giáo mà em yêu quý.
-------- Hết --------
Lời giải
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM
|
1. A |
2. D |
3. D |
4. A |
6. B |
7. A |
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
II. Đọc thầm văn bản sau:
Câu 1. Nhân vật “tôi” đến nhà bà ngoại trong hoàn cảnh nào?
A. Đường xa, trời đã tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
B. Đường về gần, trời sắp tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
C. Đường xa, trời sắp sáng và khi qua được đò Găng thì mưa.
D. Đường xa, trời sắp tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật “tôi” đến nhà bà ngoại trong hoàn cảnh: đường xa, trời đã tối và khi qua được đò Găng thì mưa.
Đáp án A.
Câu 2. Vì sao nhân vật “tôi” lại đến nhà bà vào thời điểm đó?
A. Vì đã rất lâu bạn nhỏ chưa về thăm bà và cậu Long.
B. Vì bà của bạn nhỏ đang cấp cứu ở bệnh viện.
C. Vì cậu Long bị ốm đang nằm ở bệnh viện.
D. Vì mẹ đang cấp cứu ở bệnh viện, bạn nhỏ muốn báo tin cho bà và cậu.
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật “tôi” lại đến nhà bà vào thời điểm đó vì mẹ đang cấp cứu ở bệnh viện, bạn nhỏ muốn báo tin cho bà và cậu.
Đáp án D.
Câu 3. Chú bộ đội đã làm gì để giúp đỡ nhân vật “tôi”?
A. Nhờ bà chủ quán cho nhân vật “tôi” trú mưa.
B. Hỏi thăm và ân cần đi cùng nhân vật “tôi” về nhà.
C. Hỏi han rồi chỉ đường cho nhân vật “tôi” về nhà bà.
D. Xin cho nhân vật “tôi” cái nón che mưa và dẫn về nhà bà.
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn từ “Chú xin bà chủ quán” đến “phải đi ngay” để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Chú bộ đội đã xin cho nhân vật “tôi” cái nón che mưa và dẫn về nhà bà.
Đáp án D.
Câu 4. Nhân vật “tôi” trong bài cảm nhận chú bộ đội là người thế nào?
A. Chú là người thông minh, hiền hậu, ấm áp và đáng tin cậy.
B. Chú vui tính như thầy giáo Ngọc ở trường.
C. Chú thông thạo đường xá ở quê, đi bộ rất nhanh.
D. Chú là người đẹp trai nhất mà bạn nhỏ từng gặp.
Phương pháp giải:
Em đọc đoạn từ “Chú xin bà chủ quán” đến “hay đi công tác ạ?” để chọn đáp án đúng.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật “tôi” trong bài cảm nhận chú bộ đội là người thông minh, hiền hậu, ấm áp và đáng tin cậy.
Đáp án A.
Câu 5. Viết 2 – 3 câu thể hiện tình cảm của em với chú bộ đội trong câu chuyện trên.
Phương pháp giải:
Em sử dụng từ ngữ thể hiện tình cảm với chú bộ đội trong câu chuyện.
Lời giải chi tiết:
Chú bộ đội trong câu chuyện trên là người thông minh, hiền hậu, ấm áp và đáng tin cậy. Khi thấy nhân vật "tôi" một mình dưới đò lên, chú đã xin cho nhân vật “tôi” cái nón che mưa và chỉ đường về nhà bà.
Câu 6. Từ "đường” trong câu nào dưới đây mang nghĩa chuyển?
A. Đường đến nhà bà ngoại còn khá xa.
B. Xóm tôi vừa lắp đường dây điện mới.
C. Bóng chú mờ dần trên con đường làng về phía núi.
D. Chú hỏi đường và dẫn tôi đến tận nhà bà.
Phương pháp giải:
Em xác định nghĩa của từ “đường” trong từng câu để xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển.
Lời giải chi tiết:
Từ “đường” trong các câu A, C, D đều chỉ lối đi cụ thể nên mang là nghĩa gốc.
Từ "đường” trong câu B chỉ những sợi dây dài, có hình dáng kéo dài giống như con đường để dẫn điện vào nhà nên mang nghĩa chuyển.
Đáp án B.
Câu 7. Câu nào dưới đây là câu ghép?
A. Tôi phải trú mưa nơi quán nước trên bến đò, lòng tôi như lửa đốt.
B. Chú trạc tuổi thầy giáo Ngọc dạy tôi, độ 25 tuổi.
C. Cặp mắt ánh lên trong sáng, vừa thông minh vừa hiền hậu.
D. Độ 8 giờ tối, chú hỏi đường và dẫn tôi đến tận nhà bà.
Phương pháp giải:
Em xác định thành phần câu để tìm câu ghép.
