Soạn bài Nói và nghe Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn


Giới thiệu bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Chuẩn bị nói

* Đề tài: Giới thiệu bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử.

* Tìm ý và sắp xếp:

- Bài thơ là một bức tranh mùa xuân nơi thôn dã, tất cả đều đậm vẻ xuân, xuân trong cảnh vật và xuân trong lòng người.

- Dấu hiệu báo xuân sang: Làn nắng ửng; Khói mơ; Mái nhà tranh bên giàn thiên lý. → Thanh tĩnh, bình dị, duyên dáng mà đằm thắm yêu thương.

- Cảnh vật thôn quê đẫm hơi xuân: Làn mưa xuân tưới thêm sức sống; Cỏ cây xanh tươi” gợn tới trời”; Niềm vui của con người khi xuân đến.

- Ngôn ngữ kết tinh với tấm lòng hồn hậu của thi nhân, Hàn Mạc Tử đã viết nên một ” mùa xuân chín” vẹn tròn, đầy đặn, thiết tha.

Chuẩn bị nghe

Một số lưu ý khi nghe người khác nói:

- Chú ý lắng nghe, ghi chép;

- Đưa ra những câu hỏi cần giải đáp.

Thực hành nói và nghe

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

     Không biết mùa xuân có tự bao giờ và thơ xuân có tự bao giờ, chỉ biết người ta sinh ra đã có mùa xuân đẹp đầy sức sống và thổi vào các hồn thơ, sống trong cuộc đời, nếu thiếu đi mùa xuân, thiếu đi những câu thơ xuân thì thật buồn. Mùa xuân mỗi khoảnh khắc một vẻ, lúc là "mùa xuân nho nhỏ", lúc là "mùa xuân xanh"... và đây Mùa xuân chín nghe vừa mới, vừa sôi nổi, vừa có một sức sống dồn nén đang thầm nảy nở giống như cái mới, cái lãng mạn và khao khát trong tâm hồn Hàn Mặc Tử.

     Mỗi dòng thơ đều phảng phất hơi xuân, đều thấm đượm cái đẹp của tâm hồn thi sĩ. Mùa xuân bắt đầu từ cái nắng mới lạ thường:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

 Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang

     Mở đầu bài thơ cái cái nắng mùa xuân, chẳng phải tia nắng, hạt nắng, cũng chẳng phải giọt nắng mà là "làn nắng". Chữ "làn" như gợi một hơi thở nhẹ nhàng, nắng như mỏng tang, mềm mại trải đều trong thơ và trong không gian. Làn nắng lại "ửng" lên trong "khói mơ tan", cảnh sắc nhẹ nhàng, đẹp dân dã mà huyền diệu. Sương khói quyện với nắng; cái "ửng" của nắng được tôn lên trong làn khói mơ màng đang "tan" ấy. Trong câu thơ này, ngòi bút thi sĩ đã hướng đến một nét thơ truyền thống, cổ điển, miêu tả cái nắng xuân vừa như có hồn, vừa như có tình chan chứa.

     Khung cảnh ấy rất giản dị, chỉ có "đôi mái nhà tranh" hiện lên trong "làn nắng ửng" nhưng nó vẫn gợi lên một sức sống dân dã bình yên hết sức thân thuộc với mọi người. Nắng như đang rắc lên "đôi mái nhà tranh" chút sắc xuân và hương xuân: "Sột soạt gió trêu tà áo biếc". Cái âm thanh của gió "trêu" tà áo và cái gam màu "biếc" của lá, chính là cái tình xuân. Một chữ "trêu" đáng yêu quá, thân thương quá, như có gì đó mang hương sắc đồng quê từ những câu ca dao, hát ghẹo tình tứ thuở nào cứ ngân nga mãi trong lòng ta. Gió cũng biết kén chọn, không phải áo nào cũng "trêu", mà phải chọn áo biếc mới thật thơ, thật đẹp.

     Tác giả miêu tả từ cái cụ thể, từ làn nắng, từ mái nhà tranh, từ gió rồi mới đến cái khái quát: "Trên giàn thiên lý / Bóng xuân sang". Câu thơ có một sự ngưng đọng, ngập ngừng cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại mang nỗi vấn vương khi đón “bóng xuân sang". Cảm xúc ngưng tụ như nín thở ấy ẩn mình vào dấu chấm giữa dòng thơ. Bên giàn thiên lí, mùa xuân đã sang. Mùa xuân nhẹ nhàng bước đi như có thể cầm được, có thể ngắm được ngay trước mắt mỗi chúng ta. Mùa xuân hiện ra trong mắt Hàn Mặc Tử nó nhẹ nhàng, dịu dàng như thế đấy!

     Sau cái ngưng tụ và run rẩy như dây đàn căng lên trong tâm hồn nhà thơ thì ở những câu sau, mùa xuân lại ào đến:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,

 Bao cô thôn nữ hát trên đồi.

- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,

 Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi

     Hình ảnh ẩn dụ "sóng cỏ" và ba chữ "gợn tới trời" đã gợi tả làn cỏ xanh dập dờn trong làn gió xuân nhè nhẹ thổi. Cỏ như xanh mãi, tươi mãi trong không gian mênh mông, bao la ấy. Gam màu "xanh tươi" đầy sức sống yên bình trong thơ Hàn Mặc Tử cứ “gợn tới trời", nó trải dài mãi như không dứt, trải mãi, trải mãi và rồi ngâm vào hồn thơ. Trong sắc xuân ấy, cây cỏ cứ xanh mãi nhưng thứ tình cảm con người đã đến độ chín rồi. "Đám xuân xanh ấy" là hình ảnh ẩn dụ chỉ các cô thôn nữ đang hát, đang "thầm thì với ai ngồi dưới trúc" kia, sẽ chín cùng mùa xuân và sẽ "theo chồng bỏ cuộc chơi”. Những cô thôn nữ dần lớn, dần “chín” và đến độ tuổi lấy chồng, theo chồng. Thiên nhiên và lòng người như quyến luyến mùa xuân dần trôi qua, tuổi xuân hồn nhiên dần trôi qua. Hàn Mặc Tử như chợt thấy buồn, thấy hẫng hụt, bâng khuâng, như mất mát đi một cái gì trong lòng khi mùa xuân đang chín...

     Mùa xuân chỉ thực sự "chín" khi có con người và có dư âm tiếng hát:

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,

Hổn hển như lời của nước mây

Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,

Nghe ra ý vị và thơ ngây

     Tiếng hát giữa mùa xuân thân quen quá, yêu thương quá. Tiếng hát "vắt vẻo" và "thơ ngây" của những nàng xuân, của bao cô thôn nữ chính là một nét đẹp truyền thống của dân tộc, đẹp như ca dao, dân ca, như lễ hội mùa xuân muôn thuở của cái xứ sở này. Câu thơ gợi lên cái "chín" trong tâm hồn bao cô thôn nữ qua âm thanh “vắt vẻo", trong trẻo, tươi mát của câu hát giao duyên, của trai gái nơi đồng quê, mộc mạc mà tình tứ. Tâm hồn nhạy cảm, yêu cuộc sống thiết tha của thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đã bắt vào lời hát ấy nhiều xao xuyến. Hai câu thơ vừa tả cảnh vừa tả người, trong cái mùa xuân khi mà vạn vật nở hoa, xanh tươi thì con người đã đến tuổi chín rồi.

     Âm thanh đọng lại trong từng tiếng thơ, độ ngân rung, "vắt vẻo" hòa nhịp với âm trầm "hổn hển" thể hiện một sự chuyển đổi cảm giác rất tinh tế, tài tình. Tâm hồn thi sĩ đã hòa nhập hẳn vào cái thế giới âm thanh mùa xuân ấy. Tiếng ca như vút lên cao, như ngập ngừng, như lưu luyến giữa "lưng chừng núi". Dư âm tiếng hát dường như rung lên “vắt vẻo" gợi lên nhiều xao xuyến bâng khuâng trong lòng nhà thơ. Tiếng hát "hổn hển" được so sánh "với lời của nước mây", lời của thiên nhiên. Hai tiếng "hổn hển" như nhịp thở gấp gáp, vội vàng đầy hương xuân, tình xuân, cảm xúc vừa thực vừa mơ đến lạ kì. Lời hát của các cô thôn nữ sao mà đáng yêu thế, như hút hồn người, như tràn ngập cả không gian, góp phần làm nên một "mùa xuân chín". "Vắt vẻo”, "hổn hển", "thầm thì" là ba cung bậc của ba âm thanh mùa xuân đang chín, thấm sâu vào hồn người đến nhẹ nhàng lắng dịu, chan chứa thương yêu. Sự phong phú về giai điệu và phức điệu của khúc hát đồng quê, làm say mê mọi người, để rồi cùng nhà thơ bâng khuâng cảm nhận: "Nghe ra ý vị và thơ ngây...".

     Gặp lúc mùa xuân chín ấy mà thổn thức:

Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín

Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

- Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

     Hình ảnh của kí ức hiện lên một thoáng buồn đẹp và trải rộng mênh mông xa vắng. Nhà thơ nhớ đến con người như khao khát một tình người, một tình quê; mỗi một nỗi nhớ đều rất bâng khuâng, xao xuyến. Nhà thơ nhớ từng chi tiết, nhớ một công việc cụ thể: "gánh thóc" trong một không gian cụ thể: "Dọc bờ sông trắng nắng chang chang". Những chỉ có "chị ấy" là người đọc không thể biết đó là ai, chỉ có tác giả mới biết để mà "sực nhớ", mà thầm hỏi, mà man mác sợ "mùa xuân chín" ấy sẽ trôi qua. Hình như đó là nét thơ của Hàn Mặc Tử, là tâm hồn Hàn Mặc Tử luôn khao khát giao cảm với đời, luôn có một nỗi niềm cô đơn, trống vắng, hẫng hụt như thế.

      Mùa xuân chín là một bài thơ xuân rất hay, là một bức tranh xuân mới nhất, trong sáng, rạo rực, say mê, thơ mộng mà thoáng buồn nhất. Hàn Mặc Tử với cảm hứng thiên nhiên trữ tình, màu sắc cổ điển hài hòa kết hợp với chất dân dã, trẻ trung bình dị đã làm hiện lên một bức tranh xuân tươi tắn thơ mộng. Mùa xuân đẹp với con người trẻ trung, hồn nhiên, đáng yêu. Yêu mùa xuân chín cũng là yêu đồng quê, yêu làn nắng ửng, yêu mái nhà tranh, yêu giàn thiên lí, yêu tiếng hát vắt vẻo của những nàng xuân trên "sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc Việt Nam mà còn là một nhà văn, nhà thơ và nhà văn hóa lớn. Trong sự nghiệp văn học phong phú của Người, bài thơ Ngắm trăng trích từ Nhật kí trong tù là một tác phẩm nổi bật, thể hiện tâm hồn thi sĩ thanh cao và sâu sắc của Bác.

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh tù giam, gợi lên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn:

“Trong tù không rượu cũng không hoa”

Chỉ với một câu thơ, Bác đã vẽ nên bức tranh chân thực về đời sống nơi giam giữ: thiếu thốn vật chất, không rượu, không hoa, chỉ còn những côn trùng và mùi hôi khó chịu. Với tâm hồn thi sĩ, rượu và hoa là nguồn cảm hứng để sáng tác, vậy nên thiếu thốn ấy càng làm nổi bật nỗi cực hình về thể xác và tinh thần.

Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh gian khó, trái tim Bác vẫn rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên:

“Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”

Dưới ánh trăng đêm khuya, tâm hồn Bác vẫn xao xuyến trước cảnh sắc hữu tình. Dù thiếu thốn rượu hoa, Bác vẫn tìm thấy nguồn cảm xúc phong phú từ thiên nhiên, cho thấy sức mạnh tinh thần và tâm hồn thanh cao của Người.

Hai câu thơ tiếp theo:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

– Trăng được nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỷ, luôn đồng hành với Bác giữa chốn ngục tù tăm tối. Cấu trúc đăng đối giữa hai câu thơ tạo nên sự cân xứng hài hòa giữa người và trăng, giữa ý thơ, hình ảnh và nhịp điệu, đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ thân thiết giữa tâm hồn thi nhân và thiên nhiên.

Bài thơ giúp người đọc cảm nhận một khía cạnh khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh: bên cạnh trí tuệ, sự thông minh giúp dân tộc giành độc lập, Bác còn là một thi sĩ với tâm hồn bay bổng, hòa mình vào cảnh vật, tìm thấy vẻ đẹp trong hoàn cảnh éo le nhất. Dù thời gian đã trôi qua, Ngắm trăng vẫn giữ nguyên giá trị và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Trên đây là bài cảm nhận của em về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Ngắm trăng. Em xin cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe bài trình bày của em

Trong những ngày thu năm 766, nhà thơ Đỗ Phủ đã sáng tác bài thơ Thu hứng (Bài 1), là bài mở đầu trong chùm tám bài thất ngôn bát cú cùng tên. Đây là một tác phẩm tiêu biểu, không chỉ khắc họa bức tranh thiên nhiên mùa thu hiu hắt, ảm đạm mà còn phản ánh sinh hoạt của con người và bộc lộ nỗi nhớ quê hương sâu sắc của tác giả. Khi đọc bài thơ, người ta dễ dàng nhận thấy mạch cảm xúc của Đỗ Phủ đi từ khung cảnh thiên nhiên rộng lớn đến cảm nhận về đời sống con người, từ ngoại cảnh dẫn dắt vào nội tâm, tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa cảnh và tình.

Bốn câu thơ đầu tiên phác họa bức tranh thiên nhiên mùa thu tiêu điều, u ám. Không gian rộng lớn của rừng phong được bao phủ bởi làn sương trắng xóa, xa xa là núi Vu, kẽm Vu với những vách núi cao hiểm trở mờ mịt trong sương. Láy từ “hiu hắt” càng làm nổi bật sự lạnh lẽo, hoang sơ của thiên nhiên, khiến bức tranh mùa thu hiện lên vừa rộng lớn vừa ảm đạm. Hai câu thơ tiếp theo chuyển tầm nhìn của tác giả xuống dòng sông, nơi sóng cuộn dữ dội như muốn vây kín bầu trời, gió mây sà xuống mặt đất, làm không gian thêm âm u và dữ dội. Nhờ biện pháp miêu tả đối lập giữa sông và mây, núi và gió, cảnh vật trở nên sống động, hùng vĩ nhưng cũng đầy cô độc, phù hợp với tâm trạng phiêu bạt của nhà thơ.

Ở bốn câu cuối, Đỗ Phủ khéo léo bộc lộ nỗi nhớ quê hương da diết. Hình ảnh hai lần khóm cúc nở tượng trưng cho hai năm xa nhà, nhấn mạnh nỗi nhớ triền miên. Con thuyền lẻ loi như gợi lên sự phiêu bạt, cô đơn nơi đất khách, đồng thời ẩn chứa nỗi lòng trĩu nặng của tác giả trước những người thân, quê hương. Âm thanh sinh hoạt đời thường, như tiếng dao thước may áo rét hay tiếng chày nện vải dồn dập, không chỉ phản ánh nhịp sống bình dị mà còn làm nổi bật sự đối lập với cảnh thiên nhiên hiu hắt, qua đó làm sâu sắc thêm cảm giác nhớ thương quê hương. Cảnh vật và sinh hoạt đời thường được kết hợp hài hòa, tạo nên một tổng thể vừa thực vừa ẩn dụ, vừa cụ thể vừa tượng trưng cho nỗi nhớ, nỗi buồn của tác giả.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn từ hàm súc, giàu sức gợi, kết hợp phép đối, gieo vần và nhịp điệu tinh tế. Phép tả ít gợi nhiều khiến cảm xúc nỗi nhớ quê nhà được truyền tải một cách tinh tế, để lại dư âm sâu sắc cho người đọc. Sự kết hợp giữa cảnh vật thiên nhiên và cảm xúc con người tạo nên vẻ đẹp trầm mặc, vừa rộng lớn vừa chi tiết, vừa hùng vĩ vừa u hoài, thể hiện điển hình phong cách thơ Đỗ Phủ ở giai đoạn cuối đời.

Tóm lại, bài thơ Thu hứng không chỉ mở ra bức tranh thiên nhiên mùa thu hiu hắt và khung cảnh sinh hoạt đời thường mà còn bộc lộ nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ, qua đó thể hiện sự hòa quyện tinh tế giữa cảnh và tình. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu, cho thấy tài năng miêu tả cảnh sắc thiên nhiên và diễn tả nội tâm sâu sắc của Đỗ Phủ, đồng thời để lại ấn tượng bền lâu trong lòng người đọc.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Trao đổi

Học sinh tự thực hành, trao đổi bài.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Kết nối tri thức - Xem ngay

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...