Soạn văn 11, ngữ văn 11 kết nối tri thức với cuộc sống Bài 2: Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình

Soạn bài Giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật SGK Ngữ văn 11 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn


Trình bày phân tích tác phẩm Tràng giang của Huy Cận về khía cạnh cấu tứ, hình ảnh và giá trị tạo hình.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 11 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh


Đề bài

Trình bày phân tích tác phẩm Tràng giang của Huy Cận về khía cạnh cấu tứ, hình ảnh và giá trị tạo hình.

Phương pháp giải - Xem chi tiết

Dựa vào bài viết chi tiết và kĩ năng đã được học

Lời giải chi tiết

Bài tham khảo 1:

Chào thầy/ cô và các bạn,

Như chúng ta đã biết, con người luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh, các nhà thơ trong phong trào Thơ mới cũng vậy, hoàn cảnh đã đưa họ tiếp cận với những vần thơ sâu sắc, chứa chan tình yêu nước sâu đậm. Tiêu biểu trong đó ta phải kể đến đó là nhà thơ Huy Cận với tác phẩm Tràng giang - một tác phẩm hay, ý nghĩa về tấm lòng của một con người luôn nặng lòng vì nước thể hiện qua cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ. 

Bài thơ được gợi cảm hứng từ một buổi chiều thu bên bến Chèm, chàng thi sĩ đứng cạnh dòng nước, ngắm nhìn đất trời cảnh vật mà “tức cảnh sinh tình”. Nguồn cảm hứng đó ta có thể thấy rõ qua câu đề từ của bài thơ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Câu đề từ gợi ra một không gian rộng lớn nơi con người chan chứa cảm xúc bâng khuâng khó tả. 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Hình ảnh đầu tiên xuất hiện là hình ảnh con sóng nhấp nhô trùng trùng, điệp điệp. Con sóng tầng tầng, lớp lớp ấy kéo theo là nỗi buồn của nhân vật trữ tình, nhìn sóng nước như nhìn thấy nỗi buồn trong lòng mình. Cùng với đó là hình ảnh con thuyền lênh đênh trên sông gợi liên tưởng về một kiếp người nghèo khổ, nay đây mai đó, không biết đi đâu về đâu. Trong thơ Đường, ta đã từng bắt gặp hình ảnh con thuyền và dòng sông đầy ám ảnh, trĩu nặng cái tình của người đưa tiễn:

Cô phàm viễn cảnh bích không tận

Duy kiến Trường giang thiên tế lưu

(Lí Bạch)

Con thuyền dường như trở lên nhỏ bé lạ thường kết hợp với hình ảnh cành củi bị cuốn theo dòng nước càng tô đậm thêm sự nhỏ bé của sự vật hay chính là một kiếp người nào đó trong xã hội. 

Sang đến khổ thơ thứ hai, ta bắt gặp hình ảnh khái quát toàn bộ khung cảnh sông nước thể hiện hiện qua 4 câu thơ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

Đến đây, khung cảnh trở lên thật tĩnh lặng, vắng vẻ, gợi lên một nỗi buồn thầm kín, khó tả. Các từ láy “lơ thơ”, “chót vót”, “đìu hiu” gợi lên cảm nhận về một sự xa xăm, sự vắng lặng lạ thường, nhỏ bé của con người so với vũ trụ bao la. Gió hiu hiu thổi trên cồn cát vắng bóng của sự sống con người, sự vật, con người thật nhỏ bé, vô định trước sự rộng lớn của vũ trụ. Và không gian cứ mở rộng, con người lại càng cô đơn, nhỏ bé và buồn tủi trước thiên nhiên rộng lớn. Để rồi, sự cô quạnh, lạnh lẽo ấy khiến tác giả phải thốt ra thành lời khiến người đọc không khỏi buồn lây mà cảm thán: 

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Hình ảnh bèo dạt đã nhiều lần xuất hiện trong thơ ca, nhưng ở đây nó lại thấm thía sự chia ly, gợi lên sự nhỏ bé, mong manh của kiếp người giữa dòng đời. Hình ảnh bèo nối hàng gợi cảm nhận về những kiếp người chìm nổi trong xã hội, họ vẫn ở đó và ngày càng khổ đau hơn. “Không một chuyến đò ngang” đã thể hiện sự vắng bóng, thiếu sự gắn kết với con người. Cảnh vật càng trở lên hoang vắng, mênh mông đến tận cùng như nỗi buồn của con người. Trên nền không gian ấy, hình ảnh bãi vàng vẫn hiện lên, tô điểm thêm bức tranh đồng thời cũng tô đậm thêm sự thiếu sức sống, vắng lặng của cảnh vật hoang tàn. Phải chăng bởi lòng người u buồn khiến cho cảnh vật chẳng thể đẹp mà cũng nặng trĩu tâm tư của nhân vật trữ tình?

Để rồi khổ cuối càng bộc lộ rõ tâm tư, tình cảm của tác giả:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dờn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Hình ảnh cánh chim và đám mây tiếp tục tô điểm thêm cho bức tranh thiên nhiên vũ trụ rộng lớn, cô quạnh. Sự hùng vĩ của cảnh sắc của những đám mây lớp lớp nối tiếp nhau cũng cánh chim đang bay về tổ ấm báo hiệu hoàng hôn hôn đang buông xuống. Sự tương phản giữa cánh chim và bầu trời càng làm nổi bật lên sự tồn tại nhỏ bé như kiếp người, cũng nhỏ bé và vô định giữa đất trời rộng lớn. Bởi vậy lòng người chỉ càng thêm tịch mịch và u buồn. Nỗi buồn về kiếp người, về nỗi nhớ quê hương tha thiết của một con người nơi đất khách quê người đang tức cảnh sinh tình, bộc lộ nỗi lòng của mình. 

Tóm lại, Tràng giang là một bài thơ đặc sắc cả về cấu tứ thơ cũng như các hình ảnh được sử dụng. Không chỉ thể hiện được sự tài hoa trong sáng tác thơ của Huy Cận mà nó còn làm nổi bật lên tâm tư, tình cảm trĩu nặng nỗi buồn và niềm mong nhớ về quê hương của tác giả. Cùng với đó, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại đã tạo nên một thi phẩm độc đáo về tình yêu quê hương, đất nước con người ẩn chứa trong nỗi buồn thầm kín của một con người đa sầu, đa cảm như Huy Cận. Đến đây, phần trình bày của em xin kết thúc, cảm ơn thầy/ cô và các bạn đã lắng nghe! 

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Kính thưa thầy/cô và các bạn,

Hôm nay, em xin trình bày về một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới – bài thơ “Tràng giang” của nhà thơ Huy Cận.

Thời đại Thơ mới của Việt Nam là giai đoạn rực rỡ với sự xuất hiện của nhiều thi nhân lớn, mỗi người mang một thế giới tâm hồn riêng biệt. Xuân Diệu nồng nàn, say đắm với khát vọng tình yêu cháy bỏng; Chế Lan Viên trăn trở trên hành trình đi tìm bản ngã; Hàn Mặc Tử phiêu du giữa thực và mộng. Và trong dòng chảy ấy, Huy Cận hiện lên như một tiếng nói trầm buồn, mang nỗi cô đơn sâu thẳm của con người trước không gian vũ trụ bao la.

Thơ Huy Cận giàu tính hàm súc, thấm đẫm chất triết lý và những suy tưởng miên man về cuộc đời. “Tràng giang” là một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất, kết tinh rõ nét phong cách nghệ thuật cũng như thế giới nội tâm của ông. Bài thơ được sáng tác vào tháng 9 năm 1939, khi nhà thơ còn rất trẻ, trong một buổi chiều đứng trước dòng sông Hồng mênh mang. Từ cảnh thực, cảm xúc dâng trào, tạo nên một bản nhạc buồn kéo dài vô tận về nỗi cô đơn và nỗi sầu nhân thế.

Nhan đề “Tràng giang” mang âm hưởng Hán – Việt cổ kính, trang trọng, gợi mở một không gian rộng lớn, vừa cụ thể lại vừa mang tính biểu tượng. Âm “ang” vang xa, ngân dài, như kéo giãn cả không gian lẫn cảm xúc, khiến nỗi buồn dường như lan tỏa không có điểm dừng. So với tên gọi ban đầu “Chiều bên sông”, nhan đề mới không chỉ giàu tính tạo hình mà còn nâng tầm ý nghĩa, đưa bài thơ vượt ra khỏi một khung cảnh cụ thể để chạm tới chiều sâu tâm trạng.

Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” có thể xem như chìa khóa mở ra toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Ở đó, cảnh và tình hòa quyện: thiên nhiên thì vô tận, còn nỗi nhớ, nỗi buồn cũng kéo dài không cùng. Chính sự cộng hưởng ấy đã tạo nên sắc thái chủ đạo cho toàn bài – một nỗi sầu mang tầm vóc không gian.

Ngay từ khổ thơ đầu, bức tranh sông nước đã nhuốm màu tâm trạng:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Từ láy “điệp điệp” không chỉ gợi những lớp sóng nối tiếp nhau mà còn gợi những lớp buồn chồng chất, lan xa vô tận. Cảnh vật tuy tĩnh lặng nhưng lại ẩn chứa một nhịp vận động âm thầm của nỗi sầu. Hình ảnh “con thuyền xuôi mái” gợi sự buông trôi, phó mặc, càng làm nổi bật cảm giác vô định. Đặc biệt, sự chia lìa trong câu “thuyền về nước lại” đã mở ra “sầu trăm ngả” – nỗi buồn không còn cụ thể mà trở nên phân tán, lan rộng khắp không gian.

Hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” là một sáng tạo độc đáo, vừa hiện thực vừa giàu tính biểu tượng. Không còn là những hình ảnh ước lệ quen thuộc như bèo hay hoa trôi, cành củi khô mang đến cảm giác khô héo, vô định, gợi liên tưởng đến thân phận nhỏ bé, lạc lõng của con người giữa dòng đời rộng lớn.

Sang khổ thơ thứ hai, không gian được mở rộng hơn nhưng nỗi buồn cũng vì thế mà thêm sâu lắng:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Những từ ngữ như “lơ thơ”, “đìu hiu” đã khắc họa rõ nét vẻ vắng vẻ, tiêu điều của cảnh vật. Âm thanh con người – dấu hiệu của sự sống – cũng trở nên mơ hồ qua câu hỏi “Đâu tiếng làng xa…”. Từ “đâu” mang tính nước đôi, vừa như một sự tìm kiếm mong manh, vừa như một phủ định đầy hụt hẫng, càng làm nổi bật sự trống vắng đến tuyệt đối.

Hai câu thơ sau mở ra một không gian ba chiều: cao – sâu – rộng. “Nắng xuống, trời lên” tạo cảm giác chia tách, đẩy không gian ra xa nhau đến mức “sâu chót vót” – một cách diễn đạt giàu tính sáng tạo. Trong không gian ấy, con người dường như biến mất, chỉ còn lại “bến cô liêu” – điểm tụ của nỗi cô đơn.

Như vậy, qua từng lớp cảnh, Huy Cận không chỉ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên rộng lớn mà còn gửi gắm vào đó nỗi buồn mang tính thời đại: nỗi cô đơn của cái tôi cá nhân trước vũ trụ bao la và trước chính cuộc đời mình. “Tràng giang” vì thế không chỉ là một bài thơ tả cảnh mà còn là một bản độc tấu của tâm hồn, vang lên âm hưởng buồn sâu lắng và ám ảnh.

Trên đây là phần trình bày của em. Em xin chân thành cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe!

Kính thưa thầy cô và các bạn

Hôm nay, em xin trình bày về một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới – bài thơ “Tràng giang” của nhà thơ Huy Cận.

Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi bật với phong cách thơ giàu chất suy tưởng và thấm đẫm màu sắc triết lý. Thơ ông thường hướng tới sự giao cảm giữa con người và vũ trụ, qua đó bộc lộ nỗi cô đơn sâu kín của cái tôi trước không gian rộng lớn. “Tràng giang” là một thi phẩm xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật ấy, đồng thời thể hiện rõ nét tâm trạng buồn thương và nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ.