Lời giải chi tiết:
Câu A. Tôi (CN1) / phải trú mưa nơi quán nước trên bến đò (VN1), lòng tôi (CN2) / như lửa đốt (VN2). à Câu ghép
Câu B. Chú (CN1) / trạc tuổi thầy giáo Ngọc dạy tôi (VN1), độ 25 tuổi (VN2). à Câu đơn
Câu C. Cặp mắt (CN1) / ánh lên trong sáng (VN1), vừa thông minh vừa hiền hậu (VN2). à Câu đơn
Câu D. Độ 8 giờ tối, chú (CN1) / hỏi đường và dẫn tôi đến tận nhà bà (VN2). à Câu đơn
Đáp án A.
Câu 8. Các vế trong câu sau được nối với nhau bằng cách nào?
Tôi ngoái cổ nhìn chú đi, bóng chú mờ dần trên con đường làng về phía núi.
Phương pháp giải:
Em nhớ lại các cách nối các vế câu trong câu ghép.
Lời giải chi tiết:
Các vế được nối với nhau trực tiếp bằng dấu phẩy.
Câu 9. Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu.
Cây phượng vĩ đứng sừng sững giữa sân trường. Các bạn học sinh không biết nó được trồng từ bao giờ. Những chùm hoa phượng đỏ rực làm nền cho bầy ve hót râm ran. Chúng tạo nên những âm thanh rộn rã cho mùa hè tươi vui.
a. Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau bằng cách:
b. Từ ngữ thể hiện phép liên kết đó:
Phương pháp giải:
Em nhớ lại các cách liên kết câu.
Lời giải chi tiết:
a. Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau bằng việc: lặp từ và dùng từ thay thế.
b. Từ ngữ thể hiện phép liên kết là:
- Lặp từ: "phượng", "hoa phượng".
- Từ thay thế: "nó" thay cho "cây phượng"; "chúng" thay cho "bầy ve".
B. Kiểm tra viết
Phương pháp giải:
Em lập dàn ý cho bài văn:
1. Mở bài: Giới thiệu thầy (cô) giáo mà em muốn miêu tả:
- Thầy (cô) giáo mà em yêu quý là ai? Hiện đang dạy em môn gì?
2. Thân bài:
- Miêu tả đặc điểm ngoại hình:
+ Thầy (cô) giáo đó bao nhiêu tuổi? Nhìn vẻ ngoài có thể đoán được không?
+ Vóc dáng của thầy (cô) giáo đó có đặc điểm gì?
+ Khuôn mặt, kiểu tóc của thầy (cô) giáo đó có gì nổi bật?
+ Thầy (cô) có điểm gì nổi bật khiến em nhớ mãi (nụ cười, ánh mắt, giọng nói,...)?
- Miêu tả hoạt động, tính cách:
+ Thầy (cô) đó có tính cách như thế nào? Thể hiện qua những hành động nào?
+ Học sinh, giáo viên khác trong trường có yêu quý thầy (cô) đó không? Vì sao?
+ Thầy (cô) giảng bài ra sao? Em và các bạn nhận thấy cách dạy đó như thế nào?
+ Trong giờ học, thầy (cô) có những hoạt động thú vị hay lời khuyên nào khiến em ấn tượng?
3. Kết bài: Nêu tình cảm, cảm xúc của em dành cho thầy (cô) giáo em vừa miêu tả.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo 1:
Mái trường là ngôi nhà thứ hai của em. Ở đó, em đã may mắn được gặp gỡ và đồng hành với người cha của mình trong suốt năm năm học. Đó chính là thầy Tuấn - giáo viên chủ nhiệm của lớp em.
Thầy Tuấn là một giáo viên trẻ vừa ra trường vào năm năm trước. Thầy ấy là giáo viên chủ nhiệm đầu tiên của em, và lớp em cũng là những học trò đầu tiên của thầy. Bây giờ, thầy đã trưởng thành hơn năm năm trước rất nhiều. Thầy Tuấn không quá cao, chỉ khoảng 1m6, với dáng người thon gầy và nước da trắng. Thầy có khuôn mặt dễ nhìn, nổi bật với nụ cười hiền lành và ánh mắt dịu dàng. Khi nhìn ai, thầy Tuấn luôn nhìn thẳng vào mắt họ để truyền sự tự tin và yêu thương. Có lẽ chính vì vậy, mà ngay lần gặp đầu tiên, lớp em đều cảm thấy gần gũi với thầy. Suốt năm năm qua, thầy Tuấn vẫn luôn trung thành với kiểu tóc cắt ngắn gọn gàng và những chiếc áo sơ-mi đơn sắc. Thầy ấy luôn rất giản dị khi đi dạy, và cả trong cuộc sống hằng ngày cũng thế. Không chỉ dạy học giỏi, thầy Tuấn còn là một thợ trồng hoa xuất sắc. Ở nhà thầy có cả một khu vườn tuyệt đẹp, và cả dãy chậu hoa ở ban công lớp em cũng do thầy chăm sóc.
