Soạn bài Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn


Vấn đề (câu hỏi) nghiên cứu của tác giả trong bài viết là gì?

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1

Video hướng dẫn giải

Vấn đề (câu hỏi) nghiên cứu của tác giả trong bài viết là gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, dựa vào tiêu đề các nội dung và đối tượng chính để xác định vấn đề nghiên cứu của tác giả.

Lời giải chi tiết:

     Vấn đề nghiên cứu của tác giả trong bài viết là dấu ấn của sử thi Ấn Độ Ra-ma-ya-na trong văn hóa Việt Nam.

Câu 2

Video hướng dẫn giải

Để triển khai bài viết, tác giả đã sử dụng những luận điểm chính nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản và chú ý tới các mục, các ý chính được triển khai để rút ra các luận điểm chính.

Lời giải chi tiết:

Những luận điểm chính được tác giả sử dụng để triển khai bài viết là:

- Dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong văn học dân gian và văn học viết thời trung đại

  + Sử thi Tewa Mưno được xem là phiên bản bản địa của Ra-ma-ya-na

  + Dạ thoa vương, truyện truyền kì ra đời dưới thời nhà Trần là một phiên bản tóm lược của sử thi này

- Dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong nghệ thuật điêu khắc

- Dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong văn hóa đương đại

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Tác giả đã sử dụng những loại bằng chứng nào để làm sáng tỏ các luận điểm chính?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ các luận điểm chính và tìm ra bằng chứng của nó trong văn bản.

Lời giải chi tiết:

Để làm sáng tỏ các luận điểm chính của mình, tác giả đã đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng minh, có những loại bằng chứng chính sau:

- Bằng chứng liên quan đến những đặc trưng của thể loại sử thi: “Trong sử thi của người Chăm… nhân vật”

- Bằng chứng liên quan đến văn hóa của dân tộc tiếp nhận dấu ấn (Chăm): “Trong văn hóa cộng đồng của Việt Nam… đậm nét nhất”

- Bằng chứng liên quan đến vật thể: “Tại bảo tàng điêu khắc… sử thi Ấn Độ”

Thực hành viết

Video hướng dẫn giải

Sau khi đọc và tìm hiểu về đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời và những hiểu biết của mình về thể loại sử thi, viết báo cáo nghiên cứu về hình thức biểu diễn sử thi trong đời sống những người dân Ê đê hiện nay

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ đề bài để tìm ra vấn đề.

- Tìm hiểu thông tin, tư liệu liên quan để triển khai báo cáo.

- Tìm và sắp xếp luận điểm trong bài báo cáo hợp lý và mạch lạc.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

1. Đặt vấn đề

     Sử thi Ê đê ra đời trong điều kiện xã hội loài người có những biến động lớn về những cuộc di cư lịch sử, đặc biệt là những cuộc chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc để giành đất sống ở vùng rừng núi Tây Nguyên.

2. Giải quyết vấn đề

a) Khái quát về đồng bào Ê đê và sử thi Ê đê.

     Đồng bào dân tộc Ê đê xếp thứ 12 trong cộng đồng 54 dân tộc anh em tại Việt Nam. Ước tính có hơn 331.000 người Ê đê cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Đắk Lắk, phía Nam của tỉnh Gia Lai và miền Tây của hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên của Việt Nam. Người Êđê gọi sử thi là klei khan. Klei nghĩa là lời, bài; khan nghĩa là hát kể. Hát kể klei khan không phải là hát kể thông thường mà bao gồm ý nghĩa ngợi ca. Thực chất đây là một hình thức kể chuyện tổng hợp được thông qua hát kể.

     Các tác phẩm sử thi đều phản ánh quan niệm về vũ trụ với thế giới thần linh có ba tầng rõ rệt: tầng trời, tầng mặt đất và tầng dưới mặt đất - thế giới mà con người và thần linh gần gũi với nhau; phản ánh xã hội cổ đại của người Ê đê, cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng bình đẳng, giàu có; phản ánh quyền lực gia đình mẫu hệ, đề cao vai trò của người phụ nữ trong quản lý và bảo vệ hạnh phúc gia đình.

