(35+ mẫu) Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) hay nhất - Ngữ văn 9


Mỗi khi mưa rơi, dường như cảm xúc trong mỗi người lại trở nên nhạy cảm hơn. Tiếng mưa đi kèm với những tâm trạng nhớ nhung,

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 9 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

Mỗi khi mưa rơi, dường như cảm xúc trong mỗi người lại trở nên nhạy cảm hơn. Tiếng mưa đi kèm với những tâm trạng nhớ nhung, khắc khoải và những suy tư về cuộc sống. Cũng như chúng ta, đứng trước mưa mà xao xuyến nỗi lòng, Bích Khê đã đưa cảm xúc ấy vào chính tác phẩm của mình, bài thơ Tiếng đàn mưa. 

Mở đầu bài thơ, tác giả đã gợi lên khung cảnh về một ngày mưa: 

“Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng

Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan

Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn

Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.”

Sự vật như rơi rụng cùng những giọt mưa nặng hạt. Những giọt mưa rơi xuống, rơi xuống từng hạt rồi xuống “lầu”, xuống cả “thềm lan”. Mưa bao trùm mọi thứ xung quanh. Khung cảnh của một ngày mưa được tái hiện cùng sự rụng rơi của những sự vật. Một khung cảnh tả thực, được vẽ lên bằng chính ngòi bút của tác giả. Ông gọi tiếng những giọt mưa rơi ấy là “giọng đàn mưa xuân”. Mưa xuân, mùa mưa mang đến hạnh phúc, vậy nên tiếng mưa dưới mùa xuân nghe thấy tiếng đàn. Tiếng đàn ấy mang sức thôi miên con người, nghĩ v về những gì đã qua êm ái, những gì tốt đẹp còn vương lại trong tâm trí. Mưa rơi, bao phủ lên mọi nẻo, mọi chốn: 

“Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống

Cùng nước non hoa rụng mưa xuân

Mưa rơi ngoài nội trên ngàn

Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.”

Mưa rơi xuống lầu, lại rơi xuống thềm hoa lan xinh đẹp. Mưa rơi từ những cánh đồng tới những núi non suối thác. Một khung cảnh chỉ toàn những giọt nước mưa rửa trôi những thứ cũ để mang đến những cái mới lạ. “Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi” đâu đó ta nghe thấy tiếng của nỗi lòng đầy tâm sự. Tiếng đàn có thể cất lên trong tiếng mưa chút buồn. Nó gợi lên cái tâm tư riêng khó đoán của người khách. Lúc vui lúc buồn, chỉ có thể là nhớ và tìm những hoài niệm xưa chốn cũ:

“Đầm mưa xuống nẻo đồi mưa xuống

Bóng dương tà rụng bóng tà dương

Hoa xuân rơi với bóng dương

Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.”

Lại tiếp tục là một khổ thơ nói tới những nơi mưa rơi xuống, cảnh vật cũng rơi cũng rụng theo mưa. Khắp nẻo đồi thấy mưa rơi thành đầm. Khi mà mặt trời chuẩn bị lặn, cùng với những cánh hoa xuân, khung cảnh mờ ảo, hư thực mà đầy mơ mộng. Ta thấy được sự cảm nhận, tình yêu thiên nhiên sâu sắc mới có thể tinh ý nhận ra vẻ đẹp đến từ thiên nhiên dưới những cơn mưa như vậy. “Mưa trong ý khách mưa cùng nước non”, đâu đó ta thấy được tình yêu thiên nhiên, đất nước, nơi đang tồn tại của nhân vật. Chính những cung bậc cảm xúc và tình yêu thiên nhiên như vậy, mới nghe được tiếng mưa như một tiếng đàn và cũng mới thấu được cái đẹp mà thiên nhiên đem lại. Mượn cảnh mà cũng gợi được tình, gợi cái cảm xúc và suy tư: 

“Rơi hoa kết mưa còn rả rích

Càng mưa rơi cánh tịch bóng dương

Bóng dương với khách tha hương

Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi”.

Mưa rơi khơi nguồn cảm xúc. Sự cô đơn dưới “bóng dương” đã làm tâm trạng sầu càng thêm sầu, buồn càng thêm buồn. Sự cô đơn như bao trùm, cùng nỗi nhớ về vùng đất xưa mà “muôn hàng lệ rơi”. Khổ thơ cuối như lý giải cảm xúc của cả bài thơ. Sự buồn rầu, nhớ nhung, cô đơn đã biến tiếng mưa trở thành tiếng đàn, ngân lên khúc nhạc đầy xao xuyến, khắc khoải, đầy nỗi nhớ nhung đang tuôn chảy vào từng lớp cảm xúc và tâm hồn của “người khách tha hương”. 

Bích Khê đã thành công sử dụng thể thơ song thất lục bát kết hợp với những ngôn từ giàu sức biểu cảm để nói lên tâm trạng một cách sâu sắc. Cùng với đó là những biện pháp tu từ gần gũi như liệt kê cảnh vật trong mưa, lặp đi lặp lại những cảnh vật và đặc biệt là từ “mưa” để nhấn mạnh không gian gợi nên cảm xúc. Kết hợp với giọng thơ nhẹ nhàng, đã gợi lên cảm xúc từng câu từng chữ cũng cứ nhẹ nhàng lướt trong tâm trí người đọc. Nói về nỗi nhớ, sự cô đơn mà không hề nặng nề về cảm xúc mà cứ nhẹ rơi như những giọt mưa mang âm thanh của tiếng đàn. 

Tiếng đàn mưa đã thành công khắc họa nên tâm trạng của con người tha hương trước cảnh mưa rơi. Rời xa quê hương, cảm nhận được sự cô đơn mà cuộc sống mang lại, con người lại nhớ về những khung cảnh đầy quen thuộc. Nỗi khắc khoải của một tâm hồn, mang một nỗi nhớ nhung xa vời. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, và khi người buồn, thì tiếng mưa rơi cũng trở thành một tiếng đàn buồn thương, xuyến xao và ngập tràn nỗi nhớ thương. 

Bài thơ không dài, không dùng quá nhiều từ ngữ và chi tiết những vẫn đem lại đủ cả hình ảnh và những tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình. Một bài thơ hết sức thành công trong bút pháp nghệ thuật của Bích Khê.

Bài mẫu 2

Đã từ lâu, tình bạn đã được đề cập đến trong các tác phẩm văn học. Nguyễn Khuyến là nhà văn sở hữu số lượng lớn các bài thơ mang chủ đề rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày như thế. Nếu như trong Bạn đến chơi nhà, ông dùng giọng văn hóm hỉnh, khôi hài để nói về tình bạn không màng vật chất, thì sang bài thơ Khóc Dương Khuê, giọng thơ đã thay đổi hẳn. Cả bài thơ như tiếng khóc nấc lên trong sự buồn bã của Nguyến Khuyến khi đến đám tang của người bạn Dương Khuê. Đặc biệt trong 16 câu thơ cuối:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày.

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

     Nỗi xót thương cho người bạn quá cố càng được thể hiện đậm nét.

     Nguyễn Khuyến xuất thân là nhà nho, có tài văn chương, đỗ đầu cả ba kỳ thi nên còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông thường viết về gia đình, bạn bè, quê hương và châm biếm bọn thực dân. Bài thơ Khóc Dương Khuê ban đầu được viết bằng chữ Hán, sau được Nguyễn Khuyến dịch lại bằng chữ Nôm. Dương Khuê là bạn của Nguyễn Khuyến, mặc dù kém tuổi nhưng Dương Khuê cũng đỗ chức tước cao, trở thành tri âm của Nguyễn Khuyến. Mười sáu câu thơ cuối là nỗi đau đáu, thương xót của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của bạn.

     Hai câu thơ mở đầu được nhà thơ viết bằng giọng văn khôi hài, nhưng chua xót, bộc lộ sự đau lòng của ông:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày.”

     Quả thật, Nguyễn Khuyến hơn Dương Khuê bốn tuổi, nhưng Nguyễn Khuyến vẫn gọi Dương Khuê bằng giọng thân mật “tôi - bác”. Câu thơ “đau trước bác mấy ngày” sử dụng biện pháp ẩn dụ, ý chỉ sự ra đi của Dương Khuê quá đột ngột, khiến tác giả không thôi giật mình và đau đơn.

 

bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc trầm lắng, đau thắt lòng:

Làm sao bác vội về ngay,

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.

Ai chẳng biết chán đời là phải,

Sao vội vàng mà mải lên tiên.”

     Tác giả sử dụng biện pháp nói giảm, nói tránh và biện pháp nói quá rất khéo léo,, ý nhị. Để chỉ sự ra đi của người bạn thân, ông dùng những từ “vội về ngay”, “chán đời”, “vội vàng”, “lên tiên”, với mục đích để giảm đi sự đau thương, nhưng sao câu thơ vẫn đau bội phần như vậy. Nói tránh đi sự ra đi của bạn, Nguyễn Khuyến phóng đại nỗi đau của mình “chân tay rụng rời”. Chắc hẳn, vì quá bất ngờ, ông đã không kìm được cảm xúc mà suy sụp, đau như “chân tay rụng rời”.

     Trước kia, tất cả những thú vui trên cõi đời đều có ông và Dương Khuê hưởng thụ. Nhưng nay, những niềm vui đó bỗng trở nên chán chường, vô nghĩa bởi đã mất bạn rồi:

Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua.

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa;

Giường kia treo cũng hững hờ,

Đàn kia gãy củng ngẩn ngơ tiếng đàn.”

     Rượu luôn là thức uống yêu thích của thi nhân, thế nên mới có thi tửu. Nhưng rượu chỉ ngon khi được uống cùng bạn hiền. Biện pháp điệp từ “không” ba lần liên tiếp trong một câu thơ như nhân lên ba lần sự vô vị, không ham muốn thi tửu của Nguyễn Khuyến khi không có bạn. Hôm nay không mua rượu, không phải do không có tiền, mà là do không còn tri âm.

     Bài thơ vẫn còn dang dở, chưa viết xong, bởi với ông, mất bạn rồi thì còn ai để đọc. Một lần nữa, biện pháp điệp ngữ lại xuất hiện, điệp từ “ai” và”đưa” hai lần, kết hợp với biện pháp chơi chữ “viết đưa ai” - “ai biết mà đưa”. Đây như một vòng luẩn quẩn, viết xong cũng không biết đưa cho ai, mà cũng không có ai để đưa. Mất đi Dương Khuê, Nguyễn Khuyến gần như mất đi cả một người đọc tri kỉ của mình.

     Các sự vật tạo niềm vui khác như giường, đàn cũng mất đi sự sống, trở nên “hững hờ” và “ngẩn ngơ”. Đây là hai từ láy rất đặc sắc trong đoạn thơ, đồng thời là hai từ ngữ nhân hóa, khiến các sự vật tưởng như vô cảm ấy cũng đang hòa dần với nỗi đau mất mát bạn của nhà thơ. Sau cùng, thú vui để thưởng ngoạn với bạn, mất bạn rồi, thú vui cùng dần trở thành nỗi buồn sâu lắng.

     Đau đớn là vậy, xót thương là vậy, nhưng Nguyễn Khuyến cũng đành chấp nhận sự thật rằng bạn đã đi xa:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,

Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương.

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

     Nguyễn Khuyến trách móc, hờn dỗi bạn khi “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở”. Đây là một điều vô lý nhưng hết sức hợp lý. Vô lý bởi Dương Khuê mất do tuổi già, nên cho dù nhà thơ có trách móc, van nài thì Dương Khuê cũng đâu thể nghe thấy được. Nhưng hợp lý là bởi, Nguyễn Khuyến quá nhớ thương Dương Khuê, mong muốn bạn ở lại với mình, nên mới buông lời mà trách nhẹ nhàng thế.

     Mãi đến tận cuối bài thơ, ta mới thấy xuất hiện giọt nước mắt của nhà thơ. Nhưng sao giọt nước mắt ấy lại “như sương”, mà còn phải ‘ép” mới ra? Đọc đến đây, ta chợt nhớ lại giọt nước mắt cũng phải “ép” mới ra của Lão Hạc trong tác phẩm của Nam Cao. Một phần cũng là do tuổi cao nên khó chảy nước mắt. Nhưng phần nhiều, do lão quá đau khổ vì mất cậu Vàng, nên không thể khóc thành dòng được nữa. Cũng như vậy, Nguyễn Khuyến cũng nói một phần do “tuổi già”, nhưng thật ra, sâu trong thâm tâm, ông đau lòng đến độ thật khó để có “hai hàng chứa chan”. Nước mắt chảy ngược vào trong, như thể ông đang “nuốt” cái thương bạn vào trong bụng.

     Bằng những câu thơ sử dụng ngôn ngữ bình dân mộc mạc, gần gũi, từng câu thơ chất chứa cảm xúc mãnh liệt, sử dụng tài tình biện pháp nhân hóa, phép điệp ngữ, biện pháp so sánh, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ lòng thương bạn, đau đớn muôn phần khi mất bạn, nhưng đồng thời cũng thể hiện thái độ chấp nhận sự thật. Đọc bài thơ, ta càng thêm trân trọng hơn những tình bạn đẹp đẽ, trong sáng giữa đời thường.

Bài mẫu 3

Trong nền thơ hơn một nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Khuyến có một vị trí thật vẻ vang. Ông là nhà thơ của những bài thơ Việt Nam đích thực, những bài thơ mà ở đó, những tình cảm đẹp đẽ của con người Việt Nam được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ Việt Nam thuần khiết, giản dị và đẹp đẽ. Trong những bài thơ ấy, cần phải nói (tên một bài thơ không mấy ai không biết: bài Khóc Dương Khuê).

 Xét cho cùng, tình bạn giữa hai người Nguyễn Khuyến và Dương Khuê vốn không phải là một tình bạn thật hoàn toàn như ý. Tuy đỗ cử nhân cùng khoa thi với Nguyễn Khuyến, rồi đỗ tiến sĩ, cùng làm quan cho triều Nguyễn, nhưng sau năm 1884, năm đất nước thật sự mất vào tay thực dân Pháp, Dương Khuê lại không có được cái chí như Nguyễn Khuyến. Không cáo quan về làng, Dương Khuê tiếp tục làm quan cho triều đình tay sai thực dân cho đến tận lúc qua đời ở tuổi 64 (1902).

Tuy vậy, nói thế là để nhìn rõ hết mọi chuyện. Người Việt Nam ta vẫn có câu: nghĩa tử là nghĩa tận. Cái chết đột ngột của Dương Khuê đã thật sự li: một nỗi đau cho Nguyễn Khuyến. Lúc ấy, quên hết mọi điều, ông chỉ còn biết một điều duy nhất: ông đã mất một người bạn thân, mất một nguồn tình cảm quý giá không thế lấy gì thay thế được. Lúc ấy, tự đáy lòng, từ nột tình bạn mà hình như chính ông cũng không thể đo lường hết chiều sâu, Nguyễn Khuyến đã chợt kêu lên những tiếng kêu thảng thốt:

Bác Dương thôi đã, thôi rồi,

Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta.

Hầu như không có một chút văn chương chữ nghĩa nào trong hai dòng thơ trên, đặc biệt là dòng thơ thứ nhất. Chỉ có nỗi đau, nỗi đau chân thành, trọn vẹn, tự mình thể hiện ra thành lời. Hai tiếng “thôi” dân dã và tự nhiên, cứ như bật lên từ lời nói của một người dân quê bình dị nào đó.

