Soạn bài Nói và nghe Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn>
Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh
Chuẩn bị nói
Đề tài: Đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Phương pháp giải:
Bài nói sẽ xoay quanh những giá trị của văn bản trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, có sự mở rộng và tương tác với người nghe.
Có thể sử dụng các từ ngữ then chốt như “Đây là lý do tác phẩm được yêu thích…”, “Có thể nói sức phản kháng mãnh liệt của người dân miền núi phía Bắc được thể hiện…”
Lời giải chi tiết:
Dàn ý chi tiết:
1. Giới thiệu về tác phẩm:
- Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn đặc sắc và tiêu biểu của Tô Hoài viết về đời sống của người dân miền núi phía Bắc
- Giá trị của truyện không chỉ ở nội dung thể hiện được cảnh sống khốn cùng của người dân miền núi bị áp bức, vùng lên phản kháng mãnh liệt mà còn ở những yếu tố nghệ thuật được sử dụng
2. Giá trị của truyện
a) Giá trị nội dung
* Giá trị hiện thực:
- Phản ánh chân thực số phận của người dân nghèo miền Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn cường quyền phong kiến tàn bạo.
- Thấy rõ sự tàn bạo, độc ác của kẻ thù mà tiêu biểu là cha con nhà thống lí Pá Tra. Chúng đã bóc lột, hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần người dân lao động nghèo, miền núi.
- Thông qua cuộc đời của Mị và A Phủ, Tô Hoài đã diễn tả thật sinh động quá trình thức tỉnh vươn lên tìm ánh sáng cách mạng của người dân nghèo Tây Bắc.
* Giá trị nhân đạo:
- Cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ cả về tinh thần và thể xác của những người lao động nghèo khổ như Mị, A Phủ.
- Phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp đáng quý ở Mị, A Phủ. Đó là vẻ đẹp khỏe khoắn, cần cù, yêu tự do và đặc biệt là sức sống tiềm tàng, mãnh liệt ở họ.
- Tố cáo ách thống trị phong kiến miền núi bạo tàn, lạc hậu đã chà đạp và bóc lột con người đến xương tủy.
- Hướng người lao động nghèo khổ đến con đường tươi sáng là tự giải phóng mình, tìm đến cách mạng và cầm súng chiến đấu chống lại kẻ thù.
b) Giá trị nghệ thuật
- Nghệ thuật miêu tả phong tục tập quán của Tô Hoài rất đặc sắc với những nét riêng (cảnh xử kiện, không khí lễ hội mùa xuân, những trò chơi dân gian, tục cướp vợ, cảnh cắt máu ăn thề...)
- Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên miền núi với những chi tiết, hình ảnh thấm đượm chất thơ.
- Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, sinh động, hấp dẫn. Truyện có kết cấu, bố cục chặt chẽ, hợp lý; dẫn dắt những tình tiết đan xen, kết hợp một cách khéo léo, tạo sức lôi cuốn.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng rất thành công. Mỗi nhân vật được sử dụng bút pháp khác nhau để khắc họa tính cách khác nhau trong khi họ có số phận giống nhau. Tác giả tả ngoại hình, tả tâm lý với dòng kí ức chập chờn, những suy nghĩ thầm lặng để khắc họa nỗi đau khổ và sức sống của Mị, còn A Phủ thì tả ngoại hình, hành động và những mẩu đối thoại ngắn để thấy tính cách giản đơn.
- Ngôn ngữ tinh tế mang đậm màu sắc miền núi. Giọng điệu trần thuật có sự pha trộn giữa giọng người kể với giọng nhân vật nên tạo ra chất trữ tình.
3. Kết luận
Có thể thấy Vợ chồng A Phủ đã trở thành tác phẩm tiêu biểu viết về người dân miền núi phía Bắc trong thời kỳ cách mạng của nhà văn Tô Hoài. Truyện đã thể hiện được cuộc sống khổ cực, bị đẩy đến đường cùng của người dân và cho thấy sức phản kháng mãnh liệt của họ bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật thành công, ngôn ngữ sinh động mang đậm màu sắc miền núi, hình ảnh giàu chất thơ.
Chuẩn bị nghe
Người nghe nên tìm hiểu trước về vấn đề mà người nói đưa ra
Nên tập trung lắng nghe, nắm bắt từ khóa
Nhận xét về nội dung bài nói và cả phong cách của người thuyết trình (giọng điệu, ngôn ngữ)
Có thể nêu câu hỏi sau khi người nói thuyết trình xong nếu có thắc mắc
Thực hành nói và nghe
Học sinh tự thực hành
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo 1:
“Thần Trụ Trời” là một tác phẩm dân gian truyền miệng của người Việt cổ, ra đời từ thời kỳ tối cổ và vẫn tồn tại đến ngày nay. Tác phẩm được nhà khảo cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, ghi lại trong “Lược khảo về thần thoại Việt Nam”. Qua câu chuyện này, người Việt cổ muốn lý giải nguồn gốc các hiện tượng thiên nhiên: vì sao có trời, có đất, vì sao trời với đất lại phân chia, vì sao mặt đất không bằng phẳng, lại có chỗ lõm chỗ lồi, vì sao có sông, núi, biển, đảo. Giống như nhiều dân tộc khác trên thế giới, người Việt cổ luôn muốn tìm hiểu và giải thích những gì xung quanh họ. Dù chưa có kiến thức khoa học hiện đại, họ vẫn không chịu bó tay, sáng tạo ra một vị thần khổng lồ để giải thích vũ trụ theo cách ngây thơ nhưng đầy hồn nhiên và đáng yêu. Độc giả ngày nay có thể cảm nhận được trong đó ước mơ, khát vọng và sự tò mò khám phá thế giới tự nhiên của người xưa.
Mọi chi tiết về Thần Trụ Trời đều gợi lên hình ảnh phi thường, thần bí. Truyện đã nhân cách hóa vũ trụ thành một vị thần sống động. Khi Thần Trụ Trời xuất hiện, hành động đầu tiên là “vươn vai đứng dậy, ngẩng cao đầu đội trời lên, giang chân đạp đất xuống…”, một cử chỉ mà nhiều thần thoại khai thiên lập địa trên thế giới đều có nét tương tự. Ví dụ, ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc cũng từng làm như vậy. Điểm khác biệt là sau khi xuất hiện trong cõi hỗn độn, Thần Trụ Trời đạp quả trứng vũ trụ tách đôi: nửa trên là trời, nửa dưới là đất, rồi tiếp tục nâng trời lên cao, hạ đất xuống thấp bằng sức mạnh biến hóa và lớn lên không ngừng của bản thân, chứ không dùng cột chống trời như một số thần thoại khác. Điều này vừa thể hiện nét tương đồng vừa thể hiện sự khác biệt trong cách khai thiên lập địa giữa Việt Nam và Trung Quốc, phản ánh đặc trưng văn hóa và tư duy riêng của mỗi dân tộc.
Từ những điều ban đầu tưởng chừng đơn giản, người Việt cổ, cũng như các dân tộc khác, không ngừng bổ sung và sáng tạo, làm phong phú thêm kho tàng văn học và nghệ thuật dân gian. Nhờ nghệ thuật phóng đại, các nhân vật thần thoại tồn tại bền bỉ qua thời gian, trở thành phần ký ức chung của dân tộc. Thần thoại đã hình thành cho người Việt nếp cảm, nếp nghĩ và lối tư duy tượng hình, phóng đại và khoáng đạt. Truyện “Thần Trụ Trời” vừa giúp chúng ta hiểu sự hình thành của trời, đất, sông, núi, đá… vừa thể hiện sức sáng tạo phong phú của người Việt cổ. Dù có nhiều yếu tố hoang đường, phóng đại, câu chuyện vẫn phản ánh cốt lõi sự thật: con người thời cổ đã khai khẩn, dựng xây và tạo lập đất nước.
Trên đây là bài phát biểu của mình về nghệ thuật và cảm nhận về Thần Trụ Trời. Mình xin cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe. Mình rất mong nhận được những nhận xét và góp ý từ mọi người để hoàn thiện hơn.
Xin chào các bạn, chào mừng các bạn đến với bài thuyết trình của nhóm 4. Ngay sau khi nhận được đề bài từ cô giáo nhóm mình đã cũng nhau trao đổi, thảo luận. Và hôm nay chúng mình xin phép trình bày bài thuyết trình: Giới thiệu đánh giá về nhân vật dì Mây trong truyện “Người ở bến sông Châu” của Sương Nguyệt Minh.
Như các bạn đã biết chiến tranh qua đi, để lại biết bao mất mát tổn thương. Đó không chỉ là những nỗi đau về vật chất mà còn là nỗi đau về tinh thần. Như vết cứa rất sâu vào trái tim của con người, đặc biệt là những người phụ nữ. Truyện ngắn Người ở bến sông Châu là một truyện ngắn như thế, thấm đượm giá trị nhân văn và tình yêu thương, ca ngợi con người mà đặc biệt là những người phụ nữ.
Khi từ chiến trường bom đạn chờ về. Dì Mây bị đạn phạt vào chân, phải đi tập tễnh, bằng chân giả. Tuy nhiên nỗi đau thể chất đó không thấm vào đâu khi ngày dì trở về cũng là ngày dì phải chứng kiến người đàn ông mình yêu thương, nghĩ tới nhiều nhất, người đàn ông mà dì viết tên hằng ngày vào cuốn nhật kí ở Trường Sơn đã đi lấy người phụ nữ khác. Thử hỏi làm sao dì có thể chịu đựng được cú sốc tinh thần dã man tới vậy, lòng người con gái giờ đây là sự hụt hẫng, bàng hoàng, trớ trêu và đầy tuyệt vọng. Nhưng trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó ta vẫn thấy được sự kiên cường, mạnh mẽ của dì Mây. Thái độ của dì rất cương quyết, thể hiện sự bản lĩnh kiên cường của người phụ nữ. Dì nhất quyết không đồng ý trước lời đề nghị “Mây, chúng ta sẽ làm lại” của chú San. Trước sự thể đã rồi dì nhận phần thiệt thòi về mình, dì chỉ muốn một người đàn bà khổ. Có thể thấy dù đau đớn, tuyệt vọng nhưng dì vẫn nén vào trong, dì là đại diện cho phẩm chất kiên cường của những người phụ nữ bước ra từ chiến tranh và bom đạn
Ở dì Mây còn nổi bật lên phẩm chất tốt bụng, vị tha và bao dung. Khi dì Mây nghe tin cô Thanh vợ chú San khó sinh cô Thanh đẻ thiếu tháng lại tràng hoa quấn cổ dì đã ngay lập tức giúp đỡ không hề suy nghĩa, đắn đo điều gì. Mặc dù ở vào hoàn cảnh của dì việc làm đó chẳng hề dễ dàng, nhưng dì vẫn không chút e ngại, chần chừ, suy nghĩ gì mà lập tức tới giúp đỡ cô Thanh vượt qua cơn nguy hiểm, để mẹ tròn con vuông.
Có thể thấy dì Mây hiện lên với rất nhiều những phẩm chất cao thượng, tốt đẹp, dì đại diện cho những người con gái Việt Nam sẵn sàng hi sinh thầm lặng, đánh đổi cả thanh xuân tuổi trẻ và hạnh phúc của cá nhân mình vì những điều lớn lao khác.
Trên đây là bài trình bày của nhóm mình cảm ơn cô giáo và các bạn đã lắng nghe. Rất mong nhận được những góp ý, nhận xét từ mọi người.
Xin chào các bạn, Cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta đã là ngọn lựa hun đúc nên biết bao thế hệ anh hùng, đồng thời cũng trở thành một trong những đề tài văn học, nghệ thuật hấp dẫn và nhiều cảm hứng nhất của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhân vật Dì Mây trong truyện ngắn “Người ở bến sông Châu” của nhà văn Sương Nguyệt Minh cũng là một trong những nhân vật bộc lộ được bản chất người lính đã trải qua cuộc chiến tranh, thấy được sự hy sinh mất mát, và nỗi đau khôn cùng của người phụ nữ Việt Nam.
Câu chuyện xoay quanh cuộc đời của một người phụ nữ đẹp nhưng lại có số phận đau thương, vây hãm cả đời. Dì đại diện cho một thế hệ thanh niên đã dâng hiến quãng đời thanh xuân tươi đẹp nhất cho cách mạng. Tuổi trẻ của dì là những ngày tháng lăn lộn trên khắp các nẻo đường Trường Sơn. Dì Mây có một mối tình đằm thắm, trong sáng với chú San, tuy nhiên lại rơi vào nghịch cảnh éo le: ngày cô trở về quê cũng là ngày người yêu – San đi lấy vợ vì tưởng cô hy sinh. Ngay đêm tân hôn, biết tin Mây còn sống quay về, San đã tìm gặp Mây. Anh xin cô được bỏ vợ để cả hai làm lại từ đầu. Mây khóc, từ chối vì cho rằng: “Một người phụ nữ đau khổ và lỡ dở đã là quá đủ”.
Ngoài nỗi buồn mất đi người mình yêu, dì Mây còn phải chịu những hậu quả do chiến tranh để lại. Từ một người con gái xinh đẹp trở thành một người tàn tật, vô cùng thương xót “Dì Mây bước tập tễnh, tóc Dì Mây rụng nhiều, xơ và thưa, dì có chân giả, chống nạng gỗ”. Tuy nhiên, không vì điều đó mà dì lại cảm thấy tủi thẹn, dì luôn luôn cảm thấy tự hào, vì đã dâng hiến quãng đời thanh xuân tươi đẹp cho cách mạng: “Dì Mây chắn cửa hầm che chở cho thương binh, …”. Bởi vậy, cuộc sống của dì Mây khi trở về quê hương cũng có sự thay đổi thay. Ai nấy trong gia đình đều cảm thấy thương dì, cuộc đời của dì thật đau xót. Những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng dì Mây đã cho thấy một hình ảnh người phụ nữ kiên cường, đầy nỗi bất hạnh vì chiến tranh. Cuộc chiến đã cướp đi tất cả: tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc và mài mòn dần những gì còn sót lại của dì khi trở về sau chiến tranh.
Càng éo le hơn khi truyện đẩy nhân vật dì Mây vào những tình huống vô cùng trớ trêu và đau khổ. Khi dì đứng trước sự lựa chọn về tinh yêu của mình, dì đã cam đảm đối mặt với nó, mặc dù buồn, vẫn còn thương chú San nhiều nhưng dì đã cương quyết dứt khoát với chú “Thôi! Thôi! Lỡ rồi! Đằng nào cũng chỉ một người đàn bà khổ. Anh về đi!”, “Sự thế đã thế, cố mà sống với nhau cho vuông tròn”. Chưa dừng lại ở đó, tác giả lại một lần nữa đẩy nhân vật vào tình huống mà khiến dì phải đấu tranh lí trí và cảm xúc của bản thân. Đó là khi vợ chú San - cô Thanh vượt cạn thiếu tháng và dì Mây đã cố gắng hết sức đỡ đẻ cho cô mặc kệ lời thím Ba can ngăn. Chi tiết dì khóc ngay sau khi đỡ đẻ thành công cho vợ chú San, đã để lại cho người đọc nhiều xúc động. Giá như không đi bộ đội, nếu không có chiến tranh, thì cũng không bị chiến tranh làm xa cách dì Mây cũng có thể hạnh phúc bên chú San. Qua đây, em thấy được hình tượng của một người phụ nữ dưới thời chiến, đó là một người xinh đẹp, gan dạ và đầy lòng nhân ái, vị tha. Người phụ nữ mặc dù trải qua những khó khăn, thử thách ở những tình huống nghịch cảnh, đau khổ nhưng vẫn quyết tâm đối mặt với nó, với số phẩn của bản thân.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh đã vô cùng thành công trong việc xây dựng nhân vật dì Mây, bởi nhờ có ông, mà chúng ta thấy được những góc khuất của chiến tranh, những câu chuyện buồn dưới thời chiến. Chưa bao giờ, trong văn học Việt Nam xuất hiện người phụ nữ trở về sau chiến tranh lại bi thương đến vậy. Từ đó, ta mới càng cảm thông hơn với những số phận của họ và thật biết ơn với những công lao của họ để chúng ta có được cuộc sống như ngày hôm nay.
Cảm ơn các bạn đã thắng nghe phần giới thiệu, đánh giá của tôi về nhân vật dì Mây trong truyện “Người ở bến Sông Châu”.
Trao đổi
Học sinh tự thực hành
- Soạn bài Củng cố, mở rộng trang 37 SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Tê - dê SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Thực hành tiếng việt trang 28 SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Chữ người tử tù SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Kết nối tri thức - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- Soạn bài thực hành đọc Cánh đồng SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Mãi mãi tuổi hai mươi SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Tính cách của cây SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Con khướu xổ lồng SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Bạch Đằng hải khẩu SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Cánh đồng SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Mãi mãi tuổi hai mươi SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Tính cách của cây SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Con khướu xổ lồng SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Bạch Đằng hải khẩu SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn





Danh sách bình luận