3. Hình thức hát kể sử thi

     Hát kể sử thi là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đã có từ lâu đời của cộng đồng người Ê đê, được tồn tại bằng hình thức truyền miệng từ đời này qua đời khác.Nội dung của hát kể sử thi chủ yếu ca ngợi các anh hùng dân tộc, tôn vinh những người có công tạo lập buôn làng, những người anh hùng có công bảo vệ cộng đồng thoát khỏi sự diệt vong, áp bức và sự xâm chiếm của các thế lực khác; đề cao sự sáng tạo, mưu trí tài giỏi, tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn, nêu cao chính nghĩa, phản kháng những điều trái với đạo lý, luật tục; ca ngợi cái đẹp về sức mạnh hình thể lẫn tâm hồn, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, mong muốn chinh phục thiên nhiên để cuộc sống tốt đẹp hơn; miêu tả cuộc sống sinh hoạt, lao động bình thường giản dị của buôn làng…

     Ngôn ngữ hát kể của sử thi Êđê là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời và nhạc. Về phần lời, sử thi Ê đê đều thể hiện một hình thức ngôn ngữ đặc biệt là lời nói vần (klei duê). Trong khi diễn xướng người nghệ nhân còn vận dụng các làn điệu dân ca của dân tộc mình, như: Ay ray, kưưt, mmuin… để tạo nên nhịp điệu vừa có chất thơ vừa có chất nhạc. Trong hình thức ngôn ngữ đó, các câu chữ như một móc xích nối các câu vần với nhau. Chính đây cũng là một yếu tố quan trọng khiến nghệ nhân có thể thuộc được cả những tác phẩm dài hàng vạn câu.

     Trong sử thi thường nhắc nhiều về những cánh rừng bạt ngàn, rõ nét nhất là cảnh buôn làng giàu có của các tù trưởng, những người hùng nổi tiếng khắp vùng như Đăm Săn, Khing Ju… Trong trí tưởng tượng của người kể, những cánh rừng đi săn bắn, nơi làm rẫy và bến nước đều ở hướng đông. Đây là hướng mỗi buổi sáng thức dậy và đi lên rẫy đều nhìn thấy mặt trời ló trên đỉnh núi, họ quan niệm đây là sự sống, sự sinh sôi, nẩy nở khi tiếp nhận ánh sáng của nữ thần mặt trời mỗi ngày. Ánh mặt trời là sự báo ứng của những điều tốt lành, là sự hy vọng trở thành hiện thực.

     Ví dụ như trong sử thi Khing Ju có đoạn kể: “Đến sáng hôm sau, khi mặt trời lên khỏi ngọn núi, Prong Mưng Dăng lấy nước trong bầu rửa mặt. Sau đó, vít cần rượu và tiếp tục uống. Càng uống nước trong ché càng đầy, có lúc nước tràn ra ngoài”. Đây là điều tốt lành báo ứng cho Prong Mưng Dăng dắt bà đỡ đẻ về gấp cho em gái mình H’Ling kịp sinh con, trong khi Prong Mưng Dăng đang mải mê tỏ tình với H’Bia Ling Pang.

4. Ảnh hưởng của sử thi đối với dân tộc Ê đê.

     Với bất cứ sử thi nào, khi một nhân vật đi tìm ai và hỏi người nào đó trong làng thì sẽ có câu trả lời khéo léo. Đó là: “Nhìn cột nhà sàn nó dài hơn nhà khác, có nhiều cái bành voi để ngoài hiên, cầu thang rộng bằng trải ba chiếc chiếu. Cầu thang rộng đến nỗi những chàng trai xuống một lúc năm, các cô gái thì xuống được ba người, con heo, con chó chạy đầy dưới sân”. Câu trả lời này làm cho người nghe tưởng tượng về ngôi nhà đó đẹp, dài, rộng hơn hẳn những ngôi nhà trong buôn mình. Riêng nội thất trong nhà, người kể luôn tạo ra những lời kể bằng ngôn từ tượng hình. Ví dụ: “Cột nhà trong chạm trổ rất đẹp, sàn nhà láng bóng. Gian trong cột bằng chỉ đỏ, gian ngoài cột bằng chỉ vàng”. Những hình ảnh gần như có thực với không gian hiện thực.

     Ví dụ: “Từ trong bành voi, Mtao Grư đạp lên đầu voi nhảy xuống sàn hiên, từ sàn hiên nhảy qua ngạch cửa, từ ghế Jhưng (ghế chủ nhà), nhảy đến chỗ ngồi đánh Jhar (chiêng lớn tiếng ngân vang), từ chỗ đánh Jhar đến chỗ đánh chiêng (ghế kpan), từ chỗ đánh chiêng nhảy đến chỗ đánh hgơr (trống cái)”. Hình ảnh này làm người nghe hình dung ra những hành động nhẹ nhàng, nhanh nhẹn của Mtao Grư đi vào qua các vị trí đặt chiêng, chỗ để của những vật dụng (như jhưng, kpan, thứ tự từ gian ngoài đi vào gian trong). Qua tình tiết của câu chuyện, người nghe đã hình dung đây là một nhà giàu có nhất trong buôn làng