Đặt câu thơ này vào trong hoàn cảnh xã hội mà sự “cao nhã“ luôn luôn được coi là một yêu cầu hàng đầu của văn chương, ta càng thấy ở đây sự chân được nhà thơ coi trọng đến chừng nào. Nói đến cái chết, ông không dám động đến từ “chết”. Trời đất cao dày ơi lẽ nào chuyện ấy đã đến thật rồi sao? “Thôi đã... thôi rồi”! Thế là hết! Thật thế rồi! Một kẻ quyền quý ngày xưa khi lỡ tay làm rơi mất viên ngọc lưu li độc nhất vô nhị trong thiên hạ, có lẽ cũng chỉ kêu lên đau đớn đến như thế là cùng. Không đau nỗi đau thật, làm sao có thể khóc một tiếng khóc thật như thế được.

Có điều là, với nỗi đau, Nguyễn Khuyến không thét lên, tiếng khóc của người là khóc với mình, khóc cho tự mình nghe, tiếng khóc lắng vào lòng. Tâm hồn vốn giản dị, ông chúa ghét sự ồn ào. Lúc này ông muốn ngồi một mình, đối diện với bạn, cùng nhắc lại tình bạn, cùng bạn ôn lại những gì đã từng có giữa hai người. Đã có bao nhiêu là kỉ niệm. Từ những ngày tưởng đã rất xa xôi:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Những sớm hôm tôi bác cùng nhau,

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời

Đó là kỉ niệm khi hai người vừa mới lần đầu gặp nhau trong khoa thi Hương và cùng thi đỗ. Nguyễn Khuyến quê ở Bình Lục, Hà Nam, Dương Khuê quê ở Vân Đình, Hà Đông, hai người vốn chẳng quen biết gì nhau. Thế mà, cứ như duyên trời định sẵn, tình bạn đã bắt đầu gắn bó từ đây.

Chữ nghĩa của Nguyễn Khuyến sao mà bình dị đến thế, nôm na, thân mật đến thế! Nào là “lúc sớm hôm”, rồi là "tôi bác", với những “cùng nhau”... Nhà thơ cũng xác định cái nhìn đầu tiên của mình về người bạn: đó là lòng kính yêu trọn vẹn, “kính yêu từ trước đến sau". Cùng với giọng kể lể chân thành như thế, nhà thơ nhắc lại với bạn về những kỉ niệm khác:

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo,

Có khi từng gác cheo leo,

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.

Kỉ niệm giữa đôi bạn như thế quả là rất nhiều, rất đậm. Họ đã từng cùng trải qua những giờ phút thú vị, chứng tỏ họ là những người bạn ý hợp tâm đầu, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui thanh cao của kẻ tao nhân mặc khách. Nhắc lại những kỉ niệm đó, tâm hồn nhà thư như còn rung cảm vì tiếng suối “róc rách lưng đèo” nơi “dặm khách” xa xôi.

Nhà thơ như cùng đang sống lại với những cảm giác thích thú “nơi từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn, tiếng hát của các đào nương. Có người sẽ hỏi: nhà thơ Nguyễn Khuyến mà cũng đi hát ả đào sao? Thi có gì đâu mà nhà thơ không đi hát ả đào! Hát ả đào là một thú vui trong xã hội phong kiến. Có lúc thú vui này bị người ta lợi dụng (thì trên đời thiếu gì điều tốt đẹp bị người ta lợi dụng).

 Tuy vậy, đối với đa số nhà Nho, đó lại là nơi để thưởng thức cái đẹp của lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, cũng là nơi di dưỡng tâm hồn sau những tháng ngày gò mình trong khuôn khổ của chốn công danh, vốn được sáng tác để cho các đào nương hát lên đó sao?

Nguyễn Khuyến không có những bài thơ như vậy, nhưng rõ ràng là ông đã không thể quên “thứ vui con hát”, bởi đó là thú vui được “lựa chiều cầm xoang”, trải lòng mình theo tiếng đàn, tiếng hát. Là đôi bạn đến với nhau, thân nhau vì lòng mến mộ lẫn nhau, tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê thật là chỗ tri âm tri kỉ, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”:

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp,

Chén quỳnh tương ăm áp bầu xuân,

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần trước sau.

Nói về việc cùng bạn uống rượu mà nhà thơ dùng từ "nháp”, lại “cùng nháp” thì thật chính xác và tinh tế, bởi đây là việc uống rượu của người “uống cho vui”, chứ không phải kiểu uống của các bợm rượu. Nhà thơ có lần đã tự nói về khả năng uống rượu của mình:

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ năm ba chén đã say nhè.

(Thu ẩm)

Chén các cụ dùng uống rượu ngày xưa là loại chén rất nhỏ, thường được gọi là “chén hạt mít”. Nói “nhấp” tức là uống từng hớp nhỏ, như chỉ vừa chạm môi vào, vừa uống vừa ngẫm nghĩ, vừa uống vừa thưởng thức cái vị đậm, cái mùi thơm của rượu. Rượu uống chỉ như thế nhưng lại “ăm áp bầu xuân”.

Bầu xuân này là bầu rượu và cũng là “bầu thơ“, bầu rượu đầy cho bầu thơ càng thêm lai láng. Hai tiếng “ăm ắp” mà nhà thơ dành cho bầu xuân” thật gợi cảm và sảng khoái. ‘‘Người thanh cái tiếng cũng thanh”, đến cách chơi cũng cho ta biết được bản chất con người, không phải bất kì ai cũng có được cái “rượu ngon cùng nhấp” ấy, nhất là cái căm nhận “ăm áp bầu xuân” ấy.

Thật là những ngày vui. Nhưng cũng có những ngày buồn, rất buồn. Đó là những ngày nước mất. Là nhà Nho, cùng phụng sự cho một triều đại, đôi bạn cùng chung chia sẻ nỗi đau của thời đại mình:

Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn

Phận đấu thăng chẳng dám than trời

Bác già, tôi cũng già rồi

Biết thôi thôi thế thì thôi mới là!

Những câu thơ của Nguyễn Khuyến đọc lên nghe thật buồn bã, ngao ngán. Nói “buổi dương cửu” để chỉ thời kì loạn lạc khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhà thơ coi đó như là một vận hạn mà đất nước và con người phải trải qua. Không làm gì được trước vận hạn ấy, nhà thơ chỉ còn một cách lựa chọn là rời bỏ công danh, chẳng còn dám tham cái lộc trời “thăng đấu” của kẻ làm quan. Nhà thơ nói như một kẻ an phận mà nghe ra thật đau đớn.

Ông cảm thấy mình bất lực, cảm thấy mình đã già. Đặc biệt câu thơ cuối đoạn, có đến ba từ "thôi” trùng diệp, khác nghĩa nhau mà như cùng một nghĩa, bổ sung cho nhau, tạo ra ấn tượng về một tâm trạng cam chịu thật nặng nề: Biết thôi- thôi - thế thì thôi. Đúng là tâm trạng của nhà thơ khi cáo quan về làng và cho đến cả những năm sau này: đau buồn trước cảnh nước mất nhưng không có thể làm gì cho đất nước ngoài việc từ quan để khỏi làm việc cho kẻ thù.

Qua 16 dòng thơ, Nguyễn Khuyến đã nhắc lại một cách cô đọng và đầy đủ về mối quan hệ bạn bè giữa đôi bạn Nguyễn Khuyến - Dương Khuê, đặc biệt là độ sâu, độ bền của tình bạn đó. Những kỉ niệm đã được nhà thơ nói tới mọt cách giản dị nhưng đầy trân trọng. Nhắc lại những kỉ niệm ấy, ôn lại và ngẫm nghĩ về tình bạn ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi đau mà mình phải chịu hôm nay thật là một điều vô lí. Ông chưa bao giờ hình dung ra sự mất mát có thể xảy đến vào lúc này. Nhà thơ nhớ lại:

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác

Trước ba năm gặp bác một lần

Cầm tay hỏi hết xa gần

Mừng rằng bác hãy tinh thần chưa can.

Xét về mặt văn chương, bốn dòng thơ trên không phải là những câu thơ thật mới lạ sắc sảo, bởi những câu thơ ấy sao mà nôm na bình thường, nào la “tuổi già thêm nhác”, rồi lại “hỏi hết xa gần”, với lại “tinh thần chưa can”, cứ như lời lẽ cua một ông lão quê mùa nào đó ở vùng đất Hà Nam. Thì đúng vậy, Nguyễn Khuyến có làm văn chương đâu, ông chỉ bộc lộ nỗi niềm của mình! Nhà thơ còn tự mình lí sự với mình:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác

Tôi lại đau trước bác mấy ngày

Làm sao bác vội về ngay

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời!

Chỉ khi người ta đau đớn thật lòng, người ta mới có kiểu lí sự như vậy. Như thế có khác gì nói rằng: Tại sao bác lại chết trước tôi nhỉ? Người chết trước lẽ ra phải là tôi chứ? Chính từ những lí sự này, mấy tiếng cuối cùng của đoạn thơ nổi lên thật chân thành và ai oán: Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời! Trước nỗi đau dã là sự thật, nhà thơ đành chấp nhận nồi đau và càng thấy điều này là thật vô lí:

Ai chẳng biết chán đời là phải

Vội vàng chi đã mải lên tiên

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua.

Cái chết là một quy luật không ai có thể phủ nhận được. Tuy vậy, trong trường hợp này, Nguyễn Khuyến vẫn tìm thấy sự vô lí: Cái chết của người bạn đã đến một cách vội vã quá, nó cướp mất của ông một người bạn hiền và như thế, cũng cướp mất của ông tất cả mọi niềm vui. Câu thơ của ông nói về trường hợp riêng của mình, nghe thật giản dị mà vang lên nhơ một chân lí về tình bạn đích thực ở đời:

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Trong hai dòng thơ, từ “không” xuất hiện đến năm lần như những cái lắc đầu buồn bã. Không còn bạn, không còn thiết uống rượu, bởi không còn người để chia sẻ vị ngon của rượu. Không còn bạn, không còn hứng thú làm thơ, bởi vì sao?

Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa?

Lắc đầu bằng những tiếng “không”, đến đây nhà thơ tiếp tục lắc đầu bằng những câu hỏi. Hỏi cũng là để nói “không”. Thơ viết ra mà không có người thưởng thức được, cảm thông được, thì còn viết làm gì? Âm “iết” láy đi láy lại trong hai dòng thơ, rồi hai tiếng “ai”, hai tiếng “đưa” trung điệp (đưa ai - ai biết - mà đưa” cứ mở ra, khép lại, rồi lại mở ra, như một nỗi day dứt khôn nguôi.

Nhà thơ nghĩ đến những mối tình bạn mà sách vở xưa kia đã từng ca ngợi, coi nhơ tuyệt đỉnh của tình bạn: Trần Phồn đời Hậu Hán sau khi bạn ra về thì treo giường lên, không để cho ai ngồi vào cái giường chỉ dành riêng để tiếp bạn; Bá Nha sau khi Chung Tử Kì chết thì quyết bỏ không chơi đàn bởi thấy không còn ai hiểu được tiếng đàn. Ông thay mối tình giữa ông với Dương Khuê chính là một tình bạn như thế; sự mất mát của ông sau cái chết của Dương Khuê đúng là sự mất mát như thế:

Giường kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn

Có thể lấy gì để bù đắp vào sự mất mát này không? Nhà thơ đã khẳng định rằng không. Chỉ còn một cách, như người ta vẫn thường làm, là tìm cho mình một cách an ủi. Rằng người chết không còn có thể sống lại được, rằng nước mắt xót thương cũng sẽ chẳng giúp được gì... Nguyễn Khuyến muốn dùng cái lẽ thường ấy của đời sống để tự an ủi mình:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở

Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương

Nhà thơ còn tự khuyên bảo mình:

Tuổi già hạt lệ như sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Nhà thơ khuyên mình không nên khóc, bởi tuổi già còn ít nước mắt lắm, chỉ như những hạt sương mong manh thôi, làm sao có thể ép cho nước mắt tuôn chảy thành hai hàng chứa chan được. Nhưng nói như thế là nói lí. Tự nhà thơ vẫn hiểu rằng không thể “lấy nhớ làm thương” được, và càng hiểu ràng hai hàng nước mắt chứa chan của ông lúc này đâu phải do ông “ép lấy”. Mỗi chữ trong thơ ông đều đẫm đầy nước mắt, những hạt lệ từ một nỗi đau lớn, từ một tình bạn lớn.

Có thể khẳng định rằng trong thơ Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay thể hiện tình cảm đẹp đẽ chân thành, nhưng cả cho đến nay, chưa có bài thơ nào nói về tình bạn có thể sánh bằng bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Cái hay ấy trước hết xuất phát từ một tình bạn đẹp và chân thành của một tâm hồn cao thượng. Cái hay ấy còn là cái hay của một nghệ thuật diễn đạt, một ngôn ngữ diễn đạt giản dị, tự nhiên, đầy tính dân tộc, hoàn toàn phù hợp với nội dung tình cảm mà bài thơ cần diễn đạt.

Bài mẫu 4

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, đề tài về người phụ nữ luôn là đề tài được rất nhiều những cây bút lớn lựa chọn, gửi gắm. Những tác phẩm ấy không chỉ là lời phản ánh với xã hội phong kiến đầy rẫy bất công hay tôn vinh những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ mà còn là nỗi niềm khát khao được hạnh phúc của họ. Có rất nhiều những tác phẩm văn thơ nói về số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến nhưng nếu không nhắc đến tác phẩm "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn với đoạn trích "Nỗi niềm chinh phụ" do Đoàn Thị Điểm dịch lại thì quả là một thiếu xót to lớn.

             Trước hết, về tác giả Đặng Trần Côn, ông là người làng Nhân Mục, nay thuộc Hà Nội; ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ 18. Ông là người đỗ đạt, đã làm quan đến chức Ngự sử đài chiếu khám. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà rất nhiều những tác phẩm có giá trị, trong đó phải kể đến tác phẩm "Chinh phụ ngâm" và đoạn trích "Nỗi niềm chinh phụ" là một phần trong đó. Đoạn trích gồm 21 câu thơ, từ câu 41 đến 64 của tác phẩm. Đoạn trích là nỗi sầu thương, cô đơn, nhớ nhung của người phụ nữ trong cảnh chờ chồng ra trận.

             Bốn câu thơ đầu của đoạn trích là cảnh chia tay và nỗi đau đớn của người phụ nữ khi tiễn chồng ra trận:

"Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống

Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay

Hà lương chia rẽ từng ngày

Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi."

Đoạn thơ mở ra bằng âm thanh của chiến trận với "tiếng nhạc ngựa" xen với "tiếng trống". Âm thanh ấy mở ra khung cảnh gấp gáp, khẩn trương của chiến tranh. Không khí ấy còn khẩn trương tới nỗi át đi tiếng lòng của người vợ rằng dù mới chỉ giáp mặt đã phải chia ly. Tưởng chừng như đã có hạnh phúc nhưng hạnh phúc ấy lại ngắn ngủi đến nỗi không kịp nói lời từ biệt. Hình ảnh "hà lương chia rẽ từng ngày" tượng trưng cho sự tan vỡ của hạnh phúc chỉ còn được tính theo ngày. Đến ngày tiễn chồng, người vợ chỉ có thể ngậm ngùi gửi gắm niềm thương nỗi nhớ vào trong lá cờ. 

