Viết bài tập làm văn số 2 lớp 11 BÀI VIẾT SỐ 2 (Nghị luận xã hội)


Đề bài

Viết bài tập làm văn số 2 lớp 11 BÀI VIẾT SỐ 2  (Nghị luận xã hội)

Lời giải chi tiết

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

(Xem bài trước)

II. GỢI Ý DÀN BÀI

Đề 1:

   Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng viết “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” (truyện Lục Vân Tiên). Anh (chị) hiểu ý thơ trên như thế nào?

   Hãy viết bài văn bàn về “lẽ ghét thương” trong cuộc sống hàng ngày.

a. Mở bài

- Giới thiệu con người Nguyễn Đình Chiểu.

- Trích dẫn câu thơ thể hiện “lẽ ghét thương” của Nguyễn Đình Chiểu.

b. Thân bài

- Giải thích ý thơ “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”: Người hay ghét chính là người hay thương – nói cách khác: Chính vì yêu thương nên mới căm giận.

- Tại sao lại như vậy?

+ Ghét cái xấu xa, thấp hèn, bợ đỡ, lừa lọc, …

+ Yêu cái đẹp đẽ, cái tốt, cái cao cả, trung thực, …

- Mối quan hệ giữa ghét và thương:

+ Có biết ghét thì mới biết yêu

+  “Phải luyện những con người Việt Nam đẹp nhất. Biết căm thù và cũng biết yêu thương” (Tố Hữu).

- Quan điểm của cá nhân:

+ Ghét và thương là hai tình cảm trái ngược nhau, thể hiện nhân cách, cá tính, phẩm chất…cá nhân. Con người phải biết ghét cái xấu, cái ác; thương cái đẹp, cái thiện, …

+ Không nên chỉ ghét mà không thương hoặc ngược lại. Song cũng không nên ba phải trong sự ghét thương.

+ Cũng cần lưu ý để tránh ghét, thương nhầm người, nhầm việc.

“Người ta khổ vì yêu không phải cách

Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người

                                       (Xuân Diệu)

+ Để ghét thương đúng đối tượng cần tìm hiểu bản chất vấn đề, đặt vào hoàn cảnh cụ thể, đối chiếu chuẩn mực xã hội, …

c. Kết bài

- Sự ghét thương vô cùng quan trọng “Đánh giá sai về một con người là làm khổ con người đó suốt đời” (Nam Cao).

- Con người cần phải biết ghét thương và ghét thương đúng đối tượng, đúng thời điểm.

Đề 2

   Anh (chị) nghĩ gì về câu nói của Tuân Tử (313-235 TCN): “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn của ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy”.

â. Mở bài

- Tuân Tử là một nhà tư tưởng lớn của nhân loại.

- Trích dẫn câu nói thể hiện quan điểm của Tuân Tử về thầy, bạn, kẻ thù.

b. Thân bài

- Giải thích khái niệm:

+ Thầy: Người hơn ta, có thể dạy dỗ ta nhiều điều ta chưa biết.

+ Bạn: Người ta có thể tin tưởng; sẻ chia, giúp đỡ ta lúc phú quý, vinh hoa cũng như khi bần hàn, gian khổ “Giàu vì bạn”.

+ Kẻ thù: Kẻ luôn muốn điều xấu đến với ta, muốn hại ta.

+ Chê phải, khen phải: Chê, khen đúng việc, đúng thời điểm, đúng lúc.

+ Vuốt ve, nịnh bợ: Những lời khen chỉ cốt làm vừa ý, lấy lòng người khác.

- Chứng minh câu nói của Tuân Tử:

+ Người chê phải là người thấy được cái sai của ta, có thể sửa cho ta, giúp ta nhìn thấy cái đúng: Đó là thầy ta.

+ Người khen phải là người không ghen tị với ta, có thể động viên, giúp đỡ ta: Đó là bạn ta.

+ Người vuốt ve, nịnh bợ ta khiến ta tự cao, tự đại, mờ mắt mà lầm đường lạc lối sẽ làm những việc sai trái, có hại…: Người đó là kẻ thù của ta.

