Soạn bài Nói và nghe Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn


Đề tài: Bài học triết lí ở một câu truyện ngụ ngôn tự chọn.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Chuẩn bị nói

Video hướng dẫn giải

* Đề tài: Bài học triết lí ở một câu truyện ngụ ngôn tự chọn.

* Tìm ý và sắp xếp: Triển khai bài nói thành một số ý cụ thể:

- Truyện ngụ ngôn, thường có tính đả kích và châm biếm sâu sắc một tầng lớp trong xã hội, phê phán những đức tính của con người như keo kiệt, xu nịnh, huyênh hoang, tham lam, dẫn đến những hậu quả xấu.

- Đầu tiên, là bài học triết lí được thể hiện trong “Chân tay tai mắt miệng”. Câu chuyện muốn nói đến bài học về tình đoàn kết, đừng nghe ai xui dại mà làm bậy, thiệt hại đến bản thân.

- Thứ hai, là hình thức thể hiện bài học triết lí nhân sinh trong truyện ngụ ngôn nói chung và “Chân tay tai mắt miệng nói riêng”. Hình thức thể hiện những bài học triết lý chính là cơ sở, đặc điểm cơ bản để nhận diện ngụ ngôn với tục ngữ.

- Câu chuyện này có tầm ảnh hưởng đến đời sống hiện nay: Đem đến một bài học quý báu về cách sống đoàn kết.

Bài nói mẫu

1. Đặt vấn đề

     Ngụ ngôn, là một tiểu loại nằm trong loại hình văn học dân gian. Mỗi câu truyện ngụ ngôn được xây dựng, đều chứa đựng những triết lí sống giống như thể loại tục ngữ, nhưng nó lại được thể hiện ở hình thức khác biệt, mang đặc trưng độc đáo riêng mà chỉ ở ngụ ngôn mới có.

2. Giải quyết vấn đề

     Ngụ ngôn là loại truyện có ngụ ý đằng sau cốt truyện, được xây dựng nhằm mục đích nên lên bài học triết lí, bài học sống cho các thế hệ. Truyện ngụ ngôn, thường có tính đả kích và châm biếm sâu sắc một tầng lớp trong xã hội, phê phán những đức tính của con người như keo kiệt, xu nịnh, huyênh hoang, tham lam, dẫn đến những hậu quả xấu.

     Đầu tiên, là bài học triết lí được thể hiện trong Chân tay tai mắt miệng. Câu chuyện muốn nói đến bài học về tình đoàn kết, đừng nghe ai xui dại mà làm bậy, thiệt hại đến bản thân. Trong một tập thể sống, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải nương tựa, gắn bó vào nhau cùng tồn tại, phải biết hợp tác và tôn trọng công sức của nhau. Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai trong câu chuyện, ai cũng cho là mình có nhiều công lao, vất vả. Từ đó, họ xúm lại chê trách lão Miệng chỉ ăn mà không làm. Trước kia, họ vẫn dựa vào nhau mà cùng tồn tại. Nhưng cô Mắt đã khởi xướng một cuộc tẩy chay,  kêu gọi cậu Chân, cậu Tay “Nay chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không”. Và, cậu Chân cậu tay cũng nghe theo cô Mắt, kéo theo cả bác Tai đến nhà lão Miệng. Họ hùng hùng hổ hổ, hăm hở đến nói thẳng với Miệng, “Từ nay chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay chúng tôi cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi”… “Xưa nay, chúng tôi có biết cái gì ngọt bùi ngon lành mà làm cho cực!”.