            Khổ thơ trước đã miêu tả về cảnh chia tay thì ở bốn câu thơ tiếp theo là cảnh người vợ tiễn chồng ra trận:

"Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu

Kị sau còn khuất nẻo Tràng Dương

Quân đưa chàng ruổi lên đường

Liễu dương biết thiếp đoạn đường này chăng"

Hai địa danh "doanh Liễu", "Tràng Dương" cho thấy người chồng đang ngày một xa dần trước mắt vợ. Và hình ảnh tương phản "quân trước" >< "kị sau" diễn tả sự gấp gáp của đoàn quân trên đường ra trận. Điều này cũng nhấn mạnh nỗi trống vắng của người vợ đang tăng dần bởi đoàn quân đã đưa chồng của nàng lên đường ra chiến trận. Thế rồi, chỉ còn lại nàng trên đoạn trường này. Nỗi đau đớn, trống vắng của người vợ dường như cũng được cả gió liễu cảm thông. 

             Và những câu tiếp theo là nỗi nhớ nhung vô bờ của người ở với người đi (người chinh phụ với người chinh phu):

"Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng

Hàng cờ bay trong bóng phất phơ

Dấu chàng theo lớp mây đưa, 

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xa mưa gió

Thiếp thì về buồng cũ gối chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại

Bến Tiêu Dương thiếp hãy trông sang

Khói Tiêu Dương cách Hàm Dương

Cây Hàm Dương cách Tiêu Dương mấy trùng."

Trong lòng người vợ vẫn còn dư âm của đoàn quân với tiếng địch cùng hàng cờ bay phất phơ. Dù cảm thấy chồng ở gần nhưng thực tế chàng đã ở rất xa, dấu chân chàng dần biến mất theo sau lớp mây mù. Hình ảnh là sự tượng trưng cho khoảng cách đang ngày càng xa của đôi vợ chồng. Khoảng cách ấy quá dài, đã không thể vượt qua khiến người chinh phụ chỉ còn biết ngẩn ngơ ngồi nhìn rặng núi và lo cho chồng, cho nước nhà. Bằng nghệ thuật đối lập − song hành giữa người đi và kẻ ở, thể hiện qua những hình ảnh như: "chàng đi" >< "thiếp về"; "cõi xa mưa gió" >< "buông cũ gối chăn". Qua đó cho thấy nỗi đau không chỉ về không gian mà còn cả tâm hồn. Và cả thiên nhiên cũng đau buồn theo nỗi buồn của người chinh phụ. Như đã nói bên trên, hai hình ảnh Hàm Dương và Tiêu Dương là biểu tượng cho khoảng cách xa vời vợi. Người chinh phụ nhớ người chinh phu và người chinh phu cũng vậy bởi "chàng" thì "ngoảnh lại" còn "thiếp" thì "trông sang". Hai hành động ấy là sự tương xứng cho thấy nỗi nhớ của cả hai dành cho đối phương vô cùng to lớn nhưng lại chẳng thể gặp được nhau, chỉ còn lại nỗi nhớ giao thoa với nhau. Nỗi nhớ thương ấy kéo dài, vô vọng, mờ ảo và vô cùng xa xôi, được thể hiện qua hình ảnh "khói Tiêu Dương" cách "cây Hàm Dương" mấy trùng. 

            Bài thơ với thể thơ song thất lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển cùng những hình ảnh giàu tính biểu cảm và ngôn ngữ trang nhã kết hợp với biện pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa đã cho người đọc thấy được bức tranh tâm trạng của người vợ trẻ có chồng phải ra đi vì chiến tranh. Qua từng lời thơ, ta cảm nhận được khát vọng được đoàn tụ, được hạnh phúc của những người phụ nữ trẻ trong xã hội phong kiến xưa nhưng đổi lại chỉ là sự trống vắng, hiu quạnh.

Bài mẫu 5

“Đất nước” là bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Đình Thi. Bài thơ được sáng tác và hoàn thành trong thời gian khá dài (1948 – 1955) theo hành trình và phát triển đi lên của đất nước và dân tộc. “Đất nước” in trong tập thơ “Người chiến sĩ” của tác giả.

Bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi thể hiện những cảm nhận về đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam hiền hòa, đẹp tươi, trong đau thương đã quật khởi đứng lên anh dũng chiến đấu và chiến thắng với sức mạnh phi thường. Hai câu thơ đầu nói về vẻ đẹp của đất nước khi mùa thu về:

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới.

Nguyễn Đình Thi chỉ gợi sắc thu, khí thu (mát trong), về gió thu về hương thu (hương cốm mới). Một cách viết hàm súc mở ra bao liên tưởng về bầu trời thu trong xanh, bao la và khí thu mát mẻ mơn man hồn người, về gió thu nhè nhẹ thổi từ những cánh đồng lúa mang theo hương cốm mới phả vào lòng người lâng lâng. Đó là vẻ hiền hòa, tươi đẹp của đất nước đã bao đời nay. Đoạn thơ tiếp theo là hoài niệm của “người ra đi” về “những ngày thu đã xa” – thu Hà Nội:

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

“Chớm lạnh” là cái lành lạnh đầu thu; chỉ có sáng và chiều thu trong buổi thi sơ mới “chớm lạnh” như thế. Hà nội như mở rộng lòng đón nhận cái “chớm lạnh” đầu thu. Hơi may tỏa khắp mọi nơi. Lá thu, lá vàng rụng bay bay, xoay xoay theo chiều gió, để lại tiếng thu xao xác trên những phố dài.

Cảnh giã biệt phố cũ của “người ra đi” buồn lẳng lặng. Khách chinh phu của thời đại “ôm chí nhớn” ra đi, cố nén lại bao tâm tư trĩu lòng. “Đầu không ngoảnh lại” là một tâm thế của li khách. “Người ra đi” xa dần, xa dần năm cửa ô, chốn cũ yêu thương, tuy “đầu không ngoảnh lại” nhưng vẫn cảm thấy có bao nhiêu nắng thu, lá thu “rơi đầy” trên hè phố, thềm đường ở phía sau lưng mình. Nhà thơ tả ít mà gợi nhiều.

Tâm trạng của người ra đi buổi sáng sớm đầu thu ngày xưa ấy như vương vấn mang theo một mảnh trời thu Hà Nội với nắng vàng và lá thu rơi. Có nhiều người đã đưa ra các cách ngắt nhịp cảm thụ vẻ đẹp câu thơ cuối đoạn: ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3; lại có người cho rằng nên ngắt nhịp 2/5 để làm rõ chủ thể trữ tình với không gian nghệ thuật: Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

Qua đoạn thơ, ta thấy ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi thật là tài hoa. Lời thơ trong sáng, dịu buồn. Vẻ đẹp và hồn thu đất nước, hồn thu Hà Nội như được tinh lọc trong tâm hồn tác giả, trở thành hành trang của “người ra đi”. Cuộc đời đã đổi thay, đất nước đã đổi thay nên vẻ đẹp mùa thu đất nước cũng đổi thay kì lạ. Câu thơ bảy tiếng bỗng co ngắn lại, giọng thơ như một tiếng reo cất lên náo nức:

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.

Không gian nghệ thuật được nói đến là núi đồi chiến khu, là “rừng tre phấp phới” trong gió thu. Cả một trời thu bao la, xao động, tươi sáng lên, ánh lên tươi thắm như “thay áo mới”. Đất nước buổi thu vẻ đẹp tươi lạ thường và dào dạt sức sống. Có sắc thu “trong biếc”, có tiếng thu là âm thanh “nói cười thiết tha” xôn xao. Hình ảnh “tôi đứng vui nghe” biểu lộ một tâm thế một tư thế, một cảm xúc nhiều thơ mộng, nhiều tự hào trước vẻ đẹp và niềm vui khi đất nước vào thu. Đó là mùa thu chiến khu Việt Bắc, mùa thu kháng chiến thời chống Pháp.

Những câu thơ bảy tiếng, năm tiếng đan xen vào nhau hòa quyện vào nhau tạo nên giọng thơ mạnh mẽ, hào hùng. Hình ảnh đất nước hiện lên tráng lệ hùng vĩ với “trời xanh”, với “núi rừng”, với những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông… Các tính từ: “xanh, thơm mát, bát ngát, đỏ nặng” là những nét vẽ, những gam màu tô đậm cái hồn đất nước, không chỉ là một giang sơn gấm vóc mà còn biểu lộ biết bao yêu mến tự hào về sự bền vững của đất nước bốn nghìn năm.

Các điệp ngữ “đây là của chúng ta”, “những” (cánh đồng, ngả đường, dòng sông) như những nốt nhấn, lúc bổng, lúc trầm của bài ca Tổ quốc, thể hiện ý chí tự lập tự cường và tinh thần làm chủ đất nước của quân và dân ta. Ngọn gió thời đại, ngọn gió của cách mạng và kháng chiến đã làm cho những vần thơ viết về mùa thu, về đất nước của Nguyễn Đình Thi cất cánh bay lên. Đây là đoạn thơ đẹp nhất trong bài thơ “Đất nước”, trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua:

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa.

Khổ thơ tiếp theo, tác giả nói lên những suy ngẫm về đất nước và dân tộc. Lời thơ vang lên như một tuyên ngôn về Tổ quốc và dáng đứng Việt Nam trong trường kì lịch sử:

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng tiếng về.

Câu thơ thất ngôn bỗng rút ngắn lại còn ba tiếng; vần trắc (khuất – đất) như dồn nén lại, thắt lại, làm cho âm điệu thơ trầm hùng thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh về truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc. Tiếng nói của tổ tiên ông bà, tiếng gươm khua trên sông Bạch Đằng, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, … vẫn “đêm đêm rì rầm trong tiếng đất”, vẫn “vọng nói về”, nhắn nhủ con cháu ngẩng cao đầu đi tới để bảo vệ và xây dựng đất nước hùng cường bền vững đến muôn đời.

Phần thứ hai bài thơ nói về đất nước trong máu lửa. Một chữ “ôi” cảm thán cất lên đau đớn nghẹn ngào:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.

Các từ ngữ “chảy máu”, “đâm nát” gợi tả cảnh đau thương của đất nước đang bị quân thù chiếm đóng, dân ta đang bị quân giặc tàn sát dã man. Luống cày, cánh đồng “chảy máu” . đồn giặc dựng lên khắp nơi . bầu trời quê hương đang bị “đâm nát ” bởi trùng trùng dây thép gai đồn giặc. Người chiến sĩ hành quân ra trận với sức mạnh của lòng căm thù giặc và tình yêu quê hương. Các từ láy “nung nấu” , “bồn chồn” diễn tả thật hay quyết tâm và tình cảm mãnh liệt, sâu sắc ấy.

Trong chiến đấu gian lao và đau thương càng thấy vẻ đẹp quê hương “ngời lên”. Lòng căm thù giặc càng thêm “sục sôi”. Các từ ” bay, thẳng, đứa” thể hiện lòng căm thù, sự khinh bỉ của nhân dân ta đối với quân xâm lược.

Thằng giặc tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ đứa lột da.

Độc lập tự do là lí tưởng chiến đấu, là niềm tin “đi tới và làm nên thắng trận”. Tác giả phủ định: quân thù “không khóa được”, “không bắn được”, để từ đó khẳng định sức sống bền vững của đất nước ta, tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Câu thơ như một chân lí lịch sử được cô đúc mà thành:

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Lòng dân ta yêu nước thương người.

Cuộc kháng chiến chống pháp( 1946 – 1954) là một cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh do đảng và bác hồ lãnh đạo, mang tính chất toàn dân, toàn diện, trường kì, nhất định thắng lợi. Cả đất nước, cả dân tộc quật khởi đứng lên. Cảnh tượng thật hào hùng đang diễn ra khắp mọi miền đất nước, từ rừng núi chiến khu đến khắp các cánh đồng làng quê:

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quanh văng vẳng cánh đồng.

Anh bộ đội Cụ Hồ là người nông dân mặc áo lính. Người anh hùng thời đại là “những người áo vải”, là la văn Cầu, Củ Chính Lan, Nguyễn Quốc Trí, Nguyễn Thị Chiến, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diệu… là hàng ngàn hàng vạn thanh niên yêu tú của dân tộc.

Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng.

Con đường ra trận kéo dài hơn ba ngàn ngày khói lửa. Có biết bao máu đổ sương rơi. Trong “nắng đốt” và “mưa giội”, trong chiến đấu và hi sinh, niềm tin vào một ngày mai chiến thắng, về đất nước độc lập, hòa bình tỏa sáng tâm hồn quân và dân ta như ngọn lửa ” cháy rực” như ánh bình minh “bát ngát”:

Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh.

Đất nước chiến thắng

Được viết theo thể thơ lục ngôn:

Người lên như nước vỡ bờ

Nước việt nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Tác giả đã vận dụng thành ngữ, tục ngữ “tức nước vỡ bờ” để ca ngợi tư thế và sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta . tác giả cho biết “Rũ buồn đứng dậy sáng lóa” là hình ảnh của người chiến sĩ Điện Biên từ các chiến hào dũng mãnh xông lên trong những ngày tổng công kích đầu tháng 5-1954.

“Đất nước” là hồn thơ chiến sĩ, tiêu biểu cho bốn hồn thơ Nguyễn Đình Thi. Viết về chủ đề quê hương , đất nước trong chiến tranh, thơ Nguyễn Đình Thi mang tính khái quát, chất trữ tình đằm thắm kết hợp hài hòa với chất chính luận sâu sắc để lại một số câu thơ, đoạn thơ đẹp, đầy ấn tượng. Ngôn ngữ thơ tinh luyện, sắc nét, chan chứa nồng độ xúc cảm. Câu thơ biến hóa : thất ngôn, lục ngôn, có lúc đan xen vào câu thơ ba tiếng , năm tiếng đã làm cho giọng thơ biến hóa: lúc man mác, bồn chồn, lúc dồn dập mạnh mẽ.

Hình tượng đất nước vừa mang vẻ đẹp hiền hòa trong sắc thu, hương thu, mang cái bát ngát của quân và dân ta trong những năm dài kháng chiến. “Đất nước” là bài thơ kiệt tác, mà người đọc lúc nào cũng cảm thấy mới mẻ, niềm tự hào dân tộc cứ lâng lâng mãi tâm hồn mỗi chúng ta.

Bài mẫu 6

Nguyễn Trãi là nhà quân sự, nhà văn hóa lớn, nhà thơ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Ông đã đóng góp cho kho tàng văn học trung đại Việt Nam nói riêng và kho tàng văn học Việt Nam nói chung nhiều tác phẩm văn học độc đáo, có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc mọi thế hệ và “Bình Ngô đại cáo” là một trong số những tác phẩm như thế.

“Bình Ngô đại cáo” ra đời sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân minh xâm lược. Tác phẩm không chỉ là một văn kiện lịch sử tuyên bố nền độc lập của dân tộc mà nó còn là áng văn yêu nước, áng văn chính luận xuất sắc của nền văn học nước ta.

Được viết theo thể cáo – một thể loại văn học cổ có nguồn gốc từ Trung Hoa, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi cũng có một bố cục rất chặt chẽ. Mở đầu bài cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã khéo léo nêu lên luận đề chính nghĩa, làm cơ sở, nền tảng cho chân lí độc lập dân tộc.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như chúng ta đã biết, “nhân nghĩa” là một trong số những phạm trù tư tưởng quen thuộc và gần gũi của Nho giáo, nó được dùng để nhắc tới mối quan hệ, cách ứng xử tốt đẹp giữa con người với con người trên cơ sở tình thương và đạo đức. Với Nguyễn Trãi, “việc nhân nghĩa” phải gắn liền với việc “yên dân” bởi ông luôn “lấy dân làm gốc”, làm nền tảng cho mọi hành động, việc làm của mình.

