Soạn văn 11, ngữ văn 11 kết nối tri thức với cuộc sống Bài 7: Ghi chép và tưởng tượng trong kí

Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông SGK Ngữ văn 11 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn


Bạn có kỉ niệm gì với dòng sông bạn từng biết? Hãy chia sẻ ấn tượng của bạn về hình ảnh một dòng sông được tái hiện trong tác phẩm văn học hoặc các loại hình nghệ thuật khác (âm nhạc, hội họa, điện ảnh…)


Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Trước khi đọc 1

Câu 1 (trang 35, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Bạn có kỉ niệm gì với dòng sông mà bạn từng biết?

Phương pháp giải:

Dựa vào hiểu biết của bản thân để trả lời câu hỏi này. 

Lời giải chi tiết:

Em đã từng có nhiều kỷ niệm gắn với dòng sông quê em – nơi em sinh ra và lớn lên. Nó gắn liền với những năm tháng tuổi thơ hồn nhiên, vui tươi. Đó là những ngày hè nóng nực, em cùng lũ bạn đi tắm sông, câu cá… Đó là một phần kỷ niệm rất tuyệt vời đối với em. 

Xem thêm cách soạn khác

Trước khi đọc 2

Câu 2 (trang 35, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hãy chia sẻ ấn tượng của bạn về hình ảnh một dòng sông được tái hiện trong tác phẩm văn học hoặc các loại hình nghệ thuật khác (âm nhạc, hội họa, điện ảnh…) 

Phương pháp giải:

Dựa vào hiểu biết của bản thân để trả lời câu hỏi này.

Lời giải chi tiết:

Em rất ấn tượng với hình ảnh sông Đà hiện nên trong tác phẩm Người lái đò sông Đà. Bởi đó là một con sông rất đỗi hùng vĩ, dữ dội, thể hiện rõ vẻ hoang dã, huyền bí của thiên nhiên cảnh vật Tây Bắc.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 1

Câu 1 (trang 35, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hình ảnh sông Hương ở thượng nguồn. 

Phương pháp giải:

  Chú ý vào đoạn đầu của tác phẩm. 

Lời giải chi tiết:

- Sông Hương mang vẻ đẹp phóng khoáng, hoang dại, đầy bản lĩnh

- Sông Hương cũng mang dáng vẻ thơ mộng, trữ tình 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 2

Câu 2 (trang 35, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Nét độc đáo trong cách ví von, so sánh. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào nghệ thuật được tác giả sử dụng. 

Lời giải chi tiết:

Tác giả sử dụng hài hòa biện pháp so sánh, so sánh hình ảnh sông Hương với những trạng thái khác nhau bằng những hình ảnh rất đặc trưng và sáng tạo như ví von sông Hương như “một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, hay vẻ hoang dại như “cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”…

→ Làm nổi bật được vẻ đẹp hoang dại, sức sống mãnh liệt, đầy cá tính của dòng sông Hương xứ Huế. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 3

Câu 3 (trang 36, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Hình ảnh sông Hương khi ra giữa đồng bằng ở ngoại vi thành phố Huế. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào đoạn tiếp theo 

Lời giải chi tiết:

- “người con gái nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa”

- “uốn mình theo những đường cong thật mềm”

- dòng sông chuyển hướng liên tục tạo dáng vẻ thướt tha, yểu điệu của người thiếu nữ

- “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”

- … 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 4

Câu 4 (trang 36, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Đề bài:  Hình ảnh sông Hương trong lòng thành phố Huế. 

Phương pháp giải:

  Chú ý vào đoạn miêu tả hình ảnh sông Hương trong lòng thành phố Huế. 

Lời giải chi tiết:

- “sông Hương vui tươi hẳn lên giữ những bãi xanh biếc của vùng…”

- “những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố thị…”

- “… sông Hương khi trôi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 5

Câu 5 (trang 37, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Đề bài:  Cách đối sánh để làm nổi bật nhịp chảy đặc biệt của sông Hương. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào thủ pháp nghệ thuật của tác giả 

Lời giải chi tiết:

Tác giả so sánh điệu chảy lặng lờ của sông Hương như đang vấn vương một nỗi lòng.

Nổi bật trên đó là hình ảnh một dòng chảy lững lờ, chầm chậm trôi khiến người nhìn tưởng chừng như dòng sông đang mang theo một tâm trạng nào đó, là nỗi tương tư hay buồn thương, nhung nhớ. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 6

Câu 6 (trang 38, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Đề bài:  Sự gắn bó của sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào đoạn văn tiếp theo. 

Lời giải chi tiết:

- “toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong những khoang thuyền, giữa tiếng nước rơi bán âm của mái chèo khuya…”

→ tất cả để khẳng định cái hồn của âm nhạc cổ điển Huế ngày từ khi ra đời nó đã gắn chặt với dòng sông Hương thơ mộng.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 7

Câu 7 (trang 39, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Sông Hương trong dòng chảy lịch sử. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào đoạn tử “Hiển nhiên là sông… khuôn mặt thực của dòng sông…” 

Lời giải chi tiết:

Sông Hương – như một nhân chứng sống của lịch sử dân tộc, luôn đồng hành cùng với nhân dân ta cả trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc. 

Xem thêm cách soạn khác

 

Trong khi đọc 8

Câu 8 (trang 39, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Sông Hương trong cảm hứng của các nhà thơ. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào đoạn văn tiếp theo.

Lời giải chi tiết:

Sông Hương đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho mỗi nhà thơ khi có dịp được ghé qua đây từ Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan đến tâm hồn thơ mới đầy trong trẻo của Tố Hữu… 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 40, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Những đặc tính tự nhiên nào của sông Hương đã được tác giả chú ý làm nổi bật trong văn bản? Hãy chỉ ra các đoạn tiêu biểu nói về từng đặc tính của sông Hương. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào trạng thái của sông khi thay đổi địa hình

Lời giải chi tiết:

- Thượng nguồn: sông Hương được miêu tả với vẻ đẹp hoang dại, mãnh liệt và mạnh mẽ.

+ cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn

+ như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại

+ Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự được sức mạnh bản năng của người con gái của mình để khi ra khỏi rừng…

- Ngoại vi thành phố, giữa các đồng bằng châu thổ: sông Hương mang dáng vẻ yểu điệu, quyến rũ của một người thiếu nữ nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa

+ “người con gái nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa”

+ “uốn mình theo những đường cong thật mềm”

+ dòng sông chuyển hướng liên tục tạo dáng vẻ thướt tha, yểu điệu của người thiếu nữ

+ “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”

- Trong lòng thành phố: sông Hương mang dáng vẻ nhẹ nhàng, lững lờ trôi

+ như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long

+ nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vầng trăng non.

+ con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi qua thành phố… như những vấn vương của một nỗi lòng. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 40, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Với Ai đã đặt tên cho dòng sông?, tác giả đã nhìn sông Hương như con người có tính cách, tình cảm riêng. Hãy tìm đọc trong đoạn trích một số chi tiết thể hiện điều đó và phân tích nét độc đáo của nghệ thuật so sánh, nhân hóa đã được nhà văn sử dụng.

Phương pháp giải:

Chú ý vào những hình ảnh chỉ trạng thái của sông Hương.

Lời giải chi tiết:

- sông Hương đã sống nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại

→ Đó là vẻ đẹp thuần túy của thiên nhiên, sự thuần khiết của tự nhiên. Đó là một vẻ đẹp thuần nguyên, vẻ đẹp không pha lẫn tạp chất.

- người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại.

→ Cái sự hoang dã, man dại khi nãy dường như biến mất, cảnh vật thơ mộng xung quanh đã bào mòn đi vẻ đẹp nguyên thủy của sông Hương mà thay vào đó là dáng vẻ yểu điệu của một người thiếu nữ. 

- sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long

→ Đó là cảm xúc của một người lâu ngày xa quê, được gặp lại bạn bè, cảnh vật quen thuộc khiến nó vui vẻ, phấn khởi hẳn lên. Để rồi khi vào trong lòng thành phố, sông Hương mang dáng vẻ tĩnh lặng, lững lờ trôi qua từng ngóc ngách, nhánh nhỏ của thành phố. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Trong cảm nhận của tác giả, sông Hương có sự gắn bó như thế nào với thành phố Huế? Phân tích một số hình ảnh, chi tiết làm rõ mối quan hệ đặc biệt này. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào những hình ảnh gắn dòng sông với thành phố Huế. 