     Chân, Tay, Tai, Mắt đã xúm lại, cùng nhau chê trách lão Miệng, chỉ ăn mà không làm, để rồi nhận lấy hậu quả thích đáng. “Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày, cả bọn thấy mệt mõi rã rời”. Cậu Chân, cậu Tay thì “không còn muốn cất mình lên chạy nhảy”, cô Mắt “ngày cũng như đêm lúc nào cũng lờ đờ”, bác Tai “ bỗng thấy lúc nào cũng ù ù như xay lúa ở trong”. Tất cả mọi người đều phải chịu sự mệt mỏi. Bác Tai đã nhận ra sai lầm, giải thích với mọi người, cùng nhau đến xin lỗi Miệng. Lão Miệng cũng không khấm khá hơn, “cũng nhợt nhạt cả môi, hai hàm thì khô như rang, không buồn nhếch mép”. Khi cậu Chân và Tay đi tìm thức ăn cho lão, lão dần tỉnh lại, và tất cả cũng đều cảm thấy đỡ mệt nhọc. Từ đó, họ bảo nhau “thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai”. Họ đã nhận ra cái sai lầm của mình, và biết sửa chữa sai lầm kịp lúc.

     Cũng giống như các bộ phận được nhân hóa sinh động này, con người chúng ta cũng không thể tách mình sống riêng biệt mà tồn tại được. Mỗi người, như một bộ phận trong một cỗ máy hoàn chỉnh, nên dù thiếu bất cứ bộ phận nào dù là nhỏ nhất, cũng đều có hại. Thay vì ganh tị, chia rẻ mọi người, chúng ta cần thay đổi suy nghĩ ngay từ bên trong, tập sống có ích, sống vì mọi người, vì tập thể. Và, cũng đừng học theo thói a dua, nghe lời dèm pha từ một phía mà không suy xét, đưa ra hành động đúng đắn, nếu không sẽ nhận được hậu quả thích đáng.

     Thứ hai, là hình thức thể hiện bài học triết lí nhân sinh trong truyện ngụ ngôn nói chung và Chân tay tai mắt miệng nói riêng. Hình thức thể hiện những bài học triết lý chính là cơ sở, đặc điểm cơ bản để nhận diện ngụ ngôn với tục ngữ. Ngụ ngôn thể hiện bài học triết lí dưới hai hình thức, trực tiếp ở nhan đề, lời thoại nhân vật, hoặc gián tiếp qua hành động nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và phương pháp nghệ thuật đặc trưng trong truyện để người thưởng thức tự đúc kết. Ở câu chuyện này, hình thức thể hiện bài học triết lý là gián tiếp, người đọc phải tự đúc kết, tự rút ra qua những hình tượng nhân vật, qua cốt truyện,qua ngôn ngữ, qua nghệ thuật thể hiện.

     Nhân vật ngụ ngôn, thường là những nhân vật hư cấu tưởng tượng từ đặc tính của loài hay từ tính cách của một hạng người. Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, được nhân hóa từ những bộ phận trên cơ thể người, nhưng lại có sự liên hệ với đặc điểm, tính cách của một loại người trong xã hội, Đó là loại người hay ganh tị, so bì, hay a dua, hùa theo người khác mà chưa biết đúng sai.

     Cốt truyện ngụ ngôn, thường ngắn gọn và rất hàm súc. Xoay quanh những nhân vật hư cấu, xoay quanh hoàn cảnh, tình huống truyện, người ta rút ra được những ý nghĩa. Cốt truyện của thể loại ngụ ngôn thường là cốt truyện ẩn dụ, chứa đựng những bài học sâu sắc. Sự đình công của Chân, Tay, Tai, Mắt, là ẩn dụ cho sự mất đoàn kết trong xã hội và hậu quả mà họ nhận được, tất cả đều bị ảnh hưởng nặng cũng chính là sự ẩn dụ cho tinh thần đoàn kết bị chia rẽ.

     Ngôn ngữ trong truyện ngụ ngôn cũng rất hàm súc và ngắn gọn. Với sự kết hợp lối cảm nghĩ ngây thơ hồn nhiên của trẻ em và lối nhìn nhận sâu sắc của người lớn, truyện ngụ ngôn vừa gần gũi, nhưng cũng có gì đó xa lạ khiến người ta phải suy ngẫm. Ẩn dưới lớp vỏ ngôn từ, dưới những hình ảnh sinh động, chính là những bài học, kinh nghiệm sống triết lí mà nhân dân đúc kết qua bao thế hệ.

     Và nghệ thuật đặc sắc trong ngụ ngôn, chính là phương pháp tỉ dụ. Tỉ dụ là phương pháp đặc trưng và quan trọng nhất trong sáng tác ngụ ngôn. Thiếu tỉ dụ, câu truyện ngụ ngôn sẽ không hình thành và tồn tại, mà chỉ là những câu chuyện cười vô nghĩa. Tỉ dụ khiến ngụ ngôn trở nên sinh động và sâu sắc hơn. Nhưng tỉ dụ trong ngụ ngôn cũng cần phổ biến, dễ hiểu và thông dụng. Chân, tay, tai, mắt, miệng, là những bộ phận gắn kết trên cơ thể người và không thể tách rời. Người ta chú ý đến mối quan hệ khăng khít này, vì thế mà ngụ ngôn “Chân tay tai mắt miệng”, thường được dùng để nói về bài học đoàn kết trong xã hội.

3. Kết luận

     Điều làm nên đặc sắc và riêng biệt của ngụ ngôn, chính là nhờ tính triết lí và biểu hiện của tính triết lí độc đáo, mang màu sắc rất riêng khác với tục ngữ hay truyện cười. Và, mỗi câu truyện ngụ ngôn trong kho tàng văn học, chính là một bài học khác nhau, một triết lí sống khác nhau để chúng ta tìm hiểu và khám phá mỗi ngày.

Chuẩn bị nghe

Video hướng dẫn giải

Một số lưu ý khi nghe người khác nói:

- Trong lúc lắng nghe nên chú ý lắng nghe ghi chép, không nên làm việc riêng.

- Nhận xét về giọng điều, cách thể hiện bài nói của người khác

- Đưa ra câu hỏi, thắc mắc của bản thân về vấn đề.

Thảo luận

Học sinh tự thực hành.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, lịch sử vương quốc Champa đã thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, công bố thành sách, tạp chí. Sau năm 1975, xuất hiện các tác giả Việt Nam, không dừng lại ở việc tìm tòi, bổ sung thêm tư liệu mà còn khám phá ra cái mới như lắp vào khoảng thiếu sót của các nhà nghiên cứu tiên phong chưa làm được. Những công trình về sau đã đi vào từng mảng, lĩnh vực thuộc đời sống, văn hóa, xã hội, lễ hội đến sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo.

Trước hết, là những ghi chép về Champa trong lịch sử Trung Quốc được tìm thấy trong bộ sử Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống sử… Các nhà nghiên cứu đều dựa vào những nguồn sử liệu này để dựng lại lịch sử Lâm Ấp - Hoàn Vương - Chiêm Thành. Những tư liệu của Trung Quốc viết về phong tục tập quán của người Chăm xưa không có tính hệ thống, rời rạc và sơ sài, nhiều khi thiếu chính xác. Kế đến là những nghiên cứu, khảo sát thực địa của người Pháp. Tư liệu cổ nhất của người Châu Âu viết về người Chăm có lẽ là của một người gốc Italia tên là Marco Polo. Ông làm quan dưới triều đại Mông - Nguyên của Hốt Tất Liệt. Năm 1298, sau một lần được cử đi làm sứ giả ở một số nước Đông Nam Á, trong đó có Champa, ông đã ghi chép khá tỉ mỉ về người Chăm và đời sống của họ trong cuốn Lelivre de Marco Polo (cuốn sách của Marco Polo) (Phan Quốc Anh, 2006, tr.18). Vào thế kỉ XIV, một số linh mục đi truyền giáo đã đến Champa. Linh mục Odoric de Pordennone có ghi chép về phong tục, tập quán của người Chăm trong cuốn sách Những cuộc viễn du sang châu Á xuất bản tại Paris.

Những tư liệu lịch sử của Việt Nam liên quan đến Chiêm Thành có thể tìm thấy trong Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư và một số sử liệu của các triều đại Việt Nam từ Lý - Trần đến triều Nguyễn. Nhưng những sử liệu nói trên chủ yếu nói về việc triều cống, giao tranh, hòa hiếu  (Phan Quốc Anh, 2006, tr.18). Mặc dù vậy, đó là những ghi chép thành văn chính thống rất quan trọng để đối chiếu với ghi chép trên văn bia của Champa. Trần Quốc Vượng chủ biên cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (2008) đã dành một phần nói về không gian vùng văn hóa Trung Bộ, chủ yếu đề cập về không gian văn hóa Chăm ở khu vực này. Cuối cùng, là Trương Sỹ Hùng với tác phẩm Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam Á (2010), phân tích yếu tố Ấn Độ giáo và Hồi giáo trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo Chăm. Từ đó, làm nổi bật lên đặc điểm, vai trò trong sáng tác văn chương của người Chăm  trong tác phẩm Deva Mưnô, Inra Patra, Ariya Cam - Bini,… Trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam (2004) tác giả Huỳnh Công Bá đã dành hai chương để trình bày về quá trình giành độc lập của Champa, phân tích những đặc điểm cơ bản về thể chế chính trị, đời sống văn hóa, xã hội. Đặc biệt nhấn mạnh vào quá trình hội nhập của người Chăm vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, Phan Thành Long chủ biên công trình Lí luận giáo dục (2010), nội dung chính của cuốn sách trình bày về quá trình giáo dục, nguyên tắc giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Đây là vấn đề có tính chất lí luận mà khi nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục không thể bỏ qua.

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa được xuất bản thành sách, báo và tạp chí rất đa dạng và phong phú, được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu  nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau. Nhưng chưa có công trình khảo cứu nào đề cập đến vấn đề giáo dục của người Chăm trong lịch sử  mang tính chất hệ thống và đầy đủ. Ngay cả, hình thức học tập và sinh hoạt nội trú của học sinh người Chăm nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung hiện nay cũng chưa có sự quan tâm, chú ý nhiều từ các nhà  khoa học và các nhà quản lý giáo dục. Việc tổng luận các công trình nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam chưa phải là bảng thống kê đầy đủ các tác giả cũng như tác phẩm, mà chỉ phản ánh một phần giúp độc giả có cái nhìn tổng quát những hiểu biết về văn hóa Chăm.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Kiến trúc kinh thành, cố đô phong kiến Việt Nam vừa mang ảnh hưởng chung của văn hóa kiến trúc Trung Hoa vừa thể hiện nét độc đáo và truyền thống lâu đời của người Việt. Hoàng thành Thăng Long là một biểu tượng lịch sử quan trọng, trải qua nhiều biến cố của lịch sử nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hóa, kiến trúc đặc sắc. Vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư đến Đại La, khởi dựng kinh thành Thăng Long và xây dựng hàng loạt cung điện, lăng tẩm, nổi bật là Điện Kính Thiên với hai tầng, rộng hơn 2.300 mét vuông. Trong thời Hậu Lê, kinh thành vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng, tuy không xây dựng thêm nhiều chùa tháp nhưng các phủ đệ của quan lại và quý tộc được xây dựng, tạo nên hình ảnh Thăng Long quyền uy, thâm nghiêm.

Kinh thành Thăng Long tọa lạc ở phía Bắc Việt Nam, qua các triều đại diện tích thay đổi nhưng cấu trúc ba vòng thành vẫn được giữ: vòng ngoài là La thành hay Đại La, vòng giữa là Hoàng thành (Thăng Long thành / Hoàng thành), vòng trong là Cấm thành hay Cung thành. Trong Cấm thành, nền điện Kính Thiên xây dựng thời Lê sơ (1428) trên nền điện Càn Nguyên thời Lý – Trần vẫn được bảo tồn, cùng cửa Đoan Môn – cửa Nam của Cấm thành thời Lý – Trần – Lê, là những vật chuẩn quan trọng thể hiện tâm linh, phong thủy cổ truyền. Hiện nay, trên trục Bắc – Nam của trung tâm thành cổ còn lại năm điểm di tích nổi bật gồm Kỳ Đài, Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn, kết hợp với tường bao, cổng hành cung thời Nguyễn và các công trình kiến trúc Pháp.

Qua các ghi chép của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu trong Đại Việt địa dư chí toàn biên, Hoàng thành Thăng Long thời Lê gồm Cung thành, Đoan Môn, điện Thị Triều, điện Kính Thiên, các điện Chí Kính, Vạn Thọ, Tây – Đông Trường An và Ngọc Giản, thể hiện rõ quy mô, trật tự và giá trị thẩm mỹ của kiến trúc cung đình. Hoàng thành không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là không gian văn hóa, tín ngưỡng và tâm linh quan trọng của triều đại phong kiến. Trong những năm gần đây, các tour du lịch văn hóa như “Giải mã Hoàng thành Thăng Long” được tổ chức nhằm giới thiệu di tích đến thế hệ trẻ và bạn bè quốc tế, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, chiến tranh và thời kỳ thuộc địa, Hoàng thành Thăng Long vẫn đứng vững như một minh chứng trường tồn của lịch sử, là biểu tượng của thời kỳ hưng thịnh và vẻ đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. TTXVN (2010), Thăng Long thời Lê, thời Mạc-Lê, Trung Hưng (1428-1788), Ban Tuyên giáo Trung ương.
  2. Sở Du lịch Hà Nội (2020), Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Cổng thông tin điện tử Quận Ba Đình – Hà Nội.
  3. Quang Dương (2018), Hoàng thành Thăng Long – Dấu ấn văn hóa, kiến trúc độc đáo, Báo Xây dựng.

Môi trường sinh thái là một hệ thống hữu cơ, có mối liên hệ chặt chẽ giữa đất, nước, không khí và các sinh vật, trong đó con người vừa là thành phần vừa là tác nhân ảnh hưởng. Qua quá trình lao động và khai thác thiên nhiên, con người đã tạo ra những tác động tiêu cực, làm rối loạn cân bằng sinh thái, dẫn đến tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng. Hiện nay, trái đất với gần 8 tỷ người đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ các hiện tượng này, điển hình như nạn phá rừng, cháy rừng, nóng lên toàn cầu, băng tan, nước biển dâng và ô nhiễm không khí, nguồn nước.

Rừng Amazon tại Brazil, được coi là “lá phổi xanh” của trái đất, trong vòng 12 tháng năm 2020 đã bị phá hơn 11.000 km², trong khi cháy rừng tại Australia năm vừa qua đã phát thải tới 369 triệu tấn CO2. Nhiệt độ trung bình toàn cầu dự kiến tăng trên 1,5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp, gây ra các đợt nắng nóng tại nhiều quốc gia, trong đó có Ấn Độ và miền Trung Việt Nam. Băng tại Greenland và Nam Cực tan nhanh, làm mực nước biển dâng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Suy thoái tầng Ozon, ô nhiễm không khí, nước sạch và các hệ sinh thái tự nhiên đang trở thành mối nguy cấp bách toàn cầu.

Vấn đề môi trường không còn là bài toán riêng của một quốc gia mà mang tính toàn cầu. Từ Hội nghị Môi trường Thế giới tại Stockholm (1972) đến Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững (2015), các nước đã nhận thức rõ cần hợp tác bảo vệ môi trường. Khái niệm phát triển xanh, tăng trưởng xanh được nhấn mạnh, hướng tới sản xuất và tiêu dùng thân thiện với môi trường, sử dụng tài nguyên hợp lý, đồng thời gắn kết phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Việc phát triển bền vững dựa trên công nghệ hiện đại, nền kinh tế tri thức và giáo dục dân trí cao là điều kiện cần thiết để bảo vệ hành tinh cho các thế hệ tương lai.

Tài liệu tham khảo:

  1. Viện nghiên cứu vũ trụ quốc gia Brazil (INPE) (2021), Báo cáo phá rừng Amazon.
  2. Tổ chức Khí tượng Thế giới (2022), Báo cáo nhiệt độ trung bình toàn cầu 2020 – 2024.
  3. Liên Hợp Quốc (2015), Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Kết nối tri thức - Xem ngay

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...