Trên hành trình năm năm vừa qua, thầy Tuấn đã giúp đỡ em rất nhiều. Em luôn yêu quý và biết ơn thầy bằng cá trái tim của mình. Em mong rằng, dù bao nhiêu lần năm năm nữa, thầy ấy vẫn mãi là người giáo viên tuyệt vời và giàu tình yêu thương năm đó.
Bài tham khảo 2:
Người ta thường ví cô giáo là người mẹ thứ hai của những người học trò. Em cảm thấy lời ví von đó quả thật rất đúng đắn. Bởi với em, cô Ngọc Hà - giáo viên chủ nhiệm của em từ lớp 1 cho đến nay thực sự là một người mẹ yêu dấu của đàn con 5A.
Cô Hà - người mà em và các bạn vẫn gọi thân mật là mẹ Hà năm nay đã gần bốn mươi tuổi. Tuy vậy, cô vẫn trông rất trẻ và tươi tắn lắm. Mẹ Hà có dáng người nhỏ nhắn, mảnh mai, nổi bật với mái tóc màu nâu hạt dẻ suôn mượt, dài ngang vai. Với mái tóc đó thôi mà mỗi ngày cô lại biến tấu một cách đa dạng hơn hẳn. Có lúc cô tết đuôi sam, có lúc buộc lên một nửa, có lúc uốn xoăn nhẹ ở đuôi, có lúc thì buộc đuôi ngựa. Chỉ có một điều luôn không thay đổi là cái tóc mái ở trước trán của cô. Vì cô thường bảo cô khá tự ti về cái trán ngắn của mình, nên mới để mái để che đi. Khuôn mặt của cô có dáng tròn bầu, hai má phúng phính như em bé. Đôi mắt của cô là mắt một mí, lại hay cười nên lúc nào trông cũng cong cong như hai vành trăng non. Cái mũi của cô khá nhỏ, hơi hếch lên. Hễ trời trở lạnh, mũi cô sẽ đỏ ửng lên trông đáng yêu vô cùng. Khuôn miệng của cô Hà khá nhỏ, nên khi cười nói cứ chúm cha chúm chím. Bàn tay cô hà thon dài và ấm áp. Nó có vết chai ở ngón tay do thời gian dài cầm phấn, cầm bút. Em vẫn nhớ như in cảm giác khi cô dùng đôi tay đó nắm lấy tay em hướng dẫn viết chữ, khi cô xoa đầu em, vỗ lưng em cổ vũ tinh thần.
Tính cách của cô Hà rất gần gũi và thân thiện. Các thầy cô trong trường ai ai cũng biết cô và hay trò chuyện với cô. Cả các bác lao công, đầu bếp ở căn-tin cũng biết ngay khi chúng em giới thiệu là học sinh của cô Hà. Tính cách ấy còn giúp cô gần gũi hơn với các học sinh của mình. Với chúng em, cô vừa là cô giáo, vừa là người mẹ thứ hai, vừa là bạn bè. Chúng em có thể chia sẻ với cô những suy nghĩ và cảm xúc của bản thân để được cô tư vấn, chỉ dẫn cho. Khi vui chơi, cô hòa nhập với chúng em hết mình, nhưng trong giờ học, cô cũng rất nghiêm khắc. Nhờ thế mà lớp em luôn học tập chăm chỉ và phấn đấu vươn lên từng ngày.
Lúc nào, em cũng cảm thấy may mắn khi được là một trong bốn mươi người con của mẹ Hà trong những năm học tập dưới mái trường tiểu học. Ít tháng nữa thôi, em và các bạn sẽ rời xa cánh chim của mẹ Hà để bước tiếp con đường mới. Nhưng chắc chắn, em sẽ không bao giờ quên những bài học và kỉ niệm tuyệt vời suốt năm năm qua với mẹ Hà.




Danh sách bình luận