Đặc biệt, trong bối cảnh quân Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Trãi khẳng định, muốn “yên dân” thì trước hơn hết phải lo “trừ bạo” nghĩa là phải đánh đuổi quân xâm lược, những kẻ đang đàn áp nhân dân và đẩy nhân dân vào cuộc sống lầm than, cơ cực.

Như vậy, với hai câu thơ mở đầu bài cáo, Nguyễn Trãi đã nêu lên tiền đề tư tưởng cho toàn bộ tác phẩm, đó chính là tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng ấy luôn lấy dân làm gốc, xét đến cùng đây là một tư tưởng tiến bộ và mới mẻ của ông. Thêm vào đó, trong phần mở đầu bài cáo, Nguyễn Trãi cũng đã nêu lên chân lí khách quan để khẳng định nền độc lập của dân tộc ta từ bao đời nay.

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Dường như, đoạn văn đã gợi lại trong chúng ta những truyền thống đáng tự hào của dân tộc ta từ ngàn đời nay. Đại Việt là một dân tộc có truyền thống văn hiến, phong tục từ lâu đời, có bờ cõi, lãnh thổ riêng. Đồng thời, với lối so sánh các triều đại phong kiến của nước Đại Việt với các triều đại phong kiến phương Bắc, tác giả Nguyễn Trãi đã đặt nước ta ngang hàng với Trung Quốc, điều đó không chỉ khẳng định nền độc lập của dân tộc mà nó còn thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc với truyền thống văn hiến từ ngàn năm. Đồng thời, để khẳng định chân lí độc lập dân tộc, Nguyễn Trãi đã liệt kê, kể lại những chiến thắng hào hùng, tất thắng của quân ta trong các cuộc chiến đấu ở trước đó.

Lưu Công tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Trên cơ sở tiền đề chính nghĩa và chân lí độc lập ở đoạn một, đoạn hai của bài cao đi sâu chỉ rõ những tội ác man rợn của giặc Minh. Trước hết, tác giả đã vạch rõ âm mưu xâm lược của giặc Minh.

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa

Bọn gian tà bán nước cầu vinh

Lợi dụng tình hình rối ren trong nước của nhà Hồ, giặc Minh với luận điệu xảo trá “phù Trần diệt Hồ” để lừa bịp nhân dân, chúng đã tiến vào xâm lược nước ta. Để rồi, sau đó, chúng đã thi hành hàng loạt chính sách dã man và dưới ngòi bút của mình, Nguyễn Trãi đã lật mặt, vạch rõ hàng loạt tội ác không thể tha thứ của giặc Minh. Chúng đã tàn sát những người dân vô tội một cách tàn độc và dã man.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Bọn giặc Minh thật tàn ác biết bao, ngay đến cả “dân đen”, “con đỏ” chúng cũng không chịu tha. Hai động từ “nướng”, “vùi” được đặt lên đầu câu dường như đã lột tả đến tột cùng sự tàn sát man rợ, giết người không ghê tay của bọn chúng. Thêm vào đó, chúng còn tàn sát nhân dân bằng cách đẩy họ vào những noi đầy rẫy những hiểm nguy, nơi mà khi đã đi rồi thì rất khó để có thể sống sót để trở về.

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc

Đồng thời, tội ác của giặc Minh còn ở đặt lên đầu nhân dân những chính sách thuế khóa nặng nề, và vô lí và không dừng lại ở đó, chúng còn hủy hoại cả môi trường sống, môi trường tự nhiên.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt

Tàn sát cả giống côn trùng, cây cỏ,

Như vậy, bằng hàng loạt các hình ảnh chân thực, rõ nét cùng việc sử dụng phép đối lập giữa tội ác của kẻ thù với nỗi đau thống khổ của nhân dân và giọng văn đanh thép, hùng hồn, tác giả Nguyễn Trãi đã viết nên một bản cáo trạng về những tội ác man rợ của kẻ giặc và bản cáo trạng ấy khép lại bằng một hình ảnh so sánh giàu sức khái quát và đầy ám ảnh về tội ác của chúng.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Tiếp đó, trong đoạn ba của bài cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã tái hiện lại quá trình chiến đấu và giành chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống quân Minh xâm lược. Và trước hơn hết đó chính là hình ảnh của chủ tướng Lê Lợi.

Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Với đại từ “ta” tự xưng gần gũi cùng cách sử dụng từ “nơi”, “chốn” đã cho thấy nguồn gốc xuất thân của chủ tướng Lê Lợi. Người anh hùng ấy cũng xuất thân từ nhân dân, cũng bước ra từ lòng nhân dân và thấu hiểu bao nỗi nhọc nhằn của nhân dân.

Người anh hùng ấy mang trọn trong mình lòng căm thù giặc sâu sắc – “ngẫm thù lớn hạ độ trời chung”, “căm thù giặc thề không cùng chung sống’ cùng bao nỗi niềm nghĩ suy, trăn trở đến nỗi “đau lòng nhức óc”, “quên ăn vì giận” và cả “những trằn trọc trong đêm mộng mị” để đứng lên dấy binh khởi nghĩa.

Dẫu cuộc khởi nghĩa ấy diễn ra giữa lúc “quân thù đương mạnh” và gặp phải muôn vàn khó khăn nhưng điều đó không thể ngăn được bước chân và ý chí của Lê Lợi, ông vẫn không nguôi nỗi lòng thương dân và niềm khát khao đánh thắng kẻ thù xâm lược và để rồi, dẫu trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ông vẫn tìm ra con đường để tranh đấu, để đưa cuộc chiến của ta đi đến thắng lợi.

Trọn hay:

Đen đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo

Chính nhờ chân lí, con đường ấy mà cuộc khởi nghĩa của ta đã từng ngày, từng ngày vượt qua khó khăn và đi đến thắng lợi. Tuy nhiên, khi tái hiện quá trình chiến đấu và chiến thắng của quân ta, Nguyễn Trãi không chỉ tái hiện hình ảnh của anh hùng Lê Lợi mà ông còn tái hiện rõ nét từng chặng đường trong cuộc kháng chiến ấy.

Trong buổi đầu của cuộc kháng chiến, nghĩa quân của ta gặp phải rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về nhân lực – “việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần”, thiếu thốn lương thực,… nhưng với lòng quyết tâm và ý chí, cả nghĩa quân vẫn sát cánh bên nhau và cùng cố gắng. Để rồi, trong giai đoạn sau của cuộc chiến, quân ta đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Mở đầu là các chiến thắng ở trận Bồ Đằng, trận Trà Lân rồi tiếp đó là chiến thắng Tây Kinh, Đông Đô, Ninh Kiều,… và tiếp đó là hàng loạt các chiến công liên tiếp:

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hai lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khanh cùng kế tự vẫn.

Có thể nói, bằng tất cả lòng quyết tâm, ý chí và lòng căm thù giặc sâu sắc, quân ta đã đánh thắng kẻ thù xâm lược, khiến chúng thất bại thảm hại và khiếp sợ. Đồng thời, trong trận chiến ấy, quân ta vẫn thể hiện rõ tư tưởng chính nghĩa đã đặt ra, bởi vậy nên khi quân giặc thua trận, nghĩa quân của ta vẫn cho chúng đường lui, không những tha chết cho bọn chúng mà còn cấp ngựa, cấp lương thực và cấp thuyền cho chúng trở về nước. Và có lẽ bởi vậy, chiến thắng của ta chính là sự chiến thắng của nhân nghĩa, của lòng nhân ái và tinh thần thượng võ.

Cuối cùng, trên cơ sở luận đề chính nghĩa và thực tiễn của cuộc chiến đấu đoạn cuối của bài cáo đã lên tiếng tuyên bố nền hòa bình, độc lập của dân tộc.

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

(…)

Xa gần bá cáo

Ai nấy đều hay.

Với giọng văn hào hùng, trịnh trọng xen lẫn niềm vui và tự hào dân tộc, lời tuyên bố độc lập được tuyên bố rộng rãi đến toàn thể mọi người. Lời tuyên bố ấy không chỉ thể hiện lòng tự hào dân tộc mà còn cho thấy niềm tin vào một tương lai đất nước thái bình và thịnh vượng.

Tóm lại, với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và yếu tố chính luận cùng việc sử dụng nhiều hình ảnh độc đáo và giọng văn biến đổi linh hoạt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi xứng đáng là “áng thiên cổ hùng văn” trong nền văn học Việt Nam.

Bài mẫu 7

Nhận xét về nhà văn phương Nam Đoàn Giỏi, Chế Lan Viên từng nói: “Là một nhà văn chịu khó tìm tòi nghiên cứu mọi chuyện một cách ngọn ngành, nên trang viết của ông thường rất góc cạnh, gồ ghề nhưng cũng đậm đặc chân tình như quê hương ông, miền đất hoang sơ và hào phóng miền Tây Nam bộ.”

Quả thực như vậy, đọc “Đất rừng phương Nam”, ta như được hòa mình vào không gian rộng lớn nơi rừng tràm U Minh. Bằng ngòi bút tài hoa, tâm hồn thi vị, Đoàn Giỏi đã vô cùng thành công trong việc miêu tả cuộc sống, công việc của con người Nam Bộ.

Văn bản “Đất rừng phương Nam” là một trích đoạn thuộc chương 9 “Đi lấy mật”. Văn bản đơn thuần kể về việc cậu bé An theo chân tía nuôi, Cò vào rừng để lấy mật. Trong chuyến đi, An đã phát hiện ra rất nhiều điều thú vị liên quan đến công việc dựng kèo nuôi ong mà má nuôi hay nói tới. Đồng thời, được tận mắt chứng kiến cảnh sắc đất rừng. Như vậy, chủ đề mà đoạn trích này hướng đến là tái hiện cuộc sống, công việc thường ngày của người dân phương Nam. Từ đó, ngợi ca thiên nhiên, con người nơi đây.  

Đầu tiên, tác giả hướng ngòi bút vào việc khắc họa công việc dựng kèo nuôi ong. Công việc này được miêu tả gián tiếp qua lời kể tỉ mỉ của má nuôi An. Để có thể định chỗ gác kèo, con người phải thực sự hiểu biết và giàu kinh nghiệm. Giữa núi rừng mênh mông, người nuôi ong lấy mật cần “chọn được vùng rừng tốt, biết rằng đến mùa xuân tràm sẽ kết nhiều hoa”. Chưa dừng lại ở đó, người dân phải tiếp tục quan sát hướng gió, lường tính trước các đường bay của ong mật. Như vậy, đây là công việc đòi hỏi sự chăm chút, tỉ mỉ, cẩn thận ở con người.

Tiếp đến, nhà văn tập trung làm nổi bật công việc đi lấy mật. Ngay từ sáng sớm, tía nuôi, An và Cò đã mang theo biết bao dụng cụ rồi đi vào rừng. Quãng đường tới địa điểm gác kèo khá xa xôi, trắc trở. Thế nhưng, chẳng ai lấy làm mệt nhọc hay vất vả. Dường như, con người đã quá quen với công việc thường ngày, với tình cảnh đàn ong vỡ tổ, bay vù vù trong rừng sâu.

Công việc đi lấy mật không được miêu tả cụ thể như dựng kèo mà chỉ hiện lên qua một vài chi tiết, hình ảnh. Đó là cảnh tượng tía nuôi “rướn chân lên, gượng nhẹ đỡ nhánh kèo xuống” rồi vắt mật vào gùi, đựng sáp ở một thúng riêng. Như vậy, công việc này không quá cầu kì như việc làm kèo ong song cũng đòi hỏi con người cần tận tâm.

Có thể thấy, thông qua việc dựng lên hai công việc, nhà văn ca ngợi thiên nhiên đất rừng, con người phương Nam chân chất, thật thà. Các công việc đều gắn liền với tự nhiên, với rừng tràm “Gác chiếc kèo chênh chếch lên cây tràm”, “Trên nhánh kèo khô còn trơ lại cái tàn ong sáp trắng to bằng chiếc nón, nặng trĩu những mật vàng”.

Từ đây, Đoàn Giỏi mở ra khung cảnh nên thơ, hùng vĩ và hình ảnh người lao động chăm chỉ, cẩn thận. Con người đã biết tận dụng tài nguyên quanh mình để lao động sản xuất, phục vụ đời sống. Với đôi bàn tay khéo léo cùng sự am hiểu sâu sắc, người dân có thể tự cung, tự cấp một nguyên liệu cần thiết mang tên “mật ong”.

Bằng ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, đậm chất Nam Bộ, hình ảnh giàu sức gợi, nhà văn Đoàn Giỏi đã mang đến cho người đọc những hình dung cụ thể về công việc quen thuộc của người dân phương Nam thời bấy giờ. Các công việc ấy được thực hiện trong một không gian rộng lớn nơi rừng tràm bạt ngàn, được hoàn thành nhờ đôi tay khéo léo, cần mẫn của người dân. Ngoài ra, việc sử dụng ngôi kể thứ nhất, nhiều điểm nhìn kể chuyện cũng giúp văn bản trở nên hấp dẫn và sinh động hơn.

Qua “Đất rừng phương Nam”, ta lại càng hiểu thêm về cuộc sống của con người Nam Bộ, về thế giới bên ngoài, về những con người phóng khoáng, giàu tình cảm. Đồng thời, cảm nhận được vẻ đẹp trù phú, thơ mộng nhưng không kém phần kỳ vĩ ở vùng U Minh.

Bài mẫu 8

Quá trình phát triển của con người rất dài, không thể kể ra trong thời gian ngắn được. Nó gồm rất nhiều thời kì, mỗi thời kì lại đều chứa đựng sự tiến hóa của con người. Từ những ngày ăn lông ở lỗ, đến thời kì cả kinh tế và xã hội đều phát triển như hiện tại. Con người vận dụng trí tưởng tượng để kể lại câu chuyện khai phá đất đai qua các câu truyện truyền thuyết. Đi san mặt đất có những luận điểm đơn giản, kể về cuộc sống của lớp người quá khứ.

Truyện Đi san mặt đất kể về quá trình khai khẩn đất hoang của con người lúc bấy giờ. Mọi người khi đó vẫn cùng cùng lao động, cùng chung sức để khám phá những miền đất mới. Người Lô Lô có những nhận định đơn sơ về quá trình tiến hóa ấy. Theo họ, khi trái đất vẫn còn là hình thái sơ khai, con người chỉ cần hợp sức đi khai hoang và cải tạo lại để sống. Họ cũng không thể xác định thời gian chính xác quá trình bắt bắt đầu từ khi nào, chỉ biết rằng “từ rất xưa”.

“Ngày xưa, từ rất xưa…

Người già không nhớ nổi

Mấy năm mấy nghìn đời

Ngày xưa từ rất xưa…

Người trẻ không biết tới

Mấy nghìn, mấy vạn năm”

Những cụm từ “ngày xưa, rất xưa, mấy nghìn năm, nghìn đời” khiến cho người đọc liên hệ về một khoảng thời gian xa xôi mù mịt. Tuy nhiên, ngày ấy con người lại có sự đoàn kết và tình người mà bây giờ chúng ta phải ngưỡng mộ. Họ ăn chung, sống chung, cùng nhau làm việc để khiến cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Người Lô Lô xưa đã biết cách trồng trọt trên núi cao, uống nước từ bụng đá. Không bỏ cuộc trước hành trình đầy những khó khăn, họ đã từ nhưng “chưa bằng phẳng, nhấp nhô” tạo nên một thiên sử mới.

