Luyện tập về phương pháp luận trong văn nghị luận trang 32 SGK Ngữ văn 7

Bình chọn:
4.1 trên 117 phiếu

Ta thấy luận điểm ở văn nghị luận là những kết luận khái quát, có ý nghĩa phổ biến với xã hội. Còn kết luận trong đời sống chỉ là của”em” và chưa có nghĩa khái quát cao “học được nhiều điều”.

LẬP LUẬN TRONG ĐỜI SỐNG

1. Cả hai câu có phần A đầu là luận cứ:

a) Hôm nay trời mưa,

b) Em rất thích đọc sách,

c) Trời nóng quá,

- Ba phần sau là kết luận.

a) chúng ta không đi chơi công viên nữa.

b) qua sách em học được nhiều điều.

c) đi ăn kem.

- Mối quan hệ giữa luận cứ và kết luận là nhân quả.

- Vị trí của luận cứ và kết luận có thể thay đổi vị trí cho nhau.

- Chẳng hạn: Chúng ta không đi chơi nữa vì hôm nay trời mưa

Kết luận                              luận cứ

(kết quả của quyết định)       (nguyên nhân cụ thể)

2. Hãy bổ sung luận cứ cho những kết luận sau:

a)  Em rất yêu trường em vì có nhiều bạn bè và thầy cô tốt.

b)  Nói dối rất có hại bởi mọi nạười không tin mình nữa.

c)  Mệt quá, nghỉ một lát nghe nhạc thôi.

d)  Nhỏ tuổi cỏn nhiều khờ dại nên trẻ em cần biết nghe lời cha mẹ.

e)  Em đã đến nhiều vùng đất nước nên em rất thích đi tham quan.

3. Viết tiếp các luận cứ sau:

a)  Ngồi mãi ở nhà chán lắm, em rất thích được đi tham quan.

b)  Ngày mai đã thi rồi mà bài vở còn nhiều quá, phải tập trung học thôi.

c)  Nhiều bạn nói năng thật khó nghe, phải học ăn học nói lại mới được.

d)   Các bạn đã lớn rồi, làm anh làm chị chúng nó mình phải gương mẫu.

Cậu này ham bóng đá thật, chắc sẽ là cầu thủ giỏi.

LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

1. So sánh câu kết luận ở mục 1 và 2 ở Lập luận trong đời sổng với Lập luận trong văn nghị luận. Chẳng hạn:

Qua sách em học được nhiều điều, Sách là người bạn lớn của con người.

Ta thấy luận điểm ở văn nghị luận là những kết luận khái quát, có ý nghĩa phổ biến với xã hội. Còn kết luận trong đời sống chỉ là của”em” và chưa có nghĩa khái quát cao “học được nhiều điều”.

2. Xem lại phần “Luyện tập” trang 33 SGK.

3. Cả hai truyện đều có thể lập thành luận điểm.

Phải có sự tiếp cận đối tượng toàn diện và sâu sắc thì mới hiểu biết đó tượng đó.

Học sinh tự lập luận theo ba phần:

Mở bài; Thân bài và Kết bài.

Loigiaihay.com

>>Học trực tuyến lớp 7, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu

Các bài liên quan