Soạn bài Những câu hát châm biếm

Bình chọn:
4.1 trên 89 phiếu

Giải bài bài Những câu hát châm biếm trang 51 SGK Ngữ Văn 7. Bài 2 nhại lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự.

Lời giải chi tiết

1: Bài 1 “giới thiệu” về “chú tôi” như thế nào? Hai dòng đầu có ý nghĩa gì? Bài này châm biếm hạng người nào trong xã hội?

Trả lời:

“Giới thiệu” về chú tôi để rêu rao cầu hôn, chân dung gồm mấy nét giễu cợt, mỉa mai như sau:

- “Hay tửu hay tăm”: nghiện rượu.

- “Hay nước chè đặc” nghiện chè đậm.

- “Hay nằm ngủ trưa” và ban ngày thì ước "những ngày mưa", ban đêm thì ước “đêm thừa trống canh”’, nghiện ngủ.

Như vậy, rõ ràng "chú tôi” là người có nhiều tật, đã rượu, chè lại còn thêm lười biếng. Thông thường, giới thiệu việc nhân duyên, người ta phải nói tốt. Nhưng đây thì ngược lại. Đó là cách nói ngược để châm biếm "chú tôi”.

Hai dòng đầu của bài ca vừa để bắt vần, vừa để chuẩn bị cho việc giới thiệu nhân vật. Đây là hiện tượng thường gặp trong các bài ca dao.

Bài này châm biếm hạng người vừa nghiện ngập vừa lười biếng trong xã hội.

2: Bài 2 nhại lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự.

Trả lời:

Bài 2 nhại lời thầy bói nói với người đi xem bói. Ở đây, lời của thầy bói là kiểu nói nước đôi, nói những chuyện hiển nhiên. Thế nhưng, thầy bói dùng cái trò ấu trĩ này để lường gạt những người nhẹ dạ cả tin. Bài ca dùng chính lời của thầy bói để nói ra bản chất của thầy bói. Đó là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” để gây cười, châm biếm sâu sắc.

Bài ca dao này phê phán những kẻ hành nghề mê tín, lừa bịp, lợi dụng sự non dạ của người khác để kiếm tiền. Đồng thời, nó cũng châm biếm những người mê tín mù quáng, thiếu hiểu biết như ông thầy bói dốt nát kia.

Bài ca dao có nội dung tương tự:

- Chập chập thôi lại cheng cheng,
Con gà trống thiến để riêng cho thầy.
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng!

3. Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài cao dao này phê phán, châm biếm cái gì?

Trả lời:

 Ý nghĩa tượng trưng của các con vật: Muốn hiểu được ý nghĩa tượng trưng của các con vật trong bài ca dao các em phải tìm hiểu các tục lệ, luật lệ của cuộc sống làng xã ngày xưa.

    + Con cò tượng trưng cho những người nông dân trong xã hội thân phận nhỏ bé.

    + Cà cuống là những kẻ có vai vế, địa vị trong làng xã như xã trưởng, lí trường

=> đến đám ma ngồi uống rượu say sưa.

    + Chim ri, chào mào là những kẻ tay chân của xã trưởng, lí trưởng như: cai lệ, lính lệ - kiếm chác chia phần.

    + Chim chích là anh mõ đi rao việc làng.

- Sự lí thú trong việc lựa chọn các con vật đóng vai:

    + Làm cho cảnh tượng trở nên sinh động lí thú. Một xã hội loài người được thực hiện ra qua xã hội của loài vật.

    + Mỗi con vật có những hành động và đặc trưng riêng đúng với hạng người mà nó đóng vai.

    + Ý nghĩa phê phán trở nên sâu sắc kín đáo.

- Nhận xét về cảnh tượng trong bài ca dao.

    + Cảnh tượng đó không phù hợp với đám tang - chủ yếu là từ phía nững người đến dự đám.

    + Gia đình nhà cò ở trong tình cảnh đáng thương thê thảm : cha mẹ cò chết rũ ở trên cây, cò còn lo lắng chuẩn bị mọi thứ cho đám tang – còn những kẻ khác thì lại tranh nhau đến để kiếm chác, chia phần, đánh chén một cách vô lối.

- Ý nghĩa phê phán của bài ca dao : Phê phán hủ tục ma chay vô lí làm khổ người dân.

4: Trong bài 4, chân dung “cậu cai” được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật châm biến của bài ca dao này?

Trả lời:

Trong bài 4 chân dung “cậu cai” được miêu tả với những nét như sau:

- Đầu đội “nón dấu đuôi gà": chi tiết này chứng tỏ cậu cai là lính và chứng tỏ cũng là người có “quyền hành”.

- “Ngón tay đeo nhẫn”: chi tiết này cho thấy cậu cai có vẻ cố làm thêm ra dáng.