Theo thời gian, họ cũng biết cách mượn sức của loài vật để thay thế sức lao động của con người. Cũng từ đó, người xưa đã đúc kết được những kinh nghiệm sống và lao động quý giá. Hình ảnh những loài vật khác ở đây cũng được nhắc tới. Đúng như lịch sử, những loài động vật như chuột, ếch không tham gia vào quá trình phát triển của thế giới, vậy nên nền văn minh loài người mới phát triển vượt bậc như hiện tại. Tuy nhiên, hình ảnh đó cũng đã cho thấy người xưa đã biết cách kêu gọi sự trợ giúp từ thiên nhiên.

Người Lô Lô đã dựa vào sức người, không có trợ giúp từ máy móc hoặc loài vật mà có thể san bằng mặt đất. Ta thấy được sức mạnh và tiềm lực vô hạn của con người. Đây chính là một trong những nét đặc sắc của truyện. Về mặt nghệ thuật, truyện khá thú vị và mới lạ khi truyền thuyết không được kể dưới dạng văn xuôi, mà là thơ. Điều này khiến cho người đọc thấy hứng thú và mới lạ hơn.

Giọng điệu được người Lô Lô sử dụng rất vui tươi, không hề mang nhiều đặc điểm của những ngày lao động vất vả bấy giờ. Có lẽ đối với họ, công việc này là công cuộc chinh phục tự nhiên đầy thành tựu. Với nghệ thuật điệp từ một cách khéo léo, câu chuyện cũng đưa người đọc trở về khoảng thời gian xa xôi, trong khoảng không ấy hình ảnh những người Lô Lô đầy phi thường. Phép nhân hóa những loài vật cũng khiến câu truyện trở nên gần gũi, bình dị hơn. Bởi ngôn từ đơn giản và lại nhiều màu sắc, câu chuyện có thể dễ dàng tiếp cận nhiều lứa tuổi người đọc khác nhau.

Tóm lại, Hịch tướng sĩ là tác phẩm lớn nhất, tráng lệ nhất,biểu hiện tinh thần yêu nước của văn học đời Trần. Qua bài hịch, ta càng thêm ngưỡng mộ và biết ơn vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Hịch tướng sĩ, còn có tác dụng to lớn, sâu sắc bồi dưỡng lòng yêu nước, khí phách anh hùng, tinh thần tự lập tự cường cho thế hệ trẻ Việt Nam.

Bài mẫu 9

Tình mẫu tử là thứ tình cảm thiêng liêng, bất biến, là nguồn cội của sự sống và cũng là nơi trái tim mỗi người tìm về trong những giây phút yếu mềm. Từ xưa đến nay, dáng dấp người mẹ tần tảo sớm hôm đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca, nghệ thuật. Trong chùm thơ về tình mẫu tử, Thương mẹ của Đặng Minh Mai là một trong những tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện sự tôn trọng và biết ơn sâu sắc đối với công lao to lớn biển trời của người mẹ. Với lối viết dung dị nhưng sâu lắng, tác giả phác họa nên bức tranh dạt dào cảm xúc về hình ảnh người mẹ suốt đời hy sinh vì con và nỗi tiếc thương vô hạn khi mẹ không còn. Tác phẩm không chỉ khơi dậy lòng yêu thương mà còn là lời nhắc nhở mỗi người về sự quý giá của tình mẫu tử.

Ngụp lặn trong trang thơ của Đặng Minh Mai, ta bắt gặp nỗi nhớ thương mẹ xúc động, nhói đau của người con hiếu thảo:

“Nghĩ về mẹ lòng bao thương nhớ

Lệ hai hàng nức nở tim đau!”

Khi nghĩ về mẹ, trái tim như trỗi dậy những tình cảm dạt dào nhất, sự thương xót, nhớ nhung và lòng biết ơn ôm trọn bầu cảm xúc da diết của người con. Tác giả không dùng một con số cụ thể để đo lường nỗi nhớ, mà sử dụng cụm từ “lòng bao thương nhớ” để nhấn mạnh cảm giác mênh mông, không giới hạn của tình thương dành cho mẹ. Điều này gợi lên rằng tình mẫu tử không thể đong đếm, đó là một tình cảm vô tận và luôn thường trực trong lòng con. Tiếp nối nỗi nhớ nhung khôn xiết, giọng thơ chuyển sang một cung bậc cảm xúc mãnh liệt hơn: “Lệ hai hàng nức nở tim đau!”. Hình ảnh “lệ hai hàng” không chỉ miêu tả trạng thái khóc mà còn cho thấy sự đau xót đến tột cùng. Dòng nước mắt ấy không thể kìm nén được mà trào dâng theo từng kỷ niệm về mẹ. Động từ “nức nở” nhấn mạnh sự bật khóc, nghẹn ngào, thể hiện cảm xúc chất chứa trong lòng người con. Đặc biệt, hình ảnh “tim đau” tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ về nỗi đau không chỉ dừng lại ở bề ngoài mà còn chạm sâu vào tâm hồn, trái tim. Trái tim đau vì nỗi nhớ song cũng chính là sự day dứt, hối hận khi chưa kịp đền đáp hết công ơn của mẹ. Đây là nỗi đau của những ai đã từng mất đi người thân yêu, khi chỉ còn lại những ký ức và sự tiếc nuối khôn nguôi.

Những giọt nước mắt nức nở chính là biểu tượng cho nỗi đau sâu thẳm trong lòng người con khi nghĩ về mẹ. Từng câu thơ như nén chặt nỗi nhớ thương, khơi dậy hình ảnh một người mẹ cả đời tần tảo, chịu đựng bao vất vả, hy sinh vì con cái:

“Một đời mưa nắng dãi dầu

Sớm khuya buôn chải chẳng sầu trách than!”

Hai câu thơ mang đến bức chân dung về người mẹ tần tảo, hy sinh suốt cuộc đời vì gia đình. Mở đầu bằng cụm từ “Một đời mưa nắng dãi dầu,” tác giả khắc họa hình ảnh người mẹ trải qua biết bao vất vả, nhọc nhằn. “Mưa nắng” là hình ảnh ẩn dụ cho những thăng trầm, khó khăn mà mẹ đã phải đối mặt trong cuộc sống. Từ “dãi dầu” gợi lên hình ảnh một người phụ nữ không quản ngại gian lao, sẵn sàng đối diện với mọi thử thách để lo toan cho con cái. Cụm từ “một đời” nhấn mạnh sự liên tục, bền bỉ của sự hy sinh ấy. Cuộc đời của mẹ không có chỗ cho thời gian nghỉ ngơi, mà luôn chất chứa những lo toan. Từ khi còn trẻ cho đến khi tuổi đã xế chiều, mẹ vẫn luôn gánh vác trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Câu thơ thứ hai tiếp tục làm nổi bật phẩm chất cao quý của mẹ: “Sớm khuya buôn chải chẳng sầu trách than!”. Hình ảnh “sớm khuya” gợi lên nhịp sống vất vả, bận rộn của mẹ. Buổi sáng sớm mẹ đã thức dậy để chuẩn bị cho một ngày dài lao động, và khi màn đêm buông xuống, mẹ vẫn tiếp tục công việc không ngơi nghỉ. Cụm từ “buôn chải” ám chỉ công việc mưu sinh, buôn bán nhỏ lẻ, chật vật để kiếm sống. Từng đồng tiền mẹ kiếm được đều thấm đẫm mồ hôi và công sức. Điều đáng quý ở đây là sự kiên định và lạc quan của mẹ. Tác giả nhấn mạnh rằng dù phải đối mặt với bao gian khó, mẹ vẫn “chẳng sầu trách than.” Sự bình thản và cam chịu của mẹ không xuất phát từ sự yếu đuối mà từ tấm lòng yêu thương gia đình vô bờ bến. Mẹ chấp nhận mọi khó khăn để con cái được sống tốt hơn, không than phiền, không trách móc số phận. Điều này thể hiện rõ nét phẩm chất kiên cường, hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam.

Hình ảnh mẹ lam lũ “mưa nắng dãi dầu” làm bật lên sự hy sinh thầm lặng. Mẹ không chỉ là người sinh thành mà còn là chỗ dựa tinh thần, người bảo bọc con cái trong mọi gian khó. Bà luôn âm thầm gánh vác mọi lo toan để mang lại cho con những điều tốt đẹp nhất. Đôi vai gầy guộc, đôi bàn tay chai sần của mẹ trở thành biểu tượng bất diệt của tình yêu thương và sự hy sinh.

“Rét cắt da mẹ đã lên đường

Đôi vai trĩu nặng tình thương

Buôn xuôi bán ngược kiếm đường mưu sinh!”

Từng câu thơ như lát cắt sâu vào hiện thực cuộc sống khó khăn. Người mẹ không quản mưa nắng, gió rét, không ngại gian khổ để lo cho con. Dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu, bà vẫn kiên cường, mạnh mẽ bước tiếp. Tác giả Đặng Minh Mai mở ra bức tranh chân thực về cuộc đời đầy nhọc nhằn của người mẹ, đặc biệt trong những ngày đông giá lạnh. Hình ảnh “rét cắt da” miêu tả cái lạnh khắc nghiệt, tê buốt của mùa đông. Không chỉ là lạnh thông thường, “rét cắt da” còn như một lưỡi dao sắc nhọn cắt qua từng thớ thịt, khiến người ta cảm nhận sâu sắc nỗi khổ của hoàn cảnh sống. Thế nhưng, dù thời tiết có khắc nghiệt đến đâu, người mẹ vẫn bước ra khỏi nhà, “lên đường” để tiếp tục hành trình mưu sinh. Từ “đã” được sử dụng như một lời khẳng định, nhấn mạnh tính liên tục và không ngừng nghỉ trong công việc của mẹ. Hình ảnh này không chỉ mô tả sự vất vả về mặt thể chất mà còn làm nổi bật ý chí kiên cường của mẹ. Dù giá lạnh thấu xương, mẹ không hề chùn bước, bởi mẹ hiểu rằng cuộc sống gia đình, con cái, tất cả đều phụ thuộc vào sự hy sinh và cố gắng không ngừng của mình. Câu thơ “Đôi vai trĩu nặng tình thương” khéo léo chuyển từ sự vất vả về thể chất sang gánh nặng tinh thần. “Đôi vai trĩu nặng” không chỉ nói về những vật chất mẹ phải mang theo, mà còn là biểu tượng của trách nhiệm, của tình thương vô bờ dành cho con cái. Trên đôi vai ấy, mẹ không chỉ gánh nặng áo cơm mà còn mang theo hy vọng về một tương lai tươi sáng hơn cho gia đình. Đặc biệt, cụm từ “trĩu nặng tình thương” làm sáng lên phẩm chất cao đẹp của mẹ. Đó không phải là sự mỏi mệt thông thường, mà là sự hy sinh xuất phát từ tình yêu thương sâu sắc. Mẹ chấp nhận mọi vất vả chỉ để con cái được no ấm, được học hành và có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Câu thơ cuối cùng của đoạn nhấn mạnh hình ảnh người mẹ trong cuộc sống mưu sinh đầy gian truân. Các động từ “buôn xuôi,” “bán ngược” gợi lên sự tần tảo, tất bật, cho thấy mẹ không ngại di chuyển từ nơi này đến nơi khác, không ngừng nỗ lực để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Hình ảnh này còn làm nổi bật sự linh hoạt và kiên trì của mẹ, dù công việc có khó khăn, mẹ vẫn luôn tìm mọi cách để mang lại miếng cơm, manh áo cho con. Cụm từ “kiếm đường mưu sinh” khắc họa rõ nét hơn mục đích của những chuyến đi buôn bán vất vả. Đó không chỉ là việc kiếm sống mà còn là hành trình tìm kiếm một lối đi, một con đường tốt đẹp hơn cho gia đình. Mỗi bước chân của mẹ đều mang ý nghĩa của sự hy sinh và sự phấn đấu không ngừng để đảm bảo một cuộc sống đủ đầy cho con cái.

Thời gian không buông tha cho ai, và mẹ cũng không ngoại lệ. Khi con cái trưởng thành, cũng là lúc mẹ già yếu, cơ thể ngày càng suy kiệt vì những năm tháng lao động cực nhọc. Hình ảnh mẹ lưng còng, sức khỏe giảm sút, khiến người con không khỏi xót xa:

“Con khôn lớn gia đình đỡ thiếu

Mẹ lưng còng thân yếu hơn xưa

Cơm ăn bữa tối nghỉ trưa

Tai ương tật bệnh nào chữa mẹ đâu?”

Mỗi câu thơ là một nốt trầm đầy day dứt. Mẹ đã dành trọn thanh xuân, sức lực để nuôi con khôn lớn, nhưng khi con có thể đỡ đần thì mẹ lại không còn đủ sức để tận hưởng niềm vui ấy. Đặc biệt, nỗi đau của con không chỉ nằm ở sự bất lực trước bệnh tật của mẹ, mà còn là cảm giác hối tiếc vì chưa kịp đền đáp công ơn dưỡng dục. Thời gian trôi qua, con cái ngày càng trưởng thành, và nhờ sự nỗ lực không ngừng của mẹ, gia đình dần thoát khỏi cảnh nghèo khó, thiếu thốn. Cụm từ “gia đình đỡ thiếu” nhấn mạnh sự cải thiện trong cuộc sống, như một thành quả của bao năm mẹ đã hy sinh, tảo tần. Niềm vui của mẹ không nằm ở sự sung túc vật chất, mà ở việc con cái khôn lớn, trưởng thành, có thể tự mình gánh vác cuộc sống. Tuy nhiên, song song với sự khôn lớn của con là sự hao mòn của mẹ. Hình ảnh “lưng còng thân yếu” vừa gợi lên dấu ấn khắc nghiệt của thời gian, vừa thể hiện sự tàn phá của những nhọc nhằn trên thân thể mẹ. Từ “hơn xưa” không chỉ miêu tả sự già nua, yếu đuối về thể chất mà còn hàm ý rằng mẹ đã dành trọn cả cuộc đời để làm điểm tựa cho con. Dáng lưng còng ấy chính là minh chứng cho biết bao nỗi vất vả, gánh nặng mà mẹ đã phải chịu đựng để nuôi nấng con cái nên người. Tuy nhiên, đoạn thơ tiếp tục nhấn mạnh một nỗi xót xa: dù cuộc sống có đầy đủ hơn, mẹ lại phải đối mặt với “tai ương tật bệnh.” Những căn bệnh của tuổi già không thể chữa lành, và đó chính là nỗi đau sâu sắc nhất mà con cái phải chứng kiến. Cụm từ “nào chữa mẹ đâu” mang âm hưởng chua xót, như một câu hỏi đầy bất lực. Tất cả những gì con có thể làm – dù là chăm sóc hay phụng dưỡng – đều không thể giúp mẹ thoát khỏi những đau đớn về thể xác. Đây là một lời nhắc nhở thấm thía rằng, tình yêu thương và sự hiếu thảo có thể làm dịu đi những nỗi đau tinh thần, nhưng không thể ngăn cản quy luật nghiệt ngã của cuộc sống: tuổi già và bệnh tật là điều không ai tránh khỏi.

Mất mẹ là nỗi mất mát lớn lao, để lại khoảng trống không gì có thể lấp đầy trong lòng người con. Những câu thơ tiếp theo thể hiện nỗi đau đớn tột cùng khi mẹ rời xa cõi đời:

“Trời nghiêng ngả ứa sầu rơi lệ

Mẹ ra đi trần thế mẹ rồi…!”