Lời giải chi tiết:

Trước hết phải kể đến đó là hình ảnh dòng sông gặp thành phố. Như một người con tìm được đường về nhà, sông Hương gặp được thành phố như gặp được bến đỗ của đời mình, nó mừng rỡ, vui vẻ đón nhận. 

Không chỉ vậy, sông Hương cũng gắn liền với nhã nhạc cung đình Huế - một nghệ thuật âm nhạc nổi tiếng nơi xứ Huế. Cả hai như hòa quyện làm một khiến người tham gia thưởng ngoạn phải chìm đắm, hòa mình vào sự yên bình đến lạ thường ấy. Đó chính là vẻ đẹp gắn với âm nhạc cổ điển Huế của sông Hương

Cuối cùng, đó là sự gắn bó hàng nghìn năm như máu thịt của sông Hương với thành phố, là sự keo sơn bền chặt, vui buồn có nhau.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Trong văn bản, có hai phương diện đáng chú ý: những thông tin khách quan về sông Hương và cảm xúc về con sông này. Theo bạn, nội dung nào nổi trội hơn? Cơ sở nào giúp bạn xác định như vậy? 

Phương pháp giải:

Chú ý vào 2 phương diện đáng chú ý đó

Lời giải chi tiết:

Theo em, phương diện nổi trội hơn đó là cảm xúc về con sông. Bởi trong suốt tác phẩm, bên cạnh những thông tin khách quan về con sông mà tác giả có được như về địa lý, dòng chảy, hướng chảy… thì ông luôn đem đến những sự so sánh, lý von, liên tưởng mới mẻ về sông Hương, từ thượng nguồn cho đến hạ lưu của sông.

Hơn nữa, những sự ví von, nhân hóa mà tác giả sử dụng đều hết sức mới mẻ và đúng hoàn cảnh nên nó đã tạo nên điểm nhấn của tác phẩm.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Kiến thức văn hóa tổng hợp đã được tác giả huy động như thế nào khi viết bài tùy bút về sông Hương? Mục đích của việc huy động kiến thức đó là gì?

Phương pháp giải:

Chú ý vào phần miêu tả con sông 

Lời giải chi tiết:

Không quá phô trương và sa đà trong việc nói về những kiến thức về khoa học, địa lý, ông luôn đan xen những câu văn bày tỏ cảm xúc, cùng những sự ví von tinh tế của mình.

Bằng cách vận dụng kiến thức linh hoạt như vậy, ông muốn gửi gắm đến người đọc một hình ảnh sông Hương hoàn toàn độc đáo, đẹp đẽ với vẻ yểu điệu của thiếu nữ, vẻ hoang dại của cô gái Di-gan… Đó chính là phần hồn của dòng sông Hương đã được tác giả khám phá, ghi nhận và truyền tải đến người đọc. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 6

Câu 6 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Nêu cảm nhận của bạn về ý nghĩa nhan đề bài tùy bút. Cách đặt nhan đề của tác giả có gì đáng chú ý. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào nhan đề của tác phẩm. 

Lời giải chi tiết:

Cách đặt tên nhan đề đó của tác giả hết sức độc đáo, nó vừa là một câu hỏi tu từ, vừa là một câu hỏi khẳng định .

- Nhan đề đó nhằm mục đích khơi dậy những khát vọng, niềm tự hào của con người khi muốn mang cái đẹp gây dựng, vun đắp cho văn hóa, lịch sử của xứ Huế.

- Không những vậy, cách đặt nhan đề như vậy của tác giả đã khơi dậy sự tò mò, trí tưởng tượng trong lòng người đọc. 

- Đó là một cách dẫn đầy độc đáo, sáng tạo và mới mẻ mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc trước khi đưa họ đến với sông Hương thơ mộng nơi xứ Huế. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 7

Câu 7 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Phân tích một số yếu tố nghệ thuật mà bạn cho là đặc sắc trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?. 

Phương pháp giải:

Chú ý vào các biện pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng trong xuyên suốt tác phẩm 

Lời giải chi tiết:

- Nghệ thuật sử dụng hình ảnh, từ ngữ tinh tế: tác giả đã kết hợp linh hoạt, sáng tạo chất khoa học và chất văn học. Sử dụng cả nhưng câu văn miêu tả khách quan về dòng sông và cả những câu văn thể hiện rõ cái chất văn học lãng mạn trữ tình của tác giả. 

- Sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…: làm nổi bật nên một hình ảnh dòng sông thay đổi trạng thái một cách uyển chuyển mà nó còn thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc, sự yêu mến của tác giả đối với dòng sông mang đậm chất trữ tình, sử thi này.

- Sức liên tưởng phong phú, vốn hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực: không chỉ am hiểu về lĩnh vực địa lý, dòng sông Hương thơ mộng ấy còn được nhân cách hóa như một người đồng chí, một đối tượng trữ tình của những người chiến sĩ, các nhà thơ từ xưa đến nay. 

Xem thêm cách soạn khác

Kết nối đọc - viết

Câu 1 (trang 41, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một hình ảnh độc đáo trong văn bản được tác giả sử dụng để làm nổi bật nét riêng của sông Hương. 

Phương pháp giải:

  Lựa chọn một hình ảnh độc đáo và phân tích. 

Lời giải chi tiết:

Cách 1 

Trong văn bản, hình ảnh em ấn tượng nhất là hình ảnh so sánh dòng sông như cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại. Đó là một hình ảnh rất sáng tạo và ấn tượng. Dòng sông ở thượng nguồn, nơi nước chảy mạnh mẽ, cuồn cuộn, đó là khởi đầu của một dòng sông Hương, là nguồn gốc nơi dòng sông bắt đầu nên nó mang theo một chút gì đó hoang dã như một con thú chưa được thuần phục, hoàn toàn tự nhiên và dữ dội. Nhưng qua lăng kính đầy lãng mạn của tác giả, dòng sông ấy không như một con thú hoang mà nó giống như một cô gái Di – gan – người luôn được miêu tả là phóng khoáng, tự do và man dại. Đúng vậy, đó chính là vẻ đẹp khởi nguyên của dòng sống, ở nơi nó sinh ra và chưa bị gò bó bởi bất cứ cái gì. Nó mang vẻ đẹp của núi rừng, sự man dại, hoang dã của thiên nhiên, đó là vẻ đẹp của tạo hóa, của một thứ với nguyên bản chất và giá trị của nó. Nhưng sự hoang dã của nó đã được nhân cách hóa lên, khiến nó trở nên đẹp đến lạ lùng. Đây có lẽ chính là một thành công lớn của tác giả khi có thể so sánh vẻ đẹp của tự nhiên với vẻ đẹp của con người. 

Xem thêm cách soạn khác

Xem thêm
Cách 2

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn có phong cách độc đáo và sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường được cấu tạo bởi hệ thống ngôn từ nghệ thuật sang trọng, ám ảnh, đậm chất trữ tình của cái tôi uyên bác, tài hoa. Sông Hương hiện ra qua sự kết hợp nhiều góc nhìn khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ địa lý, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật… “hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác”. Nhưng rồi cũng có những lúc sông Hương “trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Viết tùy bút, theo Nguyễn Tuân là “lối chơi độc tấu”, “mạch văn tràn chảy tùy theo cảm hứng”. Đặc trưng này xác đáng với những lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả về sông Hương. Nhà văn đã đưa người đọc đến những liên tưởng bất ngờ, khi ông so sánh “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Ông cho rằng sông Hương là đứa con của rừng già với một tâm hồn tự do và trong sáng, để rồi rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”. Hơn thế, sông Hương còn là dòng sông lịch sử, văn hoá, thơ ca, nghệ thuật. Nó đã là một phần trong đời sống tâm linh của người Huế trầm mặc, sâu sắc. Câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gợi lên trong miền tình cảm của bạn đọc nhiều băn khoăn về một dòng sông ngỡ là quá quen, hoá ra lại có nhiều bí ẩn cần được khám phá thêm. Có như vậy, chúng ta mới hiểu sâu sắc hơn về quê hương đất nước, tự hào hơn về giang sơn cẩm tú Việt Nam.

Xem thêm
Cách 2
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông
+

Ai đã đặt tên cho dòng sông

(trích)

Hoàng Phủ Ngọc Tường

[...] Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ em đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đay, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu tháu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chan núi Kim Phụng.

Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đày hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén ; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong du vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sùng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tám lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chi bé vừa bằng con thôi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lỗ xô ấy, là giác ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tảm đồ sộ toả lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong – Mãnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà…

Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngàn trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến ; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vàng” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như song Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét; song Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình ; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cừa cổ thụ toả vàng lá u sảm xuống những xóm thuyền xúm xít ; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô te xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi qua thành phố đã trôi đi chạm, thực chạm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Tôi đã đến Lê-nin-grát, có lúc đứng nhìn sông Nề va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân ; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng ; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích. Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đay, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại ; ôi, tôi muốn hoá làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển.

Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là He-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi quá nhanh”, thế vậy ! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố... Đáy là điệu slou tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.

Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya. Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiền trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều : “Trong như tiếng hạc bay qua – Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”... Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dạy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh !”

Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đay chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa em ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây ; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đáy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tụ, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ...”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian ; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.

[...] Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại. Thế kỉ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển. Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sau sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hoá của nó. “Các trung tâm lớn của chúng ta về lịch sử, văn hoá, học thuật và về chính quyền rất nhiều. Phải hiểu rằng Huế là một thành phố kết hợp tất cả những cái đó, giống như các thành phố Luân Đôn, Pa-rỉ và Béc-lin,... Một số trong các di sản đó đã bị phá huỷ lúc Thành Nội Huế bị ném bom. Không thể so sánh sự mất mát này với sự mất mát của một viện bảo tàng hay một thư viện ở Mĩ. Sự phá huỷ những di sản này cũng có tính chất giống như sự mất mát xảy ra đối với nền văn minh châu Âu khi một số công trình của nền văn minh Hi Lạp và La Mã cổ đại bị đổ nát vì các nhà thờ bị phá hoại”. Đó là sự đánh giá đày phẫn nộ của chính người Mĩ, Ra-pha-en Li-tao-ơ, Noóc-man U-phốp và nhóm giáo sư Đại học Coóc-nen, trong một tác phẩm khoa học đầy mùi thuốc nổ và hoá chất độc mang tên Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương. Tháng trước, tôi được dịp có mặt trong cuộc tiếp đón ở Thành uỷ Huế chào mừng đoàn đại biểu của Hội nghị tổng kết chiến tranh, tại thành phố. Thay mặt Quan uỷ Trung ương, đồng chí Đại tướng phát biểu : “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”... Đồng chí nói, đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cản của người già mắt ngán lệ ; và người nghe, tất cả đều lặng đi trong cảm xúc đột ngột của một lời thề.

Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nắng đem ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa, rất xưa : màu áo điều lục với loại vải vân thưa màu xanh chàm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ổn giấu khuôn mặt thực của dòng sông...

Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó : từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, “Dòng sông trắng – lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thướt mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát ; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khỏi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đay, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy. Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bằng khoảng :

– Ai đã đặt tên cho dòng sông ?

(Tóm tắt phần thứ hai : Những thành tựu khảo cổ học cho biết, nằm dưới lòng đất làng Thành Trung ngày nay, nơi ngã ba Sình, phía tả ngạn sông Hưng, những di tích của thành cổ Hoá Châu được xây dựng từ thời viễn cổ. Đây là một địa điểm có vị trí chiến lược quan trọng nơi biên giới phía Nam của nước Việt cổ, từng chứng kiến nhiều chiến công chống xâm lược rất oanh liệt của nhân dân ta qua nhiều triều đại phong kiến. Hoá ra sông Hương và thành phố Huế có cả một bề dày lịch sử hết sức oai hùng.

Tóm tắt phần thứ ba : Người làng Thành Trung có nghề trồng rau thơm. Ở đây có một huyền thoại kế rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi.

Ai đã đặt tên cho dòng sông ? Có lẽ huyền thoại trên đã giải đáp câu hỏi ấy chẳng

(Ai đã đặt tên cho dòng sông ?, NXB Thuận Hoá, Huế, 2002)

- Thu gọn

Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 11 - Kết nối tri thức - Xem ngay

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải