Soạn bài Tương tư, trang 49 SGK Văn 11

Bình chọn:
3.9 trên 7 phiếu

Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài nỗi nhớ mong ấy vẫn chưa được đền đáp.

➡ Bạn giỏi văn? Hãy tham gia chương trình: Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng nhé💘

GỢI Ý LÀM BÀI

1. Câu 1 trang 50 SGK

   Con người lãng mạn trong bài Tương tư đã thao thức "chín nhớ mười mong" người thương ròng rã suốt "mấy đêm rồi", mong nhớ hết ngày này đến ngày khác, thậm chí hết tháng này qua tháng khác: "Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng"... Theo đạo lí quân tử "tu, tề, trị, bình" Nho gia, nhất là Tống Nho, thì kẻ nam nhi như thế là hỏng quá... Nhưng sức cuốn hút của thơ tình Nguyễn Bính chủ yếu không phải do thái độ thành thực giãi bày nỗi niềm "chín nhớ mười mong" hay do sự cãi lí cho tính phủ hợp quy luật của tình yêu nam nữ, đang biện hộ cho đạo lí nhân văn (không ít nhà thơ lãng mạn đương thời bộc lộ tình cảm yêu đương nhiều khi còn đắm đuối hơn (Ao ước - Tế Hanh), tinh tế hơn (Ngậm ngùi - Huy Cận) hoặc não lòng hơn: "Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ - Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ - Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá - Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ" (Trăng - Xuân Diệu)...), mà sức cuốn hút ấy chủ yếu là bởi những rung động của trái tim thi sĩ (thê hiện trong cấu tứ cũng như ở giọng điệu) dung hợp rất nhuần nhuyễn tính cách dân tộc.

   Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài nỗi nhớ mong ấy vẫn chưa được đền đáp. Chính bởi thế mà nó đã tạo được ra cái cớ để cho dòng tâm trạng của nhân vật trữ tinh được bộc lộ một cách tha thiết và sâu sắc.

2. Câu 2 trang 50 SGK Văn 11

   Nét chủ yếu của tính cách dân tộc trong bài Tương tư chính là khuynh hướng cấu tứ khái quát mang ý nghĩa về độ: "chín nhớ mười mong" dài theo ngày tháng, dẫu biệt vô âm tín vẫn tiếp tục đợi chờ: "Bao giờ bến mới gặp đò", với niềm hi vọng xa vời. "Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?"...; và chỉ đến mức ấy thôi, chứ không phải kiểu phản ứng quyết liệt. "Rồi anh chết, anh chết sầu chết héo - Linh hồn anh thất theo dõi hồn em... " như chàng lãng mạn trong bài Ao ước của Tế Hanh - ý tứ cực đoan này phải chăng chỉ phù hợp với tâm lí một số độc giả thành thị. Phong cách cấu tứ thơ tình yêu với các mức độ tình cảm phù hợp dân tộc tính như vậy đã xuất hiện trong hầu hết những bài thơ khác của Nguyễn Bính. Những nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính (người thật việc thật hoặc hư cấu, khách thể hoặc chủ thể) dẫu có lâm vào trạng huống yêu đơn phương, tình tuyệt vọng... đều ứng xử có chừng mực: một chàng trai bị người yêu thờ ơ, chỉ than thở: "Tinh tôi mở giữa mùa thu - Tinh em lẳng lặng kín như buồng tằm" (Đêm cuối cùng); một cô gái bị lỗi hẹn cũng nhẫn nại đợi chờ: "Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày - Bao giờ em mới gặp anh đây" (Mưa xuân); anh lái đò kia thất tình phẫn chí định bỏ nghề, nhưng rồi lại thôi: "Lang thang anh dạm bán thuyền - Có người trả chín quan tiền lại thôi" (,Anh lái đò); một chàng thất tình khác oán hờn mà chẳng nặng lời: "Em đã sang ngang với một người - Anh còn trồng cải nữa hay thôi? - Đêm qua mơ thấy hai con bướm - Khép cánh tình chung ở giữa trời" (Hết bướm vàng); đau đớn hơn: người yêu yểu mệnh, nhưng nỗi đau ấy đã hòa tan cùng mộng ảo: "Đêm qua nàng đã chết rồi - Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng -  Hồn trinh còn ở trần gian - Nhập vào bướm trắng mà sang bên này" (Người hàng Jfóm)...; và trước thái độ quá thờ ơ của cô gái hái mơ, khách đa tình cũng chỉ trách móc mơ màng:

   Cô hái mơ ơi, cô gái ơi

   Chả trả lời nhau lấy một lời

   Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

   Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi...

(Cô hái mơ)

   Đặc điểm dân gian, dân tộc ấy trong cấu tứ khiến những bài thơ tình Nguyễn Bính, trước và sau 1945 dễ dàng tìm được sự đồng cảm và tiếp đón hào hứng của một số lượng độc giả lớn (thành phố và tỉnh nhỏ, thành thị và nông thôn,...) mà có lẽ chưa nhà thơ lãng mạn nào đạt được.