Hình ảnh “trời nghiêng ngả” không chỉ là sự biến động của thiên nhiên mà còn tượng trưng cho sự đổ vỡ trong tâm hồn người con. Sự ra đi của mẹ khiến thế giới như mất đi sự cân bằng. Đó là nỗi đau không thể diễn tả hết bằng lời, khi người thân yêu nhất không còn. Hai câu thơ mở đầu cho phần cao trào cảm xúc của bài thơ, diễn tả nỗi đau đớn tột cùng khi người con phải đối mặt với sự ra đi của mẹ. Từ “trời nghiêng ngả” gợi lên hình ảnh một sự biến động lớn lao, như thể vũ trụ cũng phải chao đảo, thiên nhiên cũng chịu chung nỗi đau mất mẹ. Đây là cách nói ẩn dụ để diễn tả tâm trạng hoảng loạn, mất phương hướng của người con khi đối diện với sự thật nghiệt ngã: mẹ đã không còn bên cạnh. Hình ảnh “ứa sầu rơi lệ” không chỉ miêu tả giọt nước mắt của con mà còn nhân hóa trời đất, như thể cả thiên nhiên cũng cảm nhận được nỗi mất mát này. Sự đồng cảm của vũ trụ làm tăng thêm tính bi thương, nhấn mạnh rằng sự ra đi của mẹ không chỉ là mất mát cá nhân mà còn là một mất mát lớn lao, khó lòng nguôi ngoai.

Tác giả tiếp tục khắc sâu nỗi mất mát ấy qua hình ảnh mẹ “xuôi tay, nhắm mắt”:

“Thương yêu gửi lại trên đời

Xuôi tay, nhắm mắt chẳng lời trối trăn!”

Sự ra đi lặng lẽ của mẹ như một hồi chuông thức tỉnh, nhắc nhở người con về giá trị của tình mẫu tử. Mẹ ra đi, mang theo tình yêu thương bao la, để lại nỗi cô đơn và niềm tiếc thương khôn nguôi cho người con.

Dẫu đau đớn vì mất mẹ, người con vẫn cầu mong mẹ được an nghỉ ở nơi chốn lành, nơi không còn những khổ đau trần thế:

“Ở nơi đó chốn lành mẹ đến

Cõi thiên bồng nơi kết trần gian

Cầu xin mẹ được bình an

Vãng sinh tịnh độ lời vàng con mong!”

Hình ảnh “cõi thiên bồng” và “tịnh độ” mang ý nghĩa thiêng liêng, biểu hiện niềm tin rằng mẹ sẽ tìm được sự thanh thản nơi cõi vĩnh hằng. Đây không chỉ là lời cầu nguyện mà còn là cách tác giả xoa dịu nỗi đau, khẳng định rằng tình mẫu tử sẽ mãi vĩnh cửu, dù mẹ đã đi xa.

Bài thơ không chỉ là lời tri ân dành cho mẹ mà còn mang đến cho người đọc bài học sâu sắc về lòng hiếu thảo. Cuộc đời người mẹ là chuỗi ngày hy sinh, tảo tần vì con cái, nhưng những hy sinh ấy đôi khi chỉ được nhận ra khi mẹ đã không còn. Qua nỗi tiếc thương của tác giả, mỗi chúng ta được nhắc nhở phải biết trân trọng mẹ khi còn có thể. Tình mẫu tử là món quà quý giá nhất mà cuộc đời ban tặng, và lòng hiếu thảo chính là cách để ta giữ gìn và đáp lại tình yêu ấy. Bài thơ sử dụng thể thơ lục bát mượt mà, gần gũi, dễ dàng chạm đến trái tim người đọc. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu sức biểu cảm, gợi lên những hình ảnh chân thực về người mẹ trong cuộc đời thường nhật. Cách sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa, so sánh làm tăng thêm tính biểu cảm, khiến người đọc không chỉ cảm nhận được tình yêu thương mà còn hình dung rõ nét những vất vả, hy sinh của mẹ. Nhịp điệu thơ chậm rãi, trầm lắng, phù hợp để bộc lộ những cảm xúc sâu lắng về tình mẫu tử.

Thương mẹ là một tác phẩm giàu cảm xúc, gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình mẫu tử và lòng hiếu thảo. Qua hình ảnh người mẹ tảo tần, bài thơ không chỉ ca ngợi sự hy sinh của mẹ mà còn khơi dậy lòng biết ơn trong mỗi người đối với đấng sinh thành. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc niềm xúc động và suy ngẫm về trách nhiệm của bản thân đối với mẹ cha. Trong vòng xoáy của cuộc đời, dù đi đâu, làm gì, mỗi chúng ta cũng cần nhớ rằng tình mẫu tử là cội nguồn yêu thương, là điểm tựa vững chắc cho mỗi bước chân đời người.

Bài mẫu 10

Bài thơ "Thương mẹ" của Đặng Minh Mai là một tác phẩm thể hiện tình cảm sâu sắc, lòng biết ơn và nỗi thương nhớ đối với người mẹ, một tình cảm thiêng liêng mà mọi người con đều có thể cảm nhận và thấu hiểu. Bài thơ sử dụng thể thơ song thất lục bát, một thể thơ dân tộc truyền thống, gắn bó với văn hóa và truyền thống của người Việt. Phân tích bài thơ này sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về giá trị cảm xúc và nghệ thuật trong tác phẩm.

         Thể thơ song thất lục bát là một thể thơ đặc trưng trong văn học dân gian Việt Nam, có tính nhạc cao và dễ thuộc, dễ nhớ. Các câu thơ có sự kết hợp giữa vần lục bát và vần song thất, tạo nên một nhịp điệu vừa trang trọng, vừa gần gũi, thân thương. Việc sử dụng thể thơ này trong bài thơ "Thương mẹ" của Đặng Minh Mai là lựa chọn hợp lý, giúp thể hiện tình cảm trân trọng và cảm động dành cho người mẹ, đồng thời tạo ra sự ấm áp, dễ hiểu và dễ tiếp cận với người đọc.

        Bài thơ thể hiện một cảm xúc mạnh mẽ và sâu sắc về tình mẫu tử, là tình yêu vô bờ bến và đầy hy sinh mà người mẹ dành cho con cái. Tác giả viết về mẹ không chỉ là một người sinh thành, mà còn là hình ảnh của sự hy sinh, vất vả và chịu đựng trong suốt cuộc đời. Hình ảnh người mẹ: Người mẹ trong bài thơ không được miêu tả bằng những từ ngữ hoa mỹ, mà là hình ảnh gần gũi, mộc mạc, rất đời thường. Đặc biệt, bài thơ gợi lên hình ảnh người mẹ với những vất vả, nhọc nhằn, nhưng không bao giờ than vãn hay tỏ ra yếu đuối. Mẹ là người luôn chịu đựng, hy sinh cho con cái mà không mong nhận lại điều gì. Tình yêu thương vô bờ bến: Tình yêu thương của mẹ là một chủ đề xuyên suốt bài thơ. Mẹ yêu thương con cái một cách vô điều kiện, chở che, bảo vệ cho con dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất. Tình cảm đó không chỉ là sự chăm sóc về mặt vật chất mà còn là sự nuôi dưỡng về tinh thần. Hình ảnh người mẹ trong bài thơ là biểu tượng của tình yêu vô tận, không có giới hạn, vượt qua mọi gian khó. 

        Bài thơ cũng thể hiện nỗi nhớ nhung và sự biết ơn của người con dành cho mẹ. Khi mẹ không còn bên cạnh, người con mới càng cảm nhận rõ hơn tình yêu thương, sự hy sinh mà mẹ dành cho mình. Cảm giác nhớ mẹ, nhớ những lời dạy bảo của mẹ, và mong muốn có thể làm điều gì đó để đền đáp công ơn của mẹ là một trong những cảm xúc chủ đạo trong bài thơ. 

Tác giả không sử dụng từ ngữ quá phức tạp, mà chọn những từ ngữ giản dị, dễ hiểu nhưng lại đầy cảm xúc. Chính sự mộc mạc đó lại khiến cho bài thơ trở nên gần gũi, chân thật và dễ đi vào lòng người đọc. Sự kết hợp giữa cảm xúc và hình ảnh: Những hình ảnh như "mẹ vất vả", "mẹ hy sinh" được lặp lại trong bài thơ, tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ và làm nổi bật tình mẫu tử. Các hình ảnh này được mô tả bằng những từ ngữ rất bình dị nhưng lại chứa đựng một cảm xúc sâu sắc, thể hiện sự cảm động và lòng biết ơn vô hạn của người con đối với mẹ. 

      Việc sử dụng thể thơ song thất lục bát giúp bài thơ mang âm hưởng truyền thống, dễ đi vào lòng người. Nhịp điệu của thể thơ này như một lời ru êm ái, dịu dàng, rất phù hợp với chủ đề tình mẹ. Những vần điệu trong bài thơ tạo nên sự nhẹ nhàng, ấm áp, nhưng cũng đầy sự trân trọng và sâu sắc. 

       Bài thơ "Thương mẹ" của Đặng Minh Mai là một tác phẩm đầy cảm xúc, thể hiện lòng biết ơn và tình yêu thương vô bờ bến đối với người mẹ. Với thể thơ song thất lục bát, tác giả đã khéo léo thể hiện sự hi sinh và tình cảm của người mẹ, đồng thời thể hiện được sự cảm nhận sâu sắc của người con về tình mẫu tử. Bài thơ không chỉ là lời tri ân mà còn là lời nhắc nhở chúng ta về giá trị của tình mẹ trong cuộc sống.

Bài tham khảo Mẫu 3

Tình mẫu tử luôn là một trong những nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Có những bài thơ không cần câu từ hoa mỹ, không cần kỹ thuật phức tạp, mà chỉ bằng cảm xúc chân thành cũng đủ chạm đến trái tim người đọc. Bài thơ “Thương mẹ” của Đặng Minh Mai là một tác phẩm như thế – mộc mạc, da diết nhưng lại vô cùng xúc động, là tiếng lòng nghẹn ngào của người con dành cho người mẹ đã khuất, một lời tri ân và tiếc thương sâu sắc đối với bậc sinh thành.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, nỗi nhớ thương mẹ đã trào dâng mãnh liệt trong trái tim người con. Không màu mè, không vòng vo, nỗi đau được thể hiện trực tiếp bằng hình ảnh nước mắt rơi, trái tim thổn thức. Đây là tiếng khóc từ tận đáy lòng – vừa là nỗi nhớ, vừa là sự đau đớn khi nhận ra mẹ đã rời xa cõi đời này mãi mãi. Chỉ hai câu thơ ngắn mà chứa đựng trọn vẹn cảm xúc của một người con đang đối diện với mất mát lớn lao nhất đời.

Tiếp nối mạch cảm xúc đó, tác giả gợi lại hình ảnh người mẹ tảo tần, cả đời vất vả vì con. Những từ ngữ như “mưa nắng dãi dầu”, “sớm khuya bươn chải” như vẽ lên trước mắt người đọc hình ảnh một người mẹ lam lũ, chịu thương chịu khó. Dù cuộc sống có gian nan, khắc nghiệt đến đâu, mẹ vẫn không một lời than vãn, không oán trách số phận, chỉ lặng lẽ gánh vác tất cả vì con cái.

Đặc biệt, hình ảnh đôi vai trĩu nặng của mẹ khiến người đọc không khỏi xót xa. Mẹ không chỉ gánh hàng, gánh cơm áo, mà còn gánh cả một trời thương yêu cho con. Cuộc đời mẹ là những chuyến buôn ngược xuôi đầy nhọc nhằn, chỉ mong con có được một cuộc sống đủ đầy hơn. Mỗi câu thơ như một lời kể chân thành, mỗi hình ảnh đều là những ký ức không thể phai mờ trong lòng người con.

Khi con khôn lớn, trưởng thành thì mẹ đã bước sang những năm tháng tuổi già, yếu đuối và bệnh tật. Tuổi già đến với mẹ trong sự cằn cỗi, bệnh tật. Câu thơ ngắn mà như nghẹn lại – “nào chừa mẹ đâu?” – là một lời than xót xa, uất nghẹn trước sự bất công của đời người. Mẹ đã khổ cả đời, vậy mà cuối cùng lại vẫn phải chịu thêm những đau đớn về thể xác.

Nỗi đau như lên đến đỉnh điểm khi mẹ ra đi:

"Mẹ ra đi trần thế mẹ rời...

Xuôi tay, nhắm mắt chẳng lời trối trăn!!!"

Mẹ đi mà không kịp để lại lời dặn dò nào, điều đó khiến người con càng thêm đau đớn và tiếc nuối. Không chỉ người con khóc, mà dường như cả trời đất cũng đau cùng: "Trời nghiêng ngả ứa sầu rơi lệ". Hình ảnh nhân hoá đầy xúc động, cho thấy sự mất mát này không chỉ là nỗi đau riêng mà còn là nỗi buồn của cả thế giới – bởi mẹ là hiện thân của yêu thương và hy sinh.

Dù mẹ đã khuất, người con vẫn gửi trọn niềm tin, hy vọng rằng mẹ sẽ được an nghỉ nơi miền cực lạc. Lời nguyện cầu không chỉ thể hiện niềm tin vào thế giới bên kia mà còn là tấm lòng hiếu thảo, thủy chung của người con. Dù mẹ đã xa, tình yêu thương vẫn luôn hiện hữu, không bao giờ phai nhạt.

 “Thương mẹ” là một bài thơ dung dị nhưng chan chứa cảm xúc. Tác giả đã dùng lời thơ giản dị để vẽ nên hình ảnh người mẹ suốt đời hy sinh, đồng thời thể hiện tấm lòng hiếu thảo và nỗi tiếc thương vô hạn của người con. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng riêng của tác giả mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc với mỗi chúng ta: hãy yêu thương, trân trọng mẹ khi còn có thể, bởi một mai khi mẹ đi rồi, tình yêu đó chỉ còn là hoài niệm.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/phan-tich-bai-tho-song-that-luc-bat-thuong-me-cua-dang-minh-mai-lop-9-a183053.html

Bài mẫu 11

"Thơ ca là tiếng lòng" (Diệp Tiếp). Thơ ca là khúc nhạc đồng điệu tâm hồn, là bản giao hưởng của thi nhân với triệu cung bậc cảm xúc để rồi gói gém trong những trang thơ nghệ thuật. Với trăn trở và tình yêu, hạnh phúc gia đình còn lắng đọng với cuộc đời, với văn chương, giống như cách tác giả Hoàng Mai đã thể hiện trọn vẹn trong tác phẩm " Nhớ ơn cha mẹ" của mình.

 

Trong cuộc đời mỗi con người, cha mẹ là những người giữ vị trí thiêng liêng nhất, là người mang đến cho ta sự sống, tình yêu thương, và những bài học đầu đời. Qua bài thơ "Nhớ Ơn Cha Mẹ" của Hoàng Mai, giá trị cao đẹp ấy được khắc họa một cách đầy xúc động và chân thực. Tác phẩm không chỉ là lời tri ân sâu sắc mà còn là tiếng lòng, là bài học quý báu nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm và lòng hiếu thảo đối với đấng sinh thành.

"Nhớ Ơn Cha Mẹ" mở đầu bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi để gợi nhắc về kỷ niệm ấm áp bên cha mẹ. Từng câu thơ như lời tâm sự, nhẹ nhàng mà sâu lắng, khơi dậy trong lòng người đọc những hồi ức đẹp về gia đình:

Ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt

Chạnh lòng con sướt mướt canh thâu

Mẹ cha giờ khuất nơi đâu

Dương gian hay cõi thâm sâu ngút ngàn

Đêm trở gió bàng hoàng tỉnh giấc

Nhớ công ơn chất ngất lòng đau

Mẹ cha khuất bóng đã lâu

Con chưa đền đáp ơn sâu cửu trùng

Tác giả sử dụng hình ảnh "ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt" , nhà thơ đã lựa chọn thời gian vào tháng bảy- là dịp vu lan báo hiếu, là dịp để ta tưởng nhớ biết ơn công lao cha mẹ, vì thế đoạn thơ mở đã gợi lên nỗi buồn man mác và cảm giác mất mát khi cha mẹ không còn. Những từ ngữ giản dị mà chan chứa tình cảm như "bàng hoàng tỉnh giấc", "chắt chiu ngày tháng" hay "khoai sắn bên nhau" làm nổi bật lên sự vất vả của cha mẹ và tấm lòng biết ơn của người con. Bằng sự tinh tế trong cách biểu đạt, Hoàng Mai đã thành công trong việc tái hiện tình cha nghĩa mẹ, thiêng liêng và bất diệt. Trong khung cảnh ấy, nỗi nhớ cha mẹ khuất bóng dâng tràn trong lòng tác giả. Đây là nỗi nhớ không chỉ về những kỷ niệm ấm áp mà còn là nỗi hoài nghi, tiếc nuối khi nghĩ về cha mẹ giờ đây không còn hiện diện. Câu hỏi "Mẹ cha giờ khuất nơi đâu, dương gian hay cõi thâm sâu ngút ngàn?" vừa như lời tự vấn, vừa là lời than thở, thể hiện cảm giác bất lực và khoảng trống lớn lao khi mất đi người thân yêu nhất.

Thành ngữ “ơn sâu cửu trùng” truyền thống này mang ý nghĩa tôn vinh công lao trời biển của cha mẹ, vừa nhấn mạnh vừa làm giàu tính biểu cảm của câu thơ. Qua đó, tác giả gợi lên một hình ảnh cao cả và thiêng liêng, khiến người đọc cảm nhận được sự kính trọng tuyệt đối đối với đấng sinh thành.Điệp ngữ này lặp lại ở nhiều đoạn trong bài thơ, tạo sự nhấn mạnh mạnh mẽ về nỗi đau mất mát mà thời gian không thể làm nguôi ngoai. Sự lặp lại không chỉ là cách khắc họa cảm xúc mà còn thể hiện nỗi nhớ sâu sắc luôn hiện diện trong tâm trí người con, dù cha mẹ đã xa cách .Nhịp điệu câu thơ chậm rãi, kết hợp với những từ ngữ như "chất ngất", "cửu trùng" và "bàng hoàng" làm nổi bật nỗi đau dằn vặt và sự xúc động mạnh mẽ. Âm hưởng ấy như tiếng lòng của tác giả, vang lên đầy tha thiết và chân thành.

Tiếng thơ Hoàng Mai tiếp tục ngân vang, những hồi tưởng về quãng thời gian khó khăn khi gia đình còn nghèo khổ, cha mẹ đã hy sinh, tần tảo để nuôi con khôn lớn. Cuộc sống tuy thiếu thốn nhưng vẫn tràn đầy tình yêu thương và sự cố gắng không ngừng nghỉ:

Nhớ cái thuở bần cùng cạn kiệt

Cha đảm đương mải miết vườn rau

Cơm canh khoai sắn bên nhau

Chắt chiu ngày tháng mong cầu vươn lên

Thời gian vững lòng bền cha bước

Lên tỉnh thành sau trước lo toan

Đàn con sâm sấp hiền ngoan

Mẹ thay cha dạy bảo ban con khờ

Điểm đặc biệt trong bài thơ nằm ở cách tác giả khắc họa sự hy sinh to lớn của cha mẹ. Cha là người lao động không ngừng nghỉ, “đảm đương mải miết vườn rau”, gánh vác trách nhiệm kinh tế để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho con cái. Mẹ, với sự đảm đang, đã thay cha nuôi dạy, bảo ban con khờ. Tác giả không chỉ nhấn mạnh công lao sinh thành, dưỡng dục mà còn đề cao những nỗ lực thầm lặng, không lời oán than của cha mẹ. Đây chính là sợi dây gắn kết bền chặt giữa cha mẹ và con cái, thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của bài thơ.

Không dừng lại ở sự biết ơn, bài thơ còn gửi gắm nỗi lòng trăn trở và hối tiếc của người con khi chưa làm tròn chữ hiếu. Câu thơ "con chưa đền đáp ơn sâu cửu trùng" như lời tự vấn, thể hiện sự ái ngại vì những điều chưa làm được cho cha mẹ.

Rồi đến lúc con thơ đã lớn

Bỏ mẹ cha về chốn phồn hoa

Đứa an phận đứa bôn ba

Xót xa con trẻ lệ nhòa đêm thâu.

Tác giả gợi lên hình ảnh "bỏ mẹ cha về chốn phồn hoa", nơi phố thị đầy náo nhiệt nhưng cũng xa rời sự giản dị, ấm áp của quê nhà. Đây không chỉ là khoảng cách địa lý mà còn là sự xa cách trong tình cảm gia đình.Mỗi người con có một hướng đi riêng: "Đứa an phận, đứa bôn ba", mô tả sự khác biệt trong lựa chọn cuộc sống. Nhưng dù chọn an phận hay bôn ba, việc rời xa vòng tay cha mẹ vẫn là một nỗi đau thầm lặng, bởi khoảng cách này ngày càng lớn dần theo thời gian. Từ góc nhìn của người con, khổ thơ còn là sự thấu hiểu muộn màng về những nỗi lòng cha mẹ: dù không nói ra, họ luôn đau đáu mong chờ sự đoàn tụ. Kết thúc bằng hình ảnh "xót xa con trẻ lệ nhòa đêm thâu", tác giả thể hiện sự ân hận và tiếc nuối khi không thể ở bên cha mẹ lúc họ cần nhất.

Trong xã hội hiện đại, nhiều người trẻ mải mê với cuộc sống phồn hoa mà quên đi những giá trị truyền thống, quên đi sự hy sinh lặng thầm của cha mẹ. Thông điệp mà Hoàng Mai gửi gắm không chỉ là lời nhắc nhở mỗi người cần sống có trách nhiệm mà còn là bài học lớn về cách trân trọng tình yêu thương, để không phải day dứt khi đã muộn màng.

Bài thơ "Nhớ Ơn Cha Mẹ" của Hoàng Mai nổi bật với nghệ thuật sử dụng hình ảnh giản dị, gần gũi, gợi lên không gian thấm đẫm cảm xúc đời thường. Từ láy như "sướt mướt", "bàng hoàng", "chất ngất" góp phần diễn tả nỗi nhớ nhung, day dứt đầy chân thực. Tác giả khéo léo sử dụng biện pháp đối lập giữa quê nhà và chốn phồn hoa, làm nổi bật sự xa cách trong tình cảm gia đình. Điệp ngữ "mẹ cha khuất bóng" lặp lại nhiều lần, nhấn mạnh nỗi đau mất mát không thể nguôi ngoai. Câu hỏi tu từ cùng thành ngữ như "ơn sâu cửu trùng" vừa bộc lộ nỗi trăn trở, vừa làm tăng tính truyền thống và chiều sâu ý nghĩa. Nhịp thơ chậm rãi, âm hưởng trầm lắng tạo nên giọng điệu tha thiết, sâu lắng. Tất cả đã góp phần làm nên một tác phẩm trữ tình giàu cảm xúc, lay động lòng người.

Ngoài giá trị nhân văn, bài thơ còn mang sức mạnh giáo dục lớn lao. Qua việc lồng ghép những hình ảnh đời thường với tâm trạng chân thành, Hoàng Mai đã khéo léo truyền tải thông điệp về lòng hiếu thảo và tinh thần hướng về gia đình. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi những giá trị truyền thống có nguy cơ mai một, bài thơ càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nó như một lời nhắc nhở rằng, gia đình chính là nền tảng của hạnh phúc, là nơi chúng ta được yêu thương vô điều kiện, và trách nhiệm của mỗi người là bảo vệ, giữ gìn những giá trị ấy.

Cuối cùng, "Nhớ Ơn Cha Mẹ" không chỉ là tác phẩm thơ ca mà còn là bài học sâu sắc về đạo lý làm người. Tác giả không chỉ bày tỏ nỗi lòng riêng mà còn thay lời cho biết bao thế hệ, gửi gắm thông điệp về cái tâm và cái đức của con cái đối với đấng sinh thành. Bài thơ đã chạm đến trái tim của người đọc, khơi gợi những cảm xúc thiêng liêng nhất về tình yêu thương gia đình.

Tóm lại, bài thơ "Nhớ Ơn Cha Mẹ" của Hoàng Mai chính là một tác phẩm nghệ thuật giàu cảm xúc và ý nghĩa. Nó không chỉ giúp chúng ta nhận ra công lao to lớn của cha mẹ mà còn khơi dậy ý thức trách nhiệm trong việc báo đáp và gìn giữ giá trị gia đình. Giữa nhịp sống hiện đại hối hả, bài thơ như một hồi chuông nhắc nhở, rằng đừng bao giờ lãng quên tình yêu thương sâu sắc của cha mẹ, bởi đó chính là cội nguồn của mọi hạnh phúc.

Bài mẫu 12

"Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"

   Câu ca dao từ ngàn xưa đã khắc sâu vào tâm khảm mỗi người con Việt Nam về công ơn trời biển của cha mẹ. Tình cảm ấy luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho văn chương nghệ thuật. Đoạn thơ "Nhớ ơn cha mẹ" của Hoàng Mai là một minh chứng cho điều đó. Qua những vần thơ song thất lục bát đằm thắm, tác giả đã vẽ nên bức tranh xúc động về tình yêu thương, sự hy sinh cao cả của cha mẹ và nỗi lòng day dứt, ân hận của người con khi chưa kịp báo đáp.

   Mở đầu đoạn thơ là không gian trầm buồn, man mác với hình ảnh "Ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt". Tiếng mưa như tiếng lòng người con đang sụt sùi, nghẹn ngào khi nhớ về cha mẹ. Nỗi nhớ ấy cứ trở đi trở lại, ám ảnh tâm trí khiến con "chạnh lòng sướt mướt canh thâu". Câu hỏi tu từ "Mẹ cha giờ khuất nơi đâu/ Dương gian hay cõi thâm sâu ngút ngàn" càng khắc sâu thêm sự trống vắng, bơ vơ của người con khi không còn cha mẹ bên cạnh. Từ nỗi nhớ da diết, người con hồi tưởng về những tháng ngày gian khó mà cha mẹ đã trải qua để nuôi con khôn lớn. Đó là những tháng ngày "bần cùng, cạn kiệt" mà "Cha đảm đương mải miết vườn rau". Bữa cơm đạm bạc "cơm canh khoai sắn bên nhau" là tất cả những gì cha mẹ có thể dành cho con, nhưng trong đó chứa chan tình yêu thương vô bờ bến. Cha mẹ không quản ngại khó khăn, gian khổ, luôn "chắt chiu ngày tháng mong cầu vươn lên" để con cái có một tương lai tươi sáng hơn.

   Khi con cái lớn lên, cha mẹ lại tiếp tục hy sinh, vun vén cho con. "Thời gian vững lòng bền cha bước/ Lên tỉnh thành sau trước lo toan". Cha lên thành phố làm lụng vất vả để kiếm tiền nuôi con ăn học. Mẹ ở nhà "thay cha dạy bảo ban con khờ". Tình yêu thương, sự hy sinh ấy thật cao cả, thiêng liêng biết bao! Nhưng rồi, "Rồi đến lúc con thơ đã lớn/ Bỏ mẹ cha về chốn phồn hoa", những đứa con rời xa vòng tay yêu thương để tìm kiếm tương lai cho riêng mình. Có đứa "an phận", có đứa "bôn ba", nhưng tất cả đều mang trong lòng nỗi niềm về cha mẹ. Khi đêm về, những đứa con mới thấm thía nỗi ân hận vì chưa báo đáp được công ơn sinh thành. "Xót xa con trẻ lệ nhòa đêm thâu" là những giọt nước mắt muộn màng của người con khi cha mẹ đã không còn nữa.

   Đoạn thơ "Nhớ ơn cha mẹ" đã chạm đến trái tim người đọc bằng những hình ảnh giản dị, chân thực và ngôn ngữ giàu cảm xúc. Thể thơ song thất lục bát truyền thống với nhịp điệu trầm buồn, da diết càng làm tăng thêm sức lay động của những vần thơ. Tác giả sử dụng nhiều từ ngữ, hình ảnh giàu tính biểu cảm như "chạnh lòng", "sướt mướt", "bàng hoàng", "xót xa", "ơn sâu cửu trùng"... để diễn tả nỗi lòng người con. Bên cạnh đó, các biện pháp tu từ như điệp ngữ "nhớ", câu hỏi tu từ, ẩn dụ... cũng được sử dụng một cách khéo léo, tinh tế, góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.

   Đoạn thơ không chỉ là lời tự sự của một người con, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi chúng ta về công ơn trời biển của cha mẹ. Tình yêu thương của cha mẹ là vô điều kiện, không gì có thể sánh bằng. Là những người con, chúng ta hãy luôn ghi nhớ công ơn ấy, hãy yêu thương, kính trọng và báo hiếu cha mẹ khi còn có thể. Đừng để đến khi "Mẹ cha giờ khuất nơi đâu" mới hối hận, day dứt vì những gì mình chưa làm được. Bởi lẽ, thời gian là hữu hạn, và tình yêu thương của cha mẹ là món quà vô giá mà chúng ta may mắn có được trong cuộc đời này.

Bài mẫu 13

Tình cảm gia đình luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong văn chương nghệ thuật Việt Nam. Trong đó, tình mẫu tử, phụ tử – mạch nguồn thiêng liêng nhất của con người – luôn được khắc họa với bao cung bậc xúc cảm. Bài thơ “Nhớ ơn cha mẹ” của Hoàng Mai là một minh chứng sâu sắc. Qua thể thơ song thất lục bát truyền thống, tác giả đã gửi gắm tấm lòng tri ân, niềm thương nhớ và nỗi day dứt của người con khi chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.

Mở đầu bài thơ là không gian buồn man mác của ngày tháng bảy mưa ngâu – thời điểm mùa Vu lan báo hiếu. Câu thơ “Ngày tháng bảy mưa rơi lướt thướt” vang lên như tiếng lòng nặng trĩu nỗi nhớ. Từ láy “lướt thướt” gợi cảm giác buồn bã, rơi rớt, như giọt lệ của người con nhớ mẹ cha. Những câu thơ tiếp theo “Chạnh lòng con sướt mướt canh thâu/ Mẹ cha giờ khuất nơi đâu/ Dương gian hay cõi thâm sâu ngút ngàn” là lời tự sự nghẹn ngào. Câu hỏi tu từ vang lên trong tiếng nấc lặng, gợi sự bơ vơ, cô quạnh khi cha mẹ đã về nơi xa vắng. Từng nhịp thơ như từng nhịp nức nở của trái tim hiếu thảo. Dù cha mẹ không còn, tình yêu và lòng biết ơn của người con vẫn vẹn nguyên, sâu đậm.

Từ nỗi nhớ khôn nguôi ấy, người con hồi tưởng lại những năm tháng cơ cực mà cha mẹ đã hy sinh vì con cái. “Nhớ cái thuở bần cùng cạn kiệt/ Cha đảm đương mải miết vườn rau”. Hình ảnh người cha hiện lên mộc mạc mà kiên cường – tấm lưng còng trên ruộng rau, đôi bàn tay chai sạn lo toan cho gia đình. Mẹ tảo tần, cha nhọc nhằn, những bữa cơm “khoai sắn bên nhau” vẫn ấm tình thương. Tình cảm ấy được bồi đắp bằng sự chắt chiu, chịu thương chịu khó, bằng ước mong con “vươn lên” trong đời. Khi con lớn, cha “lên tỉnh thành sau trước lo toan”, mẹ “thay cha dạy bảo ban con khờ”. Đó là những câu thơ dung dị mà xúc động, ca ngợi tình yêu thương, đức hy sinh vô bờ của bậc sinh thành – thứ tình cảm thiêng liêng nhất trên đời.

Những câu thơ cuối cùng mang âm hưởng xót xa, hối tiếc. Khi con đã trưởng thành, đã có cuộc sống ổn định thì cha mẹ đã lần lượt ra đi. “Rồi đến lúc con thơ đã lớn/ Bỏ mẹ cha về chốn phồn hoa/… Xót xa con trẻ lệ nhòa đêm thâu”. Sự đối lập giữa “chốn phồn hoa” và “lệ nhòa đêm thâu” càng khắc sâu nỗi day dứt của người con vì chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành. Giờ đây, chỉ còn biết “nguyện cầu vãng sanh”, mong cha mẹ thoát cảnh khổ đau. Lời thơ giản dị nhưng chan chứa niềm thành kính và lòng hiếu thảo muộn màng.

Về nghệ thuật, bài thơ gây xúc động bởi giọng điệu chân thành, tha thiết; ngôn ngữ mộc mạc mà tinh tế. Tác giả sử dụng khéo léo thể thơ song thất lục bát – thể thơ truyền thống của dân tộc – để chuyển tải những cung bậc cảm xúc sâu lắng. Nhiều hình ảnh giàu sức gợi như “mưa rơi lướt thướt”, “bàng hoàng tỉnh giấc”, “lệ nhòa đêm thâu”… khiến người đọc như nghe được nhịp đập của trái tim người con hiếu thảo. Các biện pháp tu từ như điệp từ “nhớ”, câu hỏi tu từ, nói giảm nói tránh… càng làm nổi bật nỗi nhớ thương và lòng biết ơn cha mẹ.

Bài thơ “Nhớ ơn cha mẹ” không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi người chúng ta. Tình yêu thương và sự hy sinh của cha mẹ là vô hạn, không gì có thể sánh bằng. Là những người con, chúng ta phải biết trân trọng, yêu thương và báo hiếu cha mẹ khi còn có thể, đừng để đến khi “mẹ cha giờ khuất nơi đâu” mới tiếc nuối, muộn màng. Từ những vần thơ chân thành ấy, ta càng thêm thấm thía giá trị của hai tiếng “cha mẹ” – cội nguồn của mọi tình yêu thương trên đời.

Bài mẫu 14

Nhà thơ Hoài Vũ quê gốc ở Quảng Ngãi. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ, ông tích cực tham gia hoạt động văn học ở miền Nam. Các sáng tác của ông thường lọt vào “mắt xanh” của nhiều nhạc sĩ. Trong đó, tiêu biểu nhất là tác phẩm “Đi trong hương tràm”. Với những đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật, bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm cho độc giả.

Đúng như tên nhan đề, xuyên suốt trong “Đi trong hương tràm” là hình ảnh hoa tràm tỏa hương. Mỗi lần nhân vật trữ tình nhắc đến “hương tràm”, hình bóng “em” sẽ xuất hiện. Có thể nói, hương tràm gắn bó sâu sắc với “em”, trở thành biểu tượng chính của tác phẩm.

Đọc bài thơ, ta thấy đây giống như lời độc thoại kéo dài không dứt. Lời độc thoại ấy được cất lên từ cảm xúc thương nhớ da diết của nhân vật trữ tình, người xưng “anh”. Những hồi ức sâu xa, những nỗi buồn mênh mông gắn liền với hình ảnh hoa tràm cứ thế được gợi ra. Trước hết, ta bắt gặp cảnh tượng:

“Em gửi gì trong gió trong mây

Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp trời mây hương tỏa bay!”

Tác giả đã cảm nhận sự vật bằng các giác quan. Từ hình ảnh thiên nhiên, người “anh” khéo léo gửi gắm tâm sự riêng tư của bản thân tới “em”. Mở đầu là “gió”, “mây” rồi “hoa tràm” và “vòm lá”. Sau những lớp lá xanh tươi, hoa tràm đang e ấp, thẹn thùng khoe sắc. Hoa mang trong mình vẻ đẹp thanh khiết, tinh khôi. Càng ngắm nhìn cảnh vật quanh mình, nhân vật trữ tình càng cảm thấy bồi hồi. Dường như, những điều thầm kín tự sâu trong nỗi lòng đã hòa với cảnh vật “Mà khắp trời mây hương tỏa bay!”. Giờ đây, toàn bộ không gian, thời gian, sự vật đã thấm đẫm nỗi nhớ thương của con người. Cảm xúc ấy tiếp tục được khắc họa qua:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay màu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”

Điệp từ “dù” lặp đi lặp lại ở đầu ba câu thơ chính là lời khẳng định, “tuyên thệ” cho tấm lòng chung thủy trong tình yêu của “anh”. Dù vạn vật đổi thay, dù lòng “em” không thể trao cho “anh” nhưng chắc chắn một điều, tình cảm đôi ta vẫn mãi trường tồn. Một lần nữa, hình ảnh “hoa tràm” lại xuất hiện bên cạnh hình bóng “em”. Phải chăng, hương tràm chính là dư vị ngọt ngào của một mối tình dở dang? Phải chăng, tình yêu ấy được bao bọc bởi “một thoáng hương tràm” kia?

Cô đơn đứng giữa thế gian rộng lớn, nhân vật trữ tình không khỏi cảm thấy xót xa, hụt hẫng:

“Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hi vọng

Với cách ngắt nhịp khác nhau 5/3, 4/3, giọng thơ chậm rãi, hai câu thơ đầu như muốn nhấn mạnh vào nỗi đau trong lòng con người. Nỗi đau ấy giống cơn gió thổi sâu, xoáy sâu vào tâm trạng “anh”. Nó biến tình yêu đôi ta thành sự xót xa nhưng đồng thời, tạo nên sức mạnh nâng đỡ và cổ vũ con người hãy sống xứng đáng với tình cảm ấy.

Thiên nhiên cao rộng, trống trải tiếp tục được tác giả phác họa qua câu thơ:

“Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu”

“Bầu trời”, “cánh đồng” là những thứ luôn tồn tại vĩnh hằng trong đất trời, là đại diện cho sự rộng lớn, mênh mông. Đối diện với hai không gian này, nhân vật trữ tình không khỏi cảm thấy lẻ loi, hiu quanh. Nếu trước kia, anh có “hương tràm”, có “em” cạnh bên thì bây giờ, anh lại một mình bơ vơ với “hương tràm”. Giống như bầu trời và cánh đồng, hương tràm vẫn luôn hiện hữu, duy chỉ có “em” là không.

Câu hỏi tu từ “Hương tràm bên anh, mà em đi đâu” vừa là lời độc thoại mà nhân vật trữ tình tự hỏi mình, vừa là câu hỏi tha thiết mà “anh” hướng tới “em”. Sau tất cả, nỗi ám ảnh nghịch lí còn – mất, nỗi ám ảnh về sự cô đơn đã khắc sắc trong tâm trí nhân vật trữ tình.

Cuối cùng, vượt lên mọi thứ, người “anh” mạnh mẽ bày tỏ tấm lòng của bản thân:

“Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em, giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mắt

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao.”

Câu thơ “Dù đi đâu và xa cách bao lâu” tiếp tục được nhắc lại lần thứ hai đã nhấn mạnh vào tình cảm sắt son, bền chặt của nhân vật trữ tình. Dù thời gian, khoảng cách có cách trở xa xôi thì “anh” mãi nhớ tới “em”. Điệp từ “anh vẫn” đặt ở đầu câu giống như lời hứa, lời thề về tình yêu mà anh dành cho em. Tất cả những gì gắn với mối tình tinh khôi của đôi ta sẽ luôn vĩnh hằng.

Giờ đây, hình bóng “em” đã hóa thân vào bóng tràm, lá tràm và hương tràm, biến thành loài cây mãi tươi tốt, xanh tươi và nảy nở theo thời gian. Để rồi, mỗi lần nhìn thấy cây tràm, “anh” lại nghĩ đến “em” và kỉ niệm đôi ta. Như vậy, tình yêu giữa “anh” và “em” là bất tử, không gì chia cắt.

Bằng hình ảnh thơ gần gũi, thân thuộc; ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc, nhà thơ Hoài Vũ đã dựng lên một bức tranh thiên nhiên có hương tràm là hình ảnh trung tâm. Thông qua đó, khéo léo bộc lộ tình cảm nhớ thương sâu sắc của nhân vật trữ tình. Ngoài ra, việc sử dụng thành công biện pháp điệp ngữ “dù”, “anh vẫn” cũng góp phần diễn tả cảm xúc, tâm trạng ở người “anh”.

Với bốn khổ thơ ngắn gọn, “Đi trong hương tràm” dễ dàng đi sâu vào tâm trí nhiều độc giả. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được cái dư vị sâu lắng của một tình yêu dang dở, của một mối tình không trọn vẹn. Mong rằng, những vần thơ da diết trong tác phẩm sẽ luôn tỏa sáng rực rỡ theo dòng chảy thời gian.

 

Bài mẫu 15

Trong xã hội phong kiến người phụ nữ phải chịu rất nhiều bất hạnh, khổ cực. Người phụ nữ lúc bấy giờ chưa được xã hội công nhận, họ không có quyền quyết định cuộc đời mình, phải phụ thuộc vào người chồng, người cha. Có rất nhiều tác phẩm nói về số phận người phụ nữ trong giai đoạn nay, trong đó phải kể đến đoạn trích Sau phút chia ly trích trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn.

Đoạn trích bày tỏ nỗi lòng sầu thương, nhớ nhung với sự mong mỏi, da diết của người vợ có chồng ra trận. Bài thơ với thể thơ cổ song thất lục bát. Toàn bài là nỗi nhớ thương ngày một tăng tiến, nâng cao của đôi vợ chồng trẻ, đặc biệt là người vợ - một phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Văn bản "Nỗi niềm chinh phụ" là đoạn trích sau khi người vợ ngậm ngùi tiễn chồng ra miền biên ải, nàng trở về đơn chiếc xót xa.

"Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh".
Rồi lại:
"Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai".

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối giữa các câu thất và sử dụng điệp từ ngữ với những tính từ miêu tả độc đáo, đặc sắc đã toát lên nội dung chính là lên án chiến tranh, đặc biệt là khát vọng hòa bình, được yêu thương của người phụ nữ thời phong kiến.

"Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn".

Vì điều kiện đất nước xảy ra chiến tranh người chồng đã phải chia tay người vợ trẻ yêu quý của mình để ra chiến trường. Đó là cuộc chia li buồn và cô đơn của cả hai người. Trong "cõi xa mưa gió" của chàng ẩn chứa bao hiểm nguy, gian nan của hòn tên mũi đạn, của đời sống chốn sa trường. Trong nỗi lòng "buồn cũ chiếu chăn" của thiếp lại đau đớn bao đơn côi phiền muộn, bao khắc khoải đợi chờ. Hai cặp đối "Chàng thì" - "Thiếp thì" ẩn chứa bao chán nản, buồn phiền. Nghĩ đến nhau, họ chỉ còn biết:

"Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh".

Khi đã tiễn chồng ra trận, người vợ quay trở về chỉ biết chôn chặt nỗi buồn trong loàng. "Đoái" nghĩa là ngoảnh lại, ngoái lại nhưng dùng từ "đoái" còn hàm ẩn được cái đau đớn, mệt mỏi của tâm trạng người vợ. Nhưng càng đoái theo trông ngóng chỉ càng thấy cách xa nghìn trùng, giữa họ "đã cách ngăn" "mây biếc" "núi xanh" "tuôn màu" "trải ngàn" cách trở. Nỗi buồn của người phụ nữ như đã âm thầm lan thấm vào thiên nhiên cảnh vật. Đoàn Thị Điểm đã dùng cảnh vật thiên nhiên để nói lên tâm trạng người phụ nữ khi xa chồng:

"Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu".

Trong đoạn thơ tiếp, nỗi sầu chia li và lưu luyến chẳng muốn rời của đôi vợ chồng trẻ đã được thể hiện bằng những điển tích cổ, thủ pháp đối, phép điệp ngữ rất độc đáo.

Những địa danh Tiêu Tương, Hàm Dương tác giả mượn trong điển tích Trung Quốc gợi đến sự cách xa, chia lìa: "cách... mấy trùng". Phép đối vừa thể hiện tấm lòng sâu nặng dành cho nhau của đôi vợ chồng người chinh phụ vừa như thể hiện sự rời xa nhau từng giờ từng khắc của họ: "Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại" - "Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang", "Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương" - "Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương". Đặc biệt, phép điệp ngữ khiến những câu chữ như muốn đan quyện vào nhau chẳng muốn rời: Tiêu Tương - Tiêu Tương, Hàm Dương - Hàm Dương, thấy - thấy, xanh xanh - xanh, ngàn dâu - ngàn dâu. Nét đặc sắc đó đã thể hiện thành công tấm lòng lưu luyến chẳng muốn rời xa nhau của hai vợ chồng nàng. Thể thơ song thất lục bát thiết tha đã góp phần thể hiện tâm trạng u sầu nhung nhớ khôn nguôi trong lòng người chinh phụ. Nhưng dầu thế, đất trời như đang đẩy họ xa nhau hơn. Trong hai câu thơ:

"Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu"

Tác giả đã mượn ý câu thành ngữ "Thương hải tang điền" - biển rộng đã biến thành ruộng dâu tít tắp, ý chỉ những dâu bể cuộc đời. Chẳng những vậy, những sắc thái khác nhau của màu xanh được sử dụng trong hai câu thơ này cũng góp phần diễn tả sâu sắc nỗi lòng người chinh phụ. "Xanh xanh" là màu xanh nhẹ, xanh nhạt. "Xanh ngắt" lại là màu xanh đậm. Từ "xanh xanh" đến "xanh ngắt" là sự tăng tiến, màu xanh thể hiện sự chia li, li biệt; sự tăng tiến đó như thể hiện nỗi buồn ngày càng đậm nét, ngày càng quằn quại xót xa.

Đoạn trích đã sử dụng thể thơ song thất lục bát ngắn ngủi cùng khá nhiều những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng thành công, tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi lòng của người vợ "sau phút chia li" tiễn chồng đi chinh chiến. Đó là nỗi buồn tê tái, nỗi nhung nhớ vơi đầy, sự lưu luyến khôn nguôi... Và như thế, văn bản "Nỗi niềm chinh phụ" (trích "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) đã thể hiện tinh thần nhân đạo rất nhân bản, nhân văn.

Người phụ nữ trong xã hội cũ phải chịu quá nhiều đắng cay tủi nhục, chỉ có người chồng là chỗ dựa tinh thần rồi cũng phải ra đi, chưa biết khi nà o mới gặp lại. Sự ác liệt của chiến tranh làm cho nỗi nhớ chồng của người phụ nữ càng nhân ên gấp bội, bởi giữa cái sông và cái chết của con người trong hoàn cảnh đó là quá mong manh.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 9 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 9 - Ôn Thi Vào Lớp 10 Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...