- Suy nghĩ của cá nhân về vấn đề Tuân Tử nêu lên:

+ Đó là bài học lớn về đạo lí làm người, làm được là hết sức khó khăn.

+ Cần lưu ý chỉ “Chê phải, khen phải” mới là thầy là bạn; chê sai, khen sai thì không; còn dứt khoát “vuốt ve, nịnh bợ” thì thế nào cũng là kẻ thù.

+ Muốn làm được như lời Tuân Tử phải luôn luôn khiêm nhường, tự coi mình còn nhỏ bé, biết tự nhìn lại mình, tự phê bình.

+ Câu nói của Tuân Tử còn là một bài học về cách ứng xử, cách đánh giá con người trong cuộc sống: Con người phải có lối sống chân thành, biết “Chê phải, khen phải”; tuyệt đối không “vuốt ve, nịnh bợ” người khác.

c. Kết bài

- Câu nói của Tuân Tử có ý nghĩa sâu sắc, thâm thuý.

- Là bài học làm người, chỉ ra cho mọi người hướng hoàn thiện bản thân.

Đề 3

                   “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại,

                    Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần?”

(Tố Hữu – Dậy mà đi)

   Viết bài văn bàn về thắng và bạikhôn và dại trong cuộc sống.

a. Mở bài

- Con người luôn khao khát chiếm lĩnh chiến thắng và sự khôn ngoan

- Giới thiệu quan điểm của nhà thơ Tố Hữu, trích dẫn hai câu thơ.

b. Thân bài

- Giải thích:

+ Chiến thắng: Hoàn toàn đạt được mục đích mong muốn.

+ Chiến bại: Bỏ ra nhiều công sức song không đạt được mục đích.

+ Khôn: Khéo léo, nhanh nhẹn, giải quyết tốt mọi vấn đề.

+ Dại: Làm những điều sai sót, gây hại.

- Giải thích ý thơ của tố Hữu: Cuộc sống của con người là hành trình khám phá thế giới và bản thân. Như một tất yếu: chẳng có ai chỉ có chiến thắng, khôn ngoan mà không thất bại, dại dột… “Con người còn sống là còn mắc lỗi”

Suy nghĩ và quan niệm của cá nhân:

+ Không có chiến thắng tuyệt đối vì khát vọng của con người là vô cùng, tri thức nhân loại là vô hạn; không có thất bại hoàn toàn vì đằng sau sự thất bại ta lại có được nhiều bài học quý báu.

+ Cũng như vậy, không có khôn và dại tuyệt đối.Vấn đề là nhìn sự việc ở góc độ nào.

+ Mối liên hệ giữa chiến thắng và chiến bại; khôn và dại: Thất bại là mẹ thành công, “Mỗi lần ngã (dại) là một lần bớt dại (khôn lên).

- Đánh giá: Ý thơ thể hiện quan niệm đúng đắn, biện chứng về các vấn đề chiến thắng, chiến bại, khôn ngoan, dại dột.

- Rút ra bài học: Luôn biết đứng dậy sau thất bại, biết nhìn lên để sửa chữa sai lầm…Và cũng biết khoan dung, độ lượng trước sai lầm của người khác.

c. Kết bài

- Trong cuộc sống, luôn có thắng – bại, khôn – dại.

- Con người phải học cách tiếp nhận để “Thắng không kiêu, bại không nản”.

Đề 4.

   Suy nghĩ của anh (chị) về lời phát biểu của một nhạc sĩ:

   “Năm hai mươi tuổi, tôi nói: “Tôi và Mô-da”

    Năm ba mươi tuổi, tôi nói: “Mô-da và tôi”

    Năm bốn mươi tuổi, tôi nói: “Chỉ có Mô-da”

a. Mở bài

- Cuộc sống của con người là hành trình tìm hiểu về con người và tìm hiểu về chính mình.

- Trích dẫn câu nói của người nhạc sĩ.

b. Thân bài

- Giải thích câu nói của nhạc sĩ:

+ “Hai mươi tuổi”, “Ba mươi tuổi”, “Bốn mươi tuổi”, theo thời gian, nhạc sĩ trưởng thành hơn về tuổi tác.

+ Những biến đổi về suy nghĩ:

. “ Tôi và Mô-da” là cách nói khẳng định bản thân: mình hơn Mô-da (Nhạc sĩ thiên tài người Áo).

. “Mô-da và tôi” là cách nói khẳng định Mô-da nhưng bản thân vẫn tài năng, chỉ đứng sau Mô-da.

. “Chỉ có Mô-da” là cách nói khiêm nhường, đề cao thiên tài, tự nhận thấy mình chẳng là gì cả.

+ Con người càng trưởng thành, càng hiểu rõ về giá trị của mình và của người.

- Tại sao lại như vậy:

+ Tuổi trẻ thường sôi nổi, bồng bột, thích khẳng định mình và thích mình được khẳng định, muốn được xã hội thừa nhận và ca ngợi (Dế Mèn của Tô Hoài).

+ Càng trưởng thành con người càng hiểu biết rộng hơn “Ra đường lắm kẻ còn giòn hơn ta”, đặt mình giữa mọi người sẽ hiểu hơn về mình, về mọi người.

- Suy nghĩ của bản thân:

+ Luôn khiêm nhường, học hỏi những người xung quanh.

+ Đánh giá người, đánh giá việc luôn đặt vào hoàn cảnh.

c. Kết bài

- Khẳng định bài học rút ra từ câu nói của người nhạc sĩ.

- Tầm quan trọng của việc khiêm tốn học hỏi, rèn luyện cá nhân.

Đề 5

   Đức Phật dạy: “Giọt nước chỉ hoà vào biển cả mới không cạn mà thôi”.

   Anh (chị) nghĩ gì về lời dạy trên? Viết bài văn bàn về vai trò của cá nhân và tập thể.

a. Mở bài

- Triết lí nhà Phật vô cùng thâm thuý, sâu sắc.

- Trích dẫn lời dạy của Đức Phật.

b. Thân bài

- Giải thích lời răn dạy:

+ Nghĩa đen: Một giọt nước riêng rẽ dễ bay hơi, khó tồn tại.

   Triệu triệu giọt nước hoà thành biển cả thì bền vững “không cạn”

+ Nghĩa bóng: Mỗi cá nhân là một giọt nước, đứng một mình thì khó tồn tại và phát triển.

   Con người phải biết hoà mình vào tập thể mới đứng vững, mới phát huy hết khả năng, mới có điều kiện để phát triển.

- Tại sao lại như vậy?

+ Cuộc sống có nhiều khó khăn, vất vả; một cá nhân không thể làm hết mọi việc, đáp ứng mọi nhu cầu.

+ Bước vào tập thể, con người học tập sẻ chia, giúp đỡ, động viên nhau; xây dựng tập thể vững mạnh trong đó mỗi cá nhân đều được đáp ứng nhu cầu.

+ Cá nhân và tập thể có mối quan hệ khăng khít: Cá nhân xây dựng nên tập thể, tập thể tạo điều kiện cho cá nhân phát triển.

- Dẫn chứng từ thực tế: Công cuộc lao động sản xuất chống thiên tai của dân tộc ta, quá trình chống giặc ngoại xâm, giữ gìn và bảo vệ Tổ quốc…

- Bài học rút ra cho mỗi cá nhân:

+ Hoà mình vào tập thể, chia sẻ, học hỏi, nếu cần phải biết hi sinh cho tập thể “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”…

+ Hoà nhập vào tập thể song không có nghĩa là hoà tan; cũng không có nghĩa là bóp nghẹt cá nhân, thủ tiêu sáng tạo cá nhân.

c. Kết bài

- Xã hội ngày một phát triển, yêu cầu hợp tác ngày càng cao, đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết gắn bó với tập thể; cá nhân cần được hiểu rộng ra là cá nhân mỗi vùng miền, mỗi dân tộc…trong mối quan hệ với đất nước, quốc tế…

- Trong quá trình hoà nhập phải biết giữ cá tính, bảo vệ truyền thống.

 Loigiaihay.com

Bình chọn:
4.2 trên 6 phiếu
  • Nghị luận xã hội chủ đề “Nói không với những tệ nạn xã hội”

    Hiện nay,Việt nam chúng ta đang trên đà phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Mỗi công dân đều phải có trách nhiệm đối với bản thân cũng như đối với đất nước để góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nước nhà,song song đó việc đẩy lùi tệ nạn xã hội cũng là một trong những tiêu chí phát triển hàng đầu. Một đất nước càng văn minh, hiện đại thì tệ nạn xã hội lại càng phức tạp, càng đáng phải lên án gay gắt.

  • Suy nghĩ của em về truyền thống “Tôn sư trọng đạo”

    Tôn sư trọng đạo” không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là một truyền thống văn hóa vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Vậy ta hiểu như thế nào về truyền thống đã có từ lâu đời này? “Tôn sư” ở đây chỉ sự tôn trọng, kính yêu người làm nghề dạy học, “trọng đạo” là coi trọng những chuẩn mực đạo đức, những đạo lý làm người

  • Ý nghĩa của việc tự học

    Học là một hoạt động không thể thiếu đối với tất cả mọi người từ khi sinh ra cho đến suốt cuộc đời. Mỗi người muốn tồn tại phát triển và thích ứng được với XH thì cần phải học tập ở mọi hình thức bởi cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng

  • Văn nghị luận xã hội về tác hại của tệ nạn với đời sống con người

    Trong cuộc sống, bên cạnh nhiều tập quán, thói quen tốt còn có những tập quán, thói quen xấu có hại cho con người và xã hội. Những thói quen xấu có sức quyến rũ ghê gớm như chơi cờ bạc, hút thuốc lá, nghiện ma túy hoặc sách, băng, đĩa có nội dung độc hại, nếu ta không kiên định tự chủ, dần dần sẽ bị nó ràng buộc, chi phối và biến thành nô lệ. Ta gọi chung các thói xấu trên là tệ nạn xã hội.

  • Nghị luận xã hội “Bàn về sự nhường nhịn”

    I/MỞ BÀI: “Nhịn điều vinh nhục tấm thân yên Nhịn sự hơn thua tránh phiền lụy…” (Trích “Những điều răn của Phật”)

  • Bài nghị luận về tôn sư trọng đạo

    Nhân dân ta từng có những câu nói vô cùng giản dị mà chứa đựng những ý nghĩa rất sâu sắc về vấn đề Đạo và Thầy. Những câu nói ấy vừa tôn vinh người Thầy, vừa nhắc nhở con người phải biết sống cho phải đạo làm người. Thầy là người vạch đường chỉ lối cho mối người “Không thầy đố mày làm nên”. Vì thế vị trí của người thầy được đặt ngang hàng với vị trí của cha mẹ, “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”. Chúng ta vẫn luôn tự nhắc mình: “Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.

  • Nghị luận xã hội về tinh thần tự học

    Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc học tập cũng phát triển theo. Chính vì vậy giới học sinh chúng ta đã sáng tạo ra rất nhiều cách học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho bản thân. Nhưng theo tôi: trong học tập, tự học là cách học tốt nhất giúp ta tiến bộ hơn trong khi học. Và khi nói đến vấn đề này, tôi muốn mọi người hiểu được trước nhất là ý nghĩa của việc học rồi mới đến cách tự học. Vậy học là gì ?

  • Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    Có bao giờ bạn tự hỏi:Tiền bạc là gì mà bao kẻ mù quáng theo đuổi, hạnh phúc là gì mà bao người khát khao, hi vọng. Hai điều đó tưởng chừng không gắn bó gì với nhau nhưng lại tạo nên một mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết trong cuộc sống.

  • Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    Người Việt Nam có truyền thống vô cùng tốt đẹp là “thương người như thế thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Thế nhưng có những cách sống ngày nay đang gặm nhấm những truyền thống tốt đẹp đó

  • Luyện tập về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN (Xem bài trước) II. RÈN KĨ NĂNG 1. Phân tích những đoạn và bài thơ sau đây, làm rõ những nét riêng của mỗi tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ để biểu hiện cảnh vật và con người.

  • Viết bài tập làm văn số 1 lớp 11

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Nghị luận xã hội lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc, nhằm làm sáng rõ cái đúng, sai, tốt, xấu, phải, trái của vấn đề được nêu ra.

  • Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN - 1. Ngôn ngữ chung Ngôn ngữ chung là ngôn ngữ được một cộng đồng xã hội sử dụng thống nhất để giao tiếp.

  • Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Phân tích đề là xác định các vấn đề sau:

  • Luyện tập về hiện tượng tách từ

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Từ thường có cấu tạo ổn định, các tiếng trong một từ kết hợp chặt chẽ với nhau. Nhưng khi sử dụng, đối với một số từ đa âm tiết, các tiếng có thể được tách ra theo lối đan xen từ khác vào. Cách tách từ như vậy tạo nhạc điệu cho câu đồng thời nhấn mạnh được nội dung cần làm rõ.

  • Viết đoạn văn lập luận so sánh

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

  • Lập luận so sánh

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Lập luận so sánh là một thao tác nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc các mặt trong cùng một sự vật. So sánh để thấy sự giống nhau, khác nhau, từ đó mà thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự vật, hiện tượng. So sánh gồm so sánh tương phản và so sánh tương đồng.

  • Soạn bài Ngữ cảnh (tiếp theo)

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Vai trò của ngữ cảnh trong việc tạo lập văn bản a. Văn cảnh chi phối cách dùng từ, đặt câu

  • Viết bài tập làm văn số 3 lớp 11

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học, trào lưu, trường phái…

  • Ngữ cảnh

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm

  • Ôn tập văn học trung đại Việt Nam

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

  • Luyện tập về lập luận phân tích (tiếp theo)

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Thơ trữ tình là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến rộng và sâu. Thơ ca là nơi phản ánh đời sống tâm hồn, là tiếng nói của con người, là rung động của trái tim trước cuộc đời. Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách quan

  • Luyện tập về lập luận phân tích

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

  • Lập luận phân tích

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Phân tích là chia tách sự vật, hiện tượng thành nhiều yếu tố nhỏ để đi sâu vào xem xét một cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong của hiện tượng và sự vật đó.

  • Luyện tập về trường từ vựng và quan hệ trái nghĩa

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN - Trường từ vựng là tập hợp những từ có nét chung về nghĩa. Một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn; những từ trong một trường từ vựng có thể khác biệt nhau về từ loại. Do hiện tượng đa nghĩa, một từ có thể tham gia vào nhiều trường từ vựng khác nhau.

  • Luyện tập về từ Hán Việt lớp 11

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Sử dụng từ Hán Việt hợp lí, đúng ngữ cảnh sẽ khiến cho câu văn hàm súc, trang trọng. Nhưng cần tránh các trường hợp lạm dụng từ Hán Việt.

  • Luyện tập phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN - Tham khảo phần Kiến thức cơ bản của bài Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn. - Khi xây dựng đề cương phỏng vấn, chú ý nên:

  • Đọc kịch bản văn học

    I. NHỮNG YÊU CẦU VỀ ĐỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC 1. Trong kịch có nhân vật, cốt truyện, lời trữ tình và đặc biệt là xung đột gay gắt. Vì thế, đọc kịch cần chú ý: phân tích cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, xung đột kịch.

  • Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Phỏng vấn là phương thức hỏi đáp trong hội thoại nhằm thu nhận thông tin trực tiếp từ một đối tượng, đối tượng đó thường là người nổi tiếng hoặc một người liên quan đến sự việc mamg tính chất thời sự, người làm chứng, …

  • Luyện tập về tách câu

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Tách câu là tách một bộ phận của câu thành câu riêng nhằm mục đích tu từ (nhấn mạnh nội dung thông tin) hoặc để chuyển nội dung. Việc đặt dấu câu bất thường như vậy thường chỉ gặp trong văn học nghệ thuật.

  • Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

  • Phong cách ngôn ngữ báo chí

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái quát về phong cách báo chí

>> Học trực tuyến Lớp 11 trên Tuyensinh247.com. Cam kết giúp học sinh lớp 11 học tốt, hoàn trả học phí nếu học không hiệu quả.