- Thế nhưng, áo quần thì phải “đi mượn”, “đi thuê”. Thật là thảm hại cho một con người “quyền hành” như thế. Hóa ra “quyền hành” của cậu cai chỉ là sự khoe khoang, cố làm ra vẻ bên ngoài để lòe đời bịp người mà thôi.

Nghệ thuật châm biếm của bài ca dao này thể hiện ở mấy điểm:

- Tác giả dân gian gọi anh cai lệ là “cậu cai” vừa như để lấy lòng, vừa như xếp anh vào hạng trai lơ để mỉa mai kín đáo.

- Cách định nghĩa về cậu cai ở hai dòng đầu, tác giả dân gian như bĩu môi mà nói rằng, đội nón lên rồi đeo nhẫn vào là thành cậu cai, chứ cai là cái thứ gì chứ.

- “Ba năm được một chuyến sai” là dùng nghệ thuật phóng đại. Ý nói chẳng mấy khi cậu cai mới được một “chuyến sai”. Và vì chẳng mấy khi cho nên áo quần quan có mây lần mặc, chẳng cần chuẩn bị làm gì, để rồi mỗi lúc cần thì “đi mượn” hoặc “đi thuê”. “Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê” cũng chính là sự phóng đại để tô điểm cho cái chẳng mấy khi trên.

 Loigiaihay.com

Các bài liên quan: - Những câu hát châm biếm

Soạn bài: Những câu hát châm biếm trang 51 SGK Ngữ Văn 7 Soạn bài: Những câu hát châm biếm trang 51 SGK Ngữ Văn 7

Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài ca dao này phê phán, châm biếm cái gì?

Xem chi tiết
Soạn bài Những câu hát châm biếm - Ngắn gọn nhất Soạn bài Những câu hát châm biếm - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 7 ngắn gọn tập 1 bài Những câu hát châm biếm. Câu 1: * Bài 1 giới thiệu về chú tôi là “người hay” nghĩa là giỏi, ham, thích, nghiện nhiều thứ:

Xem chi tiết
Luyện tập: Những câu hát châm biếm trang 53 SGK Ngữ văn 7 Luyện tập: Những câu hát châm biếm trang 53 SGK Ngữ văn 7

Những câu hát châm biếm nói trên có điểm gì giống truyện cười dân gian?

Xem chi tiết
Soạn bài Đại từ - Ngắn gọn nhất Soạn bài Đại từ - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 7 ngắn gọn tập 1Câu 1. Từ nó ở đoạn văn đầu chỉ “em tôi”. Từ nó ở đoạn 2, trỏ “con gà” của anh Bốn Linh. bài Đại từ.

Xem chi tiết
Cảm nhận về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. Cảm nhận về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh.

Bài thơ Cảnh khuya là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cực hay, là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác. Giữa chốn rừng Việt Bắc tràn ngập ánh trăng, lòng Bác luôn thao thức vì nỗi nước nhà. Đó là nét đẹp riêng của bài thơ, cảm hứng thiên nhiên nhiên chan hòa trong lòng yêu nước sâu sắc.

Xem chi tiết
Nhân ngày 20/11, em hãy kể lại kỉ niệm sâu sắc với thầy (cô) giáo cũ. Nhân ngày 20/11, em hãy kể lại kỉ niệm sâu sắc với thầy (cô) giáo cũ.

Cô là người mẹ thứ hai của tôi, như ngọn đèn soi sáng cho chúng tôi mỗi bước đi. Những bài học cô dạy như hành trang giúp tôi vững vàng bay vào đời và chắc rằng tôi sẽ không bao giờ quên được cô với những kỉ niệm ấy.

Xem chi tiết
Cảm nhận của em về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương Cảm nhận của em về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương

Hồ xuân Hương là một trong rất ít phụ nữ Việt Nam thời phong kiến có tác phẩm văn học lưu truyền cho đến ngày nay. Bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Cuộc đời của bà vẫn còn là một vấn đề đang được nghiên cứu. Bà thường mượn cảnh , mượn vật để nói lên thân phận người phụ nữ thời bấy giờ, bài thơ “Bánh trôi nước” là một trong số đó.

Xem chi tiết
Soạn bài Tiếng gà trưa - Ngắn gọn nhất Soạn bài Tiếng gà trưa - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 7 ngắn gọn tập 1 bài Tiếng gà trưa - Xuân Quỳnh. Câu 2: Những hình ảnh và kỉ niệm trong tuổi thơ đã được gợi lại từ tiếng gà trưa:

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 7 trên Tuyensinh247.com mọi lúc, mọi nơi với đầy đủ các môn: Toán, Văn, Anh, Lý, Sử, Sinh cùng các thầy cô giáo dạy giỏi, nổi tiếng.