Ngay từ lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, Huy Cận đã khái quát toàn bộ cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Không gian “trời rộng”, “sông dài” gợi sự vô tận, còn “bâng khuâng” lại diễn tả trạng thái cảm xúc mơ hồ, lan tỏa. Cảnh và tình hòa quyện, mở ra một thế giới vừa rộng lớn vừa thấm đẫm nỗi buồn.

Khổ thơ đầu là bức tranh sông nước mênh mang, đồng thời cũng là sự khởi đầu của dòng cảm xúc:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Hình ảnh “sóng gợn” kết hợp với từ láy “điệp điệp” không chỉ gợi những lớp sóng nối tiếp mà còn gợi nỗi buồn chồng chất, kéo dài vô tận. Giữa không gian ấy, con thuyền “xuôi mái” hiện lên nhỏ bé, buông trôi, càng làm tăng cảm giác vô định. Đặc biệt, hình ảnh “thuyền về nước lại” gợi sự chia lìa, tạo nên “sầu trăm ngả” – nỗi buồn lan tỏa khắp không gian. Câu thơ “củi một cành khô lạc mấy dòng” là một sáng tạo độc đáo: cành củi khô nhỏ bé, trôi dạt vô định như thân phận con người lạc lõng giữa dòng đời.

Sang khổ thơ thứ hai, không gian được mở rộng nhưng lại càng trở nên vắng lặng, hiu quạnh:

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng bến cô liêu

Âm thanh “tiếng làng xa” xuất hiện nhưng mơ hồ, không rõ thực hay hư. Từ “đâu” vừa gợi sự tìm kiếm, vừa như một sự phủ định, khiến không gian càng thêm trống vắng. Hình ảnh “nắng xuống, trời lên” tạo nên sự đối lập, mở ra chiều sâu không gian “chót vót”. Trong cái mênh mông ấy, “bến cô liêu” trở thành điểm nhấn, kết tinh nỗi cô đơn của con người trước vũ trụ.

Khổ thơ thứ ba tiếp tục khắc sâu cảm giác chia lìa và thiếu vắng sự kết nối:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Hình ảnh “bèo dạt” gợi kiếp người trôi nổi, vô định. Điệp từ “không” được lặp lại hai lần nhấn mạnh sự thiếu vắng hoàn toàn những phương tiện kết nối: không đò, không cầu. Không gian vì thế trở nên xa cách, lạnh lẽo, thể hiện nỗi khát khao được giao cảm với cuộc đời nhưng lại rơi vào cô đơn, bế tắc.

Đến khổ thơ cuối, bức tranh thiên nhiên chuyển sang chiều cao của vũ trụ, đồng thời dồn tụ cảm xúc vào nỗi nhớ quê hương:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Hình ảnh “mây đùn núi bạc” gợi sự hùng vĩ nhưng cũng chất chứa nỗi buồn tích tụ. Cánh chim nhỏ bé giữa “bóng chiều sa” càng làm nổi bật sự cô đơn. Đặc biệt, hai câu thơ cuối là điểm kết tinh cảm xúc: từ láy “dợn dợn” diễn tả nỗi nhớ quê âm ỉ, lan tỏa không ngừng. Nếu trong thơ cổ, nỗi nhớ thường gắn với “khói hoàng hôn”, thì ở đây, Huy Cận khẳng định: không cần ngoại cảnh tác động, nỗi nhớ quê vẫn tự thân dâng lên tha thiết.

Như vậy, “Tràng giang” không chỉ là bức tranh thiên nhiên rộng lớn mà còn là bản hòa âm của nỗi buồn và nỗi cô đơn mang tính thời đại. Qua đó, Huy Cận thể hiện một cái tôi nhạy cảm, luôn khao khát hòa nhập với cuộc đời nhưng lại cảm thấy lạc lõng giữa không gian vô tận. Chính chiều sâu cảm xúc và giá trị nghệ thuật ấy đã làm nên sức sống lâu bền cho thi phẩm trong lòng người đọc.

Trên đây là phần trình bày của em. Em xin chân thành cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe!

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 11 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Group 2K9 Ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...