     Tại không gian lễ hội bỏ mả của người Êđê M’Dhur, về khuya, sau khi mọi nghi lễ tạm dừng lại, thì nghệ nhân kể khan bắt đầu kể những bài khan nổi tiếng của dân tộc mình cho mọi người nghe. Đây là hình thức sinh hoạt kể sử thi vô cùng độc đáo. Bên đống lửa bập bùng tại không gian nhà mồ rộng lớn, nghệ nhân hát kể sử thi cho hàng nghìn người nghe. Dân làng, già trẻ gái trai và khách gần xa ngồi im lặng say sưa lắng nghe kể sử thi suốt đêm thâu cho đến khi con gà trống gáy vang núi rừng, báo hiệu ông mặt trời đã thức giấc thì nghệ nhân hát kể sử thi mới dừng câu chuyện lại để chuẩn bị cho các nghi lễ tiếp theo của lễ hội bỏ mả. Ở đây, lễ hội bỏ mả được tổ chức bao nhiêu ngày đêm, thì những người đến dự lễ được nghe kể sử thi bấy nhiêu đêm.

5. Kết luận.

Sử thi Ê đê, chính là một bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân và về những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho cộng đồng. Người dân Ê đê hát kể sử thi như một cách để bảo tồn và gìn giữ giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc đồng thời tuyên truyền nét đẹp này đến với nhiều đồng bào dân tộc khác.

6. Tài liệu tham khảo

GS.TS Nguyễn Xuân Kinh, Quá trình sưu tầm và nhận thức lí luận đối với sử thi ở Việt Nam, Viện nghiên cứu văn hoá.

Khan (sử thi) của người Ê Đê, Cục Di sản văn hoá.

Hoàng Hưng (2021), Ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Êđê, Văn hóa Việt Nam.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

1. Đặt vấn đề

Sử thi Ê đê ra đời từ lâu trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của vùng Tây Nguyên, khi các thị tộc, bộ lạc phải di cư, chiến đấu để bảo vệ đất sống, xây dựng cộng đồng. Sử thi trở thành hình thức văn hóa đặc sắc, vừa ghi lại lịch sử, vừa phản ánh đời sống tinh thần, tín ngưỡng và quan niệm về vũ trụ của người Ê đê. Qua đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, ta thấy rõ hình ảnh anh hùng trong sử thi và cách thức biểu diễn sử thi vừa có giá trị giáo dục, vừa giải trí, vừa khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Giải quyết vấn đề

a) Khái quát về đồng bào Ê đê và sử thi Ê đê

Người Ê đê là dân tộc lớn thứ 12 trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, với hơn 331.000 người sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa và Phú Yên. Người Ê đê gọi sử thi là klei khan, trong đó klei nghĩa là lời, bài, còn khan nghĩa là hát kể. Đây là một hình thức kể chuyện tổng hợp, vừa hát vừa kể, bao hàm ý nghĩa ngợi ca các anh hùng, thần linh và các giá trị xã hội.

Các sử thi phản ánh quan niệm về vũ trụ với ba tầng rõ rệt: tầng trời, tầng mặt đất và tầng dưới mặt đất, nơi con người và thần linh gần gũi. Đồng thời, sử thi ghi lại xã hội cổ đại của người Ê đê với tính bình đẳng, quyền lực mẫu hệ, đề cao vai trò của phụ nữ trong quản lý và bảo vệ hạnh phúc gia đình.

b) Hình thức biểu diễn sử thi

Hát kể sử thi là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian có từ lâu đời, được truyền miệng từ đời này qua đời khác. Nội dung sử thi tập trung ca ngợi các anh hùng dân tộc, những người có công bảo vệ cộng đồng, xây dựng buôn làng, đồng thời đề cao tinh thần đoàn kết, sáng tạo, mưu trí, phản kháng cái ác và tôn vinh cái đẹp cả về hình thể lẫn tâm hồn.

Ngôn ngữ của sử thi Ê đê kết hợp giữa lời và nhạc, sử dụng các làn điệu dân ca như ay ray, kưưt, mmuin, tạo nên nhịp điệu vừa có chất thơ vừa có chất nhạc. Lời kể thường là klei duê – lời nói vần – giúp người nghệ nhân ghi nhớ và thuộc lòng cả những tác phẩm dài hàng vạn câu.

Trong các tác phẩm sử thi, cảnh vật thiên nhiên như rừng núi, sông suối, buôn làng giàu có được miêu tả sống động, gần gũi với thực tế đời sống. Ví dụ, trong đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, ánh sáng mặt trời được xem là biểu tượng của sự sống, hy vọng và thành công, phản ánh quan niệm của người Ê đê về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.

c) Biểu diễn sử thi trong đời sống hiện nay

Ngày nay, sử thi Ê đê vẫn được lưu giữ và biểu diễn trong các lễ hội truyền thống, đặc biệt là lễ hội bỏ mả (M’Dhur). Sau khi các nghi lễ chính tạm dừng, nghệ nhân kể klei khan bắt đầu diễn xướng trước dân làng. Không gian diễn ra tại nhà mồ, bên đống lửa bập bùng, thu hút đông đảo già trẻ, gái trai và cả khách gần xa. Các nghệ nhân hát kể suốt đêm, từ khi trời tối đến khi gà trống gáy báo hiệu bình minh, tạo nên một không gian văn hóa sống động, nơi cộng đồng gắn kết, truyền đạt kiến thức và giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ.

Hình thức biểu diễn này không chỉ là nghệ thuật kể chuyện mà còn là phương tiện giáo dục, giúp thế hệ trẻ hiểu về lịch sử, văn hóa, quan niệm sống và những bài học về đạo lý, nhân cách, tinh thần cộng đồng.

3. Kết luận

Sử thi Ê đê là một bức tranh tổng thể về đời sống tinh thần, văn hóa và các anh hùng đại diện cho cộng đồng. Hình thức biểu diễn sử thi vừa là phương tiện bảo tồn giá trị văn hóa lâu đời, vừa truyền đạt những bài học đạo lý, tinh thần đoàn kết và ý nghĩa sống cho cộng đồng. Việc duy trì và phát triển hình thức hát kể sử thi trong đời sống hiện nay không chỉ góp phần bảo vệ bản sắc dân tộc mà còn gắn kết các thế hệ và giáo dục cộng đồng thông qua những giá trị truyền thống quý báu.

4. Tài liệu tham khảo

  1. GS.TS Nguyễn Xuân Kinh, Quá trình sưu tầm và nhận thức lí luận đối với sử thi ở Việt Nam, Viện nghiên cứu văn hóa.
  2. Khan (sử thi) của người Ê Đê, Cục Di sản văn hóa.
  3. Hoàng Hưng (2021), Ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Ê Đê, Văn hóa Việt Nam.

1. Đặt vấn đề:

Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất được sáng tạo bởi trí tưởng tượng phong phú, lãng mạn của đồng bào Ê-đê, là bức tranh phản ánh lịch sử văn hoá của đồng bào Tây Nguyên

2. Giải quyết vấn đề

a. Đặc điểm đời sống của người Ê-đê

- Nơi ở: Ngôi nhà là điểm nổi bật trong giá trị văn hóa vật chất của người Ê đê:

+ Ngôi nhà được miêu tả trong sử thi

+ Ngôi nhà trong sinh hoạt của người Ê-đê

- Ẩm thực: sự hòa trộn, tinh tế của thảo dược, gia vị và thực phẩm tươi sống với những phong cách nấu nướng đặc biệt

+ Ẩm thực trong sử thi

+ Ẩm thực trong phong tục tập quán đời thường

- Trang phục: dân tộc Ê Đê lại tạo được sức hút mạnh mẽ với những bộ y phục độc đáo và mới lạ.

+ Trang phục của các nhân vật trong sử thi

+ Trang phục của người Ê-đê trong sinh hoạt

- Phương tiện vận chuyển

+ Các phương tiện đi lại, vận chuyển trong sử thi

b. Đặc điểm văn hóa của người Ê-đê:

- Trang phục, nhà ở truyền thống

- Chế độ gia đinh, tôn giáo

- Các lễ hội, hoạt động văn hóa

3. Kết luận

Người Ê đê ở Đắk Lắc có đời sống vật chất và tinh thần rất đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của vùng đất Tây Nguyên, tạo nên nét khác biệt trong văn hóa so với các vùng văn hóa khác. Những nét văn hóa phong phú và đa dạng của người dân tộc Ê đê đã thực sự đóng góp những tri thức văn hóa lịch sử quý giá vào kho tàng văn học sử thi nói riêng và văn học Việt Nam nói chung 

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Bình chọn:
3.5 trên 4 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Kết nối tri thức - Xem ngay

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...