3.  Câu 3 trang 50 SGK Văn 11

   Lời nhận định của Hoài Thanh rằng trong thơ Nguyễn Bính có "hồn xưa đất nước" rất đúng với bài Tương tư. Nhà thơ này yêu thôn quê một cách kì lạ, cái tình yêu ấy làm cho thơ ông, ở những câu bình dị nhất, vẫn có sức lôi cuốn, vẫn có cái duyên xao động lòng người:

   Báo rằng cách trở đò ngang,

   Không sang là chẳng đường sang đã đành.

   Nhưng đây cách một đầu đình,

   Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

   Dưới mắt ông, những cảnh sắc thông thường ở thôn quê cũng rất gợi cảm, đâu chỉ ánh trăng mới đẹp, mà cảnh mưa phùn gió bấc, hoa xoan, đường lầy hay nắng lửa trưa hè vẫn cứ làm ta xúc động, nhớ thương. Đó là tài năng của ông. Giọng ông vừa cất lên, người ta đã nhận ngay ra hình bóng quê hương làng mạc. Cách ăn nói nghĩ ngợi của bà con làng xóm đã thấm vào Nguyễn Bính. Nhiều khi không hẳn là nghĩa chữ, ý câu mà chỉ bằng cái giọng nói, cái cách nói, Nguyễn Bính đã gửi gắm, giao hoà tâm hồn chúng ta vào trong hồn của quê hương dân dã.

   "Hương đồng gió nội" trong thơ Nguyễn Bính sáng tác trước 1945, được đông đảo độc giả mến mộ dài lâu. Hiện tượng ấy khiến chúng ta nhớ lại điều dự báo có sức khái quát của tác giả Thi nhân Việt Nam 50 năm trước: "Nếu các thi nhân ta đủ sức chân thành để thừa hưởng di sản xưa, nếu họ biết tìm đến thơ xưa với một tấm lòng trẻ, họ sẽ phát huy được những gì vĩnh viễn hơn, sâu sắc hơn mà bình dị hơn nòi giống. Nhất là ca dao sẽ đưa họ về với dân quê, nghĩa là với chín mươi phần trăm số người trong nước. Trong nguồn sống dồi dào và mạnh mẽ ấy, họ sẽ tìm ra những vần thơ khống phải chỉ dành riêng cho chúng ta, một bọn người có học mới, mà có thể làm nao lòng hết thảy người Việt Nam".

loigiaihay.com

Đọc hiểu Tương tư Đọc hiểu Tương tư

I - Gợi dẫn 1. Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Thiện Vịnh (nay thuộc xã Cộng Hoà), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Xem chi tiết
Soạn bài Chữ người tử tù - Ngắn gọn nhất Soạn bài Chữ người tử tù - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 11 ngắn gọn tập 1 bài Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân. Câu 1: - Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra tình huống truyện độc đáo:

Xem chi tiết
Soạn bài Chữ người tử tù Soạn bài Chữ người tử tù

Soạn bài Chữ người tử tù - Ngữ văn 11. Câu 2. Phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng Huấn Cao. Qua nhân vật Huấn Cao, anh (chị) có nhận xét gì về quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp.

Xem chi tiết
Đọc hiểu văn bản Chữ người tử tù Đọc hiểu văn bản Chữ người tử tù

1. Nguyễn Tuân (1910 – 1987) quê làng Mọc, huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, là nhà văn có tài năng và tài hoa đặc biệt của văn học Việt Nam

Xem chi tiết
Phân tích cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân Phân tích cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Khi nhắc tới lối văn chương luôn khát khao hướng tới chân-thiện-mĩ, người ta thường nhắc tới Nguyễn Tuân- một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông được đánh giá là một trong những cây bút tài hoa nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Xem chi tiết
Phân tích nhân vật Chí Phèo qua truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao Phân tích nhân vật Chí Phèo qua truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao

Chí Phèo đã bị cả xã hội ruồng bỏ. Cái thẻ có biên tên tuổi hắn cũng không có trong sổ làng, người ta vẫn khai hắn vào hạng dân lưu tán, lâu năm không về làng. Tất cả dân làng đều sợ hắn

Xem chi tiết
Phân tích tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống Phân tích tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống

Chí Phèo rơi vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng, mọi hi vọng cho một tương lai “làm người” bỗng chốc hóa thành mây khói

Xem chi tiết
Phân tích truyện Chí Phèo của Nam Cao Phân tích truyện Chí Phèo của Nam Cao

Chí Phèo là câu chuyện về đoạn cuối cuộc đời của một con người trong xã hội thực dân phong kiến diễn ra và được ghi lại bởi Nam Cao (1917 — 1951), một ngòi bút bậc thầy cách nay đã hơn sáu mươi năm.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến Lớp 